ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Vũ Thị Hồng Nguyệt
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN
LƯU TRỮ NƯỚC CẤP ĐẾN HÀM LƯỢNG
CÁC
HỢP CHẤT
NIT ĐIỂM BÙN THẢI CÔNG NGHIỆP
NGHIÊN
CỨU ĐẶC
KHAI THÁC, CHẾ BIẾN QUẶNG THIẾC VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, TÁI SỬ DỤNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2017
Hà Nội – 2017
1 – 2019
Hà Nội
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Vũ Thị Hồng Nguyệt
của PGS. TS Nguyễn Thị Hà, TS. Ngô Vân Anh và TS. Ngô Thị Lan Phương,
những người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ dẫn những định hướng nghiên cứu,
kiến thức chuyên môn và hơn hết là truyền cho tác giả lòng đam mê khoa học và
tinh thần tự giác trong học tập nghiên cứu. Tác giả xin chân thành bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ quý báu này với các thầy, những người đã hết lòng
giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tác giả học tập, nghiên cứu và hoàn thành
luận văn này.
Em xin cảm ơn để tài KC 08.18/16-20 “Nghiên cứu xây dựng mô hình công
nghệ khả thi quy mô pilot để xử lý bùn thải công nghiệp giàu kim loại nặng theo
hướng tận thu tài nguyên, tiết kiệm năng lượng” đã hỗ trợ trong quá trình thực hiện
khóa luận.
Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn tới các thầy, cô và tập thể cán bộ Khoa
Môi trường trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội đã đóng góp những ý kiến
chân thành, bổ ích để giúp tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới các học viên nơi tác giả học tập, đã
giúp đỡ và đóng góp ý kiến cho tác giả trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
để hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới những người thân yêu trong gia
đình, đã luôn ở bên cạnh và động viên tác giả cả về vật chất và tinh thần để tác giả
vững tâm hoàn thành luận văn của mình.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về tất cả sự giúp đỡ quý báu này!
Tác giả luận văn
4
MỤC LỤC
5
7
8
NOB
QCVN
TCVN
Tiếng Việt
Tiếng Anh
Bộ Tài nguyên và Môi trường
Bộ Y tế
Nhu cầu ôxy hoá học
Chemical oxigen demand
Oxi hòa tan
Dissolved Oxigen
Số lượng chắc chắn nhất có
Most probable number
thể
Vi khuẩn oxi hóa nitrit
Nitrite-oxidizing bacteria
Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia
Tiêu chuẩn Việt Nam
8
MỞ ĐẦU
2. Mục tiêu của đề tài
-
Đánh giá hiện trạng thải, đặc điểm bùn thải công nghiệp khai khoáng, chế biến
-
quặng thiếc.
Đề xuất một số giải pháp quản lý, công nghệ xử lý và tận dụng bùn thải công nghiệp
phù hợp, tiết kiệm năng lượng.
3. Nội dung nghiên cứu
-
Đánh giá hiện trạng bùn thải công nghiệp khái thác, chế biến quặng thiếc.
Phân tích các chỉ tiêu đặc trưng của bùn thải công nghiệp khai thác, chế biến quặng
thiếc: Độ ẩm, thành phần cấp hạt, Thành phần kim loại: Cu, Ni, Cr, Cd, Pb…Thành
-
phần hữu cơ, khoáng vật (nếu có) và nhiệt trị.
Đề xuất một số giải pháp quản lý, công nghệ xử lý và tận dụng bùn thải công nghiệp
phù hợp, tiết kiệm năng lượng.
10
Chương 1 - TỔNG QUAN
surful. Ngoài ra, người ta còn tìm thấy gần 40 khoáng vật khác nhau có chứa thiếc,
11
tuy nhiên các khoáng vật này ít phổ biến, và nếu có thì cũng không đủ hàm lượng
để khai thác công nghiệp. Hàm lượng thiếc tùy thuộc vào thành phần hóa học của
khoáng vật.
