THỰC TIỄN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN CỘNG HÒA PHÁP : NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ THAM KHẢO CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - Pdf 58

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------



LUẬN VĂN THẠC SĨ TRI T HỌC

à ội-2019


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI


ẠI HỌC KHOA HỌ

Ă

-----------------------------------------------------



Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Tri t học
Mã số: 60.22.03.01

Người hướng dẫn khoa học:

à ội-2019


MỞ


ớc p áp quy n ..................................... 28

ột số m hình nhà nư c pháp qu ền trên thế gi i....................... 32
Mô ì

ớc p áp quy n tổ chức t eo p

ơ

t ức p â

quy n tuy t đối ......................................................................................... 34
Mô ì
quy
hương 2

t ơ

ớc p áp quy n tổ chức theo p
đối – p â cô

H I CH

t ức p â

, p ối hợp quy n lực ................................. 36

ỨC TỔ CHỨC, V



òa P áp ........................................................................... 48

3 P â quy n trong bộ

áy N

ớc p áp quy n Cộ

òa P áp

................................................................................................................. 52
2.2.

iá trị và ý nghĩa tham hảo ............................................................ 63
G á trị của các t ức tổ chức v vậ

quy n Cộ
Ý
p áp quy

của N

ớc p áp

òa P áp ............................................................................. 63
ĩa t a

k ảo đối với vi c xây dự


của cải vật chất, đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội.
Thực tiễn lịch sử th giới đã chỉ ra, nhà nước là bộ phận quan trọng
nhất của ki n trúc thượng tầng. Trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, sự tồn
tại và phát triển của nhà nước chịu sự quy định bởi cơ sở hạ tầng – toàn bộ k t
cấu kinh t của xã hội đó. Mỗi sự thay đổi của cơ sở hạ tầng sẽ làm hình thành
trên nó một thượng tầng ki n trúc tương ứng, trong đó quan trọng nhất là nhà
nước. Lịch sử đã chứng minh, khi kinh t phát triển đ n một trình độ nhất
định đòi hỏi phải có một cách thức tổ chức và vận hành của nhà nước tương
ứng, phù hợp để bảo vệ và tạo điều kiện cho nền kinh t phát triển. Khi nhân
loại bước vào nền kinh t thị trường – một phương thức tổ chức, quản lý và
vận hành nền kinh t mới, hiệu quả hơn, đồng thời cũng chứa đựng đầy những
khó khăn, phức tạp, đòi hỏi sự thay đổi trong cách thức tổ chức, quản lý xã
hội phù hợp, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nền kinh t , mặt khác,
giải quy t tốt các nhu cầu xã hội. Các nhà tư tưởng đã chỉ ra, một trong những
mô hình lý tưởng đó là

ớc p áp quy n.

Đối với Việt Nam, xây dựng nhà nước pháp quyền không chỉ là một
chủ trương hay quy t sách, mà đó thực sự đã trở thành nhu cầu, nguyện vọng,
ý chí chung của nhân dân. Chính thực tiễn đã đặt ra yêu cầu cần xây dựng một
nhà nước pháp quyền nhằm quản lý có hiệu quả mọi mặt đời sống xã hội, xây
3


dựng một xã hội thực sự dân chủ, công bằng. Vì th , chúng ta đồng thời vừa
phải làm sáng tỏ lý luận về nhà nước pháp quyền đã và đang được thi t lập,
vừa phải nghiên cứu và xây dựng thực tiễn Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Để làm được điều đó, có một vấn đề đặc biệt quan trọng, đó
là việc tìm hiểu, ti p thu các mô hình tổ chức trên th giới để từ đó, có được


với việc x

dựng N à ước p áp q

ền xã ội chủ

ĩa iệt

am” làm

đề tài luận văn của mình.
2. ình hình nghiên cứu
N ó cô

trì

ê cứu v

uậ v t ực t

ớc p áp quy n

Các lý thuy t về nhà nước pháp quyền từ lâu đã được đưa ra một cách
vắn tắt trong các giáo trình, sách tham khảo, sách chuyên khảo của các môn
khoa học luật học, chính trị học, tri t học… song trình bày một cách hệ thống,
đ n nay, cần kể đ n G áo trì

N


tối quan trọng trong nhà nước pháp quyền – nguyên tắc phân quyền cũng
được tác giả làm rõ. Ông cũng nhấn mạnh đ n tính độc lập cần thi t của tư
pháp và phân tích mối liên hệ của “tam giác”: nhà nước pháp quyền, kinh t
thị trường và xã hội dân sự.
Phần thứ ba: Các

ô ì

ớc p áp quy

trê t ế giới: Tác giả

đã xác lập mối liên hệ về tính phổ bi n và tính đặc thù giữa các mô hình nhà
nước pháp quyền trên th giới; đồng thời phân tích một số mô hình nhà nước
pháp quyền điển hình.
5