Hình 1. 1. Tinh thể cassiterit
Hình 1. 2. Tinh thể stannin
Bảng 1. 1. Bảng thống kê các khoáng vật chứa thiếc
Tên khoáng vật
Cassiterite
Oulankaite
Canfieldite
Kuramite
Ferrokesterite
Stannite
Kesterite
Cernyite
Velikite
Hocassiteritrtite
Pirtquitasite
Sakuraiite
Petrukite
Rhodostannite
Toyohaite
Stannoidite
Tỷ trọng
Độ cứng
6,4 – 7,1
10,27
6,28
4,56
6–7
3,5 – 4
2,5
5
4
3,5 – 4
4,5
4
4
4
4
4
4,5
4
4
4
4
4,5
3,5 – 4
4
22,48
2,8
25,00
41,83
40,28
18,29
20,52
25,50
13,67
13,93
12,62
7,47
Nekrasovite
Colusite
Stibiocolusite
Herzenbergite
Stistaite
Mohite
Tealbitlite
Surfulredaite
Potosiite
Levyclaudite
Franckeite
Cylindrite
Yuanjiangite
Ottemannite
Berndtite
Vurroite
SnSb
Cu2SnS3
PbSnS2
PbSnS3
Pb6Sn2FeSb2S14
Pb8Sn7Cu3(Bi,Sb)3S28
(Pb,Sn)6FeSn2Sb2S14
Pb3Sn4FeSb2S14
AuSn
Sn2S3
SnS2
Pb21SnAs11Bi11S50Cl8Se
4,62
4,2
5,5 – 5,9
5,4 – 5,42
11,7 – 11,9
4,835
4,5
4,5 – 5
3–4
4 – 4,5
2
3
4
1,5 – 2
2,5 – 3
Cu10Cu2+Fe2+Fe3+2Sn3S16
Cu6FeSn2S8
Cu6Fe2SnS8
Cu6SnMoS8
Cu6SnWS8
Cu10Fe4Sn(As,Sb)S16
Cu26V2(Sn,As,Sb)6S32
Cu12V(As,Sb,Sn,Ge)3S16
6,4 – 7,1
10,27
6,28
4,56
6–7
3,5 – 4
2,5
5
4
3,5 – 4
4,5
4
4
4
4
4
4,5
4
4
4
4,2
13
10,39
4,26
2,20
78,73
49,37
34,71
30,44
30,41
10,65
19,97
13,68
25,74
37,60
71,17
64,92
1,24
Hàm lượng thiếc
(%)
78,77
8,94
10,11
27,13
27,46
27,61
32,65
24,40
20,66
Vurroite
Cu13V(Sb,As,Sn)3S16
SnS
SnSb
Cu2SnS3
PbSnS2
PbSnS3
Pb6Sn2FeSb2S14
Pb8Sn7Cu3(Bi,Sb)3S28
(Pb,Sn)6FeSn2Sb2S14
Pb3Sn4FeSb2S14
AuSn
Sn2S3
SnS2
Pb21SnAs11Bi11S50Cl8Se
4 – 4,5
2
3
4
1,5 – 2
2,5 – 3
2,5
2,5 – 3
2,5
2,5
3,5 – 4
2
1–2
trong hệ thống tuần hoàn Mendeleev.
Thiếc kim loại có màu trắng bạc, kết tinh ở dạng tứ diện. Khối lượng nguyên tử
118,69. Trọng lượng riêng 7,3g/cm³. Nhiệt độ chảy 231,9ºC. Nhiệt độ sôi 2270ºC.
Thiếc thuộc kim loại khan hiếm.
Thiếc có hai dạng thụ hình là αSn và βSn. Ở nhiệt độ thường, thiếc tồn tại ở
dạng βSn, đó là một loại thiếc trắng mà mọi người đều biết. Ở nhiệt dộ dưới +13,2
ºC, αSn bền hơn, là một loại bột dạng tinh thể rất mịn có màu xám. Thiếc trắng
(βSn) biến thành thiếc xám (αSn) xảy ra rất nhanh ở nhiệt độ -33 ºC. Quá trình biến
hóa đó mang một cái tên hình tượng là “bệnh dịch hạch thiếc”.
Sn có trị số Clack 2,5.10-4%. Sn có 10 đồng vị với mức độ phổ biến %: Sn 112 0,96%; Sn114 - 0,66%; Sn115 - 0,35%; Sn116 - 14,3%; Sn117 - 7,61%; Sn118 - 24,04;
Sn119 - 8,58%; Sn120 - 32,85%; Sn122 - 4,72%; Sn124 - 5,94%.
Thiếc có tính bền hóa học cao, trong đá magma aXt cao hơn đá mafic. Ở nhiệt
độ dưới 100 ºC thiếc không bị oxy hóa, ở bề mặt bị phủ một lớp mỏng SnO 2. Thiếc
đẩy hydro rất chậm từ dung dịch pha loãng H 2SO4 và HCl, tan nhanh trong H2SO4
nóng đậm đặc và kiềm đậm đặc, tan trong HNO 3 ngay cả trong dung dịch nóng và
nguội. Trong các hợp chất, thiếc có hóa trị Sn 4+ và Sn2+. Trong điều kiện nội sinh,
thiếc di chuyển được nhờ có F và B liên quan với hoạt động magma aXt.
14
Thiếc là nguyên tố linh động, dễ di chuyển vì bản chất hai mặt, vừa là ion
dương trong muối đơn và phức, vừa là ion âm trong stanat và sulfostanat, nên dung
dịch chứa thiếc có thể di chuyển đi xa lên phần trên của vỏ Trái đất. Có lẽ vì thế mà
khoáng hoá thiếc liên quan với magma aXt có thể đi lên phần cao nhất của vỏ Trái
đất, tồn tại trong vỏ sial, hoặc đến phần nóc của thể magma liên quan với chúng. Ở
dưới sâu bên dưới vỏ sial, các đá magma nghèo hoặc không có thiếc.
Thiếc là nguyên tố lưỡng tính, vừa có tính ưa đá vừa có tính ưa đồng. Kích
thước bán kính ion Sn4+ (0,074µm) gần với kích thước bán kính ion Nb 5+, Ta5+, và
Ti4+ nên thường tạo thành những hỗn hợp đồng hình trong các titanat và tatalo –
niobat cũng như dưới dạng hỗn hợp đồng hình của thiếc trong quặng xám (đến
này yêu cầu hơn 50% tổng lượng thiếc, trong đó một nửa hàng để sản xuất hợp
kim hàn. Một số lượng thiếc dùng ở dạng lá mỏng để bao gói. Gần đây người ta
dùng thiếc trong hợp kim với nhôm và titian dùng trong kỹ thuật du hành vũ trụ.
1.2
Tổng quan về hiện trạng phát sinh bùn thải từ ngành công nghiệp khai
khoáng, chế biến quặng thiếc tại Việt Nam
1.2.1 Tình hình phát triển ngành công nghiệp khai khoáng, chế biến quặng thiếc trên
thế giới
Thiếc (Sn) là một trong những kim loại đầu tiên mà loài người đã phát hiện
được. Việc sử dụng Sn làm hợp kim với đồng đã trải qua một thời kì lâu dài và quan
trọng trong thời đại đồ đồng. Đồng đen cổ nhất đã được tìm thấy ở Ơfrat
(Messopotania) vào 3500 – 3200 năm trước Công Nguyên. Vào khoảng 1800 – 1500
năm trước Công Nguyên, ở Trung Quốc đã sử dụng rộng rãi đồng đen. Trong thế kỷ
18, ở Anh (mỏ Coocmuon), nam Trung Quốc, Bolivin, Liên Xô đã khai thác thiếc
với quy mô lớn [9].
Thiếc không tồn tại ở dạng nguyên tố trong tự nhiên, vì vậy phải được chiết
tách từ nhiều loại quặng khác nhau. Cassiterit (SnO2) là nguồn thiếc thương mại duy
nhất. Các khoáng thiếc luôn đi cùng với đá granit, thường chiếm khoảng 1% hàm
lượng thiếc ôxít. Hầu hết thiếc trên thế giới được khai thác từ các mỏ sa khoáng,
chúng có thể chứa ít nhất 0,015% thiếc [30].
Các vùng có nhiều thiếc nhất là vùng đồi núi Đông Siberi và vùng Đông Nam
Á. Thiếc ở Đông Nam Á tập trung trong một dải kéo dài từ cao nguyên Vân Quý qua
bán đảo Trung Ấn đến các đảo Bangka và Biliton thuốc Indonesia [10].