Phần thứ t : Xây dự

ớc p áp quy n

Vi t Nam: Tác giả đã

làm rõ các điều kiện, tiền đề cũng như những định hướng cơ bản trong xây
dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Phân tích Hi n pháp để thấy rõ sự
thay đổi về mô hình tổ chức quyền lực qua các thời kỳ, đồng thời tác giả đưa
ra những đề xuất cải cách tư pháp và pháp luật để đáp ứng yêu cầu xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Bàn về các mô hình nhà nước pháp quyền thực tiễn, có thể nhắc đ n

bản phương Tây; Tổ chức bộ máy nhà nước theo mô hình đại nghị và mô hình
tổng thống; Các mô hình tổ chức nhà nước tư bản hiện đại - lý luận và thực
tiễn; Học thuy t Mac - Lênin về tổ chức nhà nước - thực tiễn và những vấn đề
đặt ra; Về mô hình nhà nước Xô Vi t. Hai cuốn Tổ chức v
c í

p ủ một số

một số

ớc trê t ế giới và Tổ chức v

oạt động của

oạt động của nghị vi n

ớc trê t ế giới đã khái quát về mô hình tổ chức, quản lý và vận

hành của hai cơ quan quyền lực nhà nước: cơ quan lập pháp – nghị viện và cơ
quan hành pháp – chính phủ tại một số quốc gia trên th giới ở các thể ch
chính trị khác nhau.
Nghiên cứu về
thảo khoa học quốc tế: N

ớc p áp quy n, cũng có thể kể đ n Kỷ yếu hội
ớc p áp quy n – Một số vấ đ

uậ v t ực

ti n do Khoa Tri t học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại


chung về nhà nước pháp quyền dưới góc nhìn tri t học – cũng là cách ti p cận
mà tác giả luận văn xác định nghiên cứu.
Ngoài ra, tác giả luận văn cũng nghiên cứu một số công trình, bài vi t như:
cuốn G áo trì

đạ c ơ

v

ớc v p áp uật do GS. TS. Đào Trí

và GS. TS. Hoàng Thị Kim Qu đồng chủ biên, cuốn ì

ểu thể chế c í

trị thế giới của GS. TS. Phạm Quang Minh, C uyê đ 3: Xây dự
p áp quy
â

xã ội chủ

ĩa của dâ , do dâ , vì dâ (

ạc c uyê v ê c í

Lịch sử

khố Đả , Đo



oạt động (2007) do tác giả

Nguyễn Văn Huyên (chủ biên) và tập thể tác giả biên soạn, Bộ áy
7

ớc


Cộ

òa P áp - Mô ì

tổ chức v

Thảo, Tuyển tập Hiế p áp ột số

oạt động (2014) của tác giả Tống Đức
ớc trê t ế giới do Trung tâm thông tin,

thư viện và nghiên cứu khoa học – Văn phòng Quốc hội biên soạn...
Từ góc độ chính trị học cuốn H thố
ì

tổ chức v

c í

trị Anh – P áp – Mỹ (Mô


nghiên cứu dễ nắm bắt. Đây là tài liệu quan trọng, phục vụ trực ti p trong việc
phân tích thực tiễn mô hình Nhà nước pháp quyền Cộng hòa Pháp.
Để có được các thông tin chính xác, đặc biệt để đảm bảo độ xác thực,
đúng đắn của các điều luật trong Hi n pháp năm 1958 của nước Pháp và các
văn bản liên quan, tác giả luận văn cũng tham khảo các tài liệu được công bố
trên trang thông tin điện tử pháp luật công cộng của Cộng hòa Pháp –
www.legifrance.gouv.fr/.
8


3 N ó

ê cứu v xây dựng n

ớc p áp quy

xã ội chủ

ĩa

Vi t Nam hi n nay
Thực tiễn Việt Nam cũng đặt ra vấn đề nghiên cứu lý luận và thực tiễn
nhà nước pháp quyền từ lâu. Từ góc ti p cận tri t học, có thể kể đ n công
trình Xây dự

N

ớc p áp quy n Vi t Na

t eo qua đ ể


áy

xây

ớc p áp quy n Vi t Nam hi n nay của TS.

Vũ Duy Tú có những đóng góp sâu sắc trong xây dựng thực tiễn nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Ngoài việc làm rõ một số các khái
niệm, lý thuy t về phân quyền, nhà nước pháp quyền, bộ máy nhà nước cũng
9


như khái lược về lịch sử hình thành, phát triển và nội dung của lý thuy t phân
quyền, tác giả tập trung vào những vấn đề đặt ra đối với lý thuy t phân quyền
ở Việt Nam – cơ ch phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực và vấn đề
phân cấp, phân quyền giữa các cơ quan từ trung ương đ n địa phương. Trên
cơ sở tham khảo những giá trị của lý thuy t phân quyền, tác giả đưa ra
phương hướng và giải pháp cụ thể từ góc ti p cận chính trị học: 1. Phân định
rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp đảm
bảo sự phân công, phối hợp, kiểm soát có hiệu quả giữa các cơ quan quyền
lực nhà nước cấp trung ương; 2. Đảm bảo sự phân công, phối hợp, kiểm soát
có hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước cấp trung ương và địa phương; 3. Đổi
mới nội dung, phương thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các
cơ quan nhà nước.
Công trình Qua đ ểm của chủ
xây