Bảng 1. 2. Trữ lượng thiếc thế giới (tấn, 2011)
Quốc gia
4.800.000
(Cook book (2002), Cookbook of Atomic Absorption Spectrometer,
Shimadzu Coporation [24])
Sản lượng thiếc khai thác trên thế giới từ năm 1940 đến năm 2006 được thể
hiện qua hình 1.3:
Hình 1. 3. Sản lượng khai thác thiếc trên thế giới theo thời gian (nghìn tấn)
Năm 1940, thế giới khai thác được 240.000 tấn (trừ Liên Xô). Năm 1957, thế
giới sản xuất được 200.000 tấn (không kể Liên Xô và Trung Quốc). Liên Xô đã phát
hiện được nhiều vùng quặng thiếc rất lớn (Zabaical, tiểu Khingan, Xkhote – Albitin
và đặc biệt là trên lãnh thổ rộng lớn miền đông bắc). Hiện nay, sản lượng khai thác
thiếc lớn nhất trên thế giới là Brasil, sau đó lần lượt là Trung Quốc, Indonesia và
Malaysia [11].
Công nghệ chế biến nhìn chung đã tạo ra được những sản phẩm đạt chất lượng
cao như ở Nga, Thái Lan, Malaysia, Đức, Trung Quốc... phục vụ cho nhiều ngành
công nghiệp khác nhau. Công nghệ chế biến hầu hết ở một số nước trên thế giới vẫn
theo công nghệ truyền thống đó là tuyển trọng lực đối với khâu tuyển thô, tuyển từ,
tuyển điện... Đối với cấp hạt mịn áp dụng phương pháp tuyển nổi, song hiệu quả
không cao.
Viện Nghiên cứu KOHVELL (Anh) đã nghiên cứu thu hồi thiếc mịn cấp hạt 0,04mm bằng băng tải và bàn đãi bùn, hàm lượng quặng đầu đưa tuyển là 0,4% Sn,
sau khi tuyển đã nhận được quặng tinh đạt hàm lượng 31% Sn, thực thu 53%.
17
Viện nghiên cứu thuộc Công ty Yunnan (Trung Quốc) đã nghiên cứu thu hồi
cấp hạt mịn - 0,04mm bằng thiết bị bàn đãi bùn, quặng cấp vào có hàm lượng 0,45
% Sn, sau tuyển thực thu đạt 56 - 58%, hệ số làm giàu khoảng 14 lần.
1.2.2 Tình hình phát triển ngành công nghiệp khai khoáng, chế biến quặng thiếc tại
Việt Nam
sau năm 2004 của mỏ dự kiến khoảng trên 1000 tấn. Ngoài ra, trong các bãi thải cũ
còn lại khoảng 2000 tấn [10].
Mỏ đang ở thời kỳ nạo vét nên hình thức khai thác chủ yếu là bằng ô tô máy
xúc quy mô nhỏ và thủ công. Năng lực tuyển tinh và luyện thiếc của Công ty hiện
nay là trên 300 tấn thiếc thỏi/năm.
b. Vùng Tam Đảo
Vùng Tam Đảo có trữ lượng thiếc khá lớn. Thiếc sa khoáng được các đơn vị
khai thác từ những năm 1960 ở mỏ Sơn Dương, sau đó ở các mỏ Bắc Lũng, Phục
Linh vào những năm 1980. Sản lượng bình quân từ 300 đến 500 tấn thiếc thỏi quy
đổi/năm. đến nay thiếc sa khoáng vùng Tam Đảo về cơ bản đã khai thác hết, số ít
còn lại ở các khu Khuôn Thê, Kỳ Lâm, Phục Linh… nằm dưới ruộng lúa và không
được cấp đất cho khai thác tiếp tục.
Trữ lượng thiếc gốc vùng Tam Đảo có triển vọng khá, phân bố trên diện rộng
nhưng mới được thăm dò, đánh giá sơ sài. Tuy nhiên, quặng thiếc gốc đã bị dân
khai thác, đào đãi trái phép từ năm 1988 đến nay, trữ lượng đã giảm sút nhiều.
Hiện có 3 đơn vị khai thác của Công ty Kim loại màu Thái Nguyên song gặp
khó khăn vì thiếu tài nguyên, mặc dù cơ sở hạ tầng được đầu tư khá tốt. Sản phẩm
tinh quặng thô của các đơn vị này được đưa về tuyển tinh và luyện thiếc thỏi tại
Công ty ở Lưu Xá (Thái Nguyên). Năng lực tuyển tinh và luyện thiếc trên 1000 tấn
thiếc thỏi/năm. Năm 2002, Công ty Kim loại màu Thái Nguyên đã đầu tư xong và
đưa vào sản xuất dây chuyền điện phân thiếc đạt chất lượng mức 01 (99,9% Sn) với
công suất ban đầu 500 Tấn/năm [9].
Trong vùng còn có một số đơn vị cũng luyện thiếc thỏi. Nguồn nguyên liệu
cho các cơ sở luyện này là quặng thiếc trôi nổi của lực lượng dân đào đãi trái phép.
Ước tính sản lượng của cơ sở này là (300 - 500) tấn thiếc thỏi/năm.
c. Vùng Quỳ Hợp
Tiềm năng thiếc vùng Quỳ Hợp còn khá phong phú. Với 14 mỏ sa khoáng, trữ
lượng có thể khai thác công nghiệp khoảng 35 ngàn tấn SnO 2. Thiếc gốc có 2 vùng
19
20
tấn/năm. Từ năm 2002, việc khai thác thiếc trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đã bị cấm
do liên quan đến vấn đề du lịch, môi trường [10].
Hình 1. 4. Sản lượng khai thác thiếc qua các thời kỳ [9]
Từ 1910 đến 1914 thực dân Pháp đã khai thác ở Pia Oac đươc 32.473 tấn Sn
kèm theo 137 kg Au. Từ năm 1950 đến năm 1956 khai thác thủ công được 440 tấn
SnO2; 1957 – 1980 sản lượng khai thác ở vùng Pia Oac đạt 9.901 tấn SnO 2 với hàm
lượng trung bình 1305 g/m3. Ở Tam Đảo đạt 3.500 tấn SnO2 với hàm lượng 1348
g/m3. Trước năm 1988, sản lượng hàng năm chỉ đạt 600 tấn, năm cao nhất 1000 tấn.
Ở Sơn Dương khai thác từ 1965 đến 1984 được 4 nghìn tấn, trung bình 210
tấn/năm. Hàm lượng thiếc trung bình 2400 g/m 3. Ở Quỳ Hợp khai thác từ 1961 với
qui mô nhỏ [10].
1.2.2.2
Đặc điểm khai khoáng, chế biến quặng thiếc tại tỉnh Nghệ An
Nghệ An cách thủ đô Hà Nội khoảng 250 km về phía Nam – là tỉnh có sản
lượng khai thác, chế biến thiếc lớn. Các địa phương có khoáng hóa thiếc có giá trị
công nghiệp là vùng Quỳ Hợp, Bản Chiềng, Phú Lợi và Bãi Thượng. Cấu trúc địa
chất của vùng là một phần của đới Phú Hoạt phổ biến các đá biến chất trước Cambri
và Paleozoi hạ cũng như các trầm tích bở rời aluvi. Các thành tạo magma xâm nhập
liên quan với khoáng hóa thiếc, (wolfram) là granitoit phức hệ Bản Chiềng (Sông
Chu Bản Chiềng, Izox, 1965) tuồi Kreta muộn. Granitoit phức hệ Bản Chiềng (khối
Bản Chiềng, Phú Lợi) bị biến đổi sau magma mạnh mẽ, chủ yếu là felspat hóa
(microlin hóa, albit hóa). Quá trình greizen hóa thể hiện yếu ớt và không đều. Tại
Bản Chiềng (Nghệ An) granitoit phức hệ gây biến chất trao đổi với đá vôi vây
quanh thành tạo đới skarn giàu magnetit có chứa thiếc, nhưng hàm lương không cao
có sự gắn kết chặt chẽ giữa mục tiêu lợi nhuận, kinh tế với trách nhiệm bảo vệ
môi trường, bảo vệ tài nguyên khoáng sản. Do khả năng đầu tư còn hạn chế nên
mỏ khai thác khoáng sản quy mô công nghiệp ở nước ta hiệ chưa đồng đều về
hiệu quả kinh tế, về việc chấp hành các quy định pháp luật về khoáng sản và vấn
đề bảo vệ môi trường.
- Khai thác, chế biến khoáng sản quy mô nhỏ, tận thu:
22
Hình thức khai thác này đang diễn ra phổ biến ở các địa phương trong cả
nước và tập trung chủ yếu vào loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng. Ngoài ra
nhiều tỉnh còn khai thác than, quặng sắt, antimon, thiếc, chì, kẽm, boxit dọc theo
bờ biển để xuất khẩu. Do vốn đầu tư ít, khai thác bằng phương pháp thủ công hoặc
bán cơ giới là chính, nên trong quá trình khai thác đã làm ảnh hưởng đến môi
trường, cảnh quan.
- Khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản
Việc khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản, kéo theo các hậu quả nghiêm
trọng như tàn phá môi trường, làm thất thoát lãng phí tài nguyên. Nạn khai thác
vàng bằng cyanua, hóa chất độc hại để thu hồi vàng diễn ra ở Quảng Nam, Lâm
Đồng, Đà Nẵng; Khai thác chì, kẽm, thiếc, than ở các tỉnh miền núi phía bắc, Nghệ
An…Việc khai thác trái phép tài nguyên này gây hậu quả môi trường nghiêm trọng,
chặt phá rừng mất rừng phòng hộ; khai thác cát gây xói mòn, lở bờ đê, lòng sông
gây ảnh hưởng các công trình giao thông, gây ô nhiễm nguồn nước, phá hoại cảnh
quan, gây ô nhiễm môi trường không khí.
1.3.2. Công nghệ khai thác và tuyển khoáng
Hầu hết ở các mỏ kim loại, về thông số kỹ thuật chưa được chú ý, đa số áp
dụng công nghệ khai thác lộ thiên với công nghệ ô tô, máy xúc. Đây là loại hình
công nghệ cổ điển, giá thành cao. Khi có chủ trương khai thác các mỏ, khai thác tạn
thu, hang loạt các công trường khai thác thủ công mọc lên như khai thác vàng, thiếc,
tinh quặng có hàm lượng 35-45%Sn. Thực thu tuyển đạt trên 70%.
Nhìn chung, công nghệ luyện chung và chế biến sâu chưa phát triển, thiết bị
lạc hậu, năng suất và hệ số thu hồi thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao. Phần lớn
sản phẩm chỉ đạt tiêu chuẩn xuất khẩu ở mức trung bình, trừ thiếc điện phân loại 1
(99,95%Sn)
Ngành khai thác và chế biến khoáng sản kim loại trong nhiều thập kỷ qua chưa
phát triển đúng với tiềm năng, đúng với vị trí, vai trò quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
1.3.3. Hiện trạng quản lý khai thác và chế biến khoáng sản
1.3.3.1. Tại Việt Nam
24
Ngành khai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam tuy ra đời cách đây đã
khá lâu, nhưng nhìn chung chưa thực sự phát triển, ngành sở hữu công nghệ và thiết
bị khá lạc hậu, ngoại trừ những mỏ mới được xây dựng trong những năm gần đây,
vì vậy tổn thất tài nguyên trong khai thác và chế biến khoáng sản là khá lớn. Kết
quả điều tra khảo sát tại các khu vực khai thác và chế biến khoáng sản cho thấy sự
tổn thất tài nguyên trong quá trình khai khoáng là rất lớn; Báo cáo Chương trình
Nghị sự Việt Nam 21 cũng cho biết rằng trong quá trình khai thác khoáng sản không
những gây ô nhiễm môi trường mà còn để tổn thất rất nhiều tài nguyên, như tổn thất
trong khai thác quặng kim loại là 16-30%.
Tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác và chế biến khoáng sản có thể do:
-
Công nghệ khai thác quá cũ, lạc hậu dẫn đến sự mất mát quặng trong quá trình khai
thác (chưa khai thác được quặng nghèo, hiệu suất khai thác chưa cao,…) và chế
biến (tỷ lệ mất mát các khoáng vật có ích còn cao, chưa thu hồi được các khoáng vật
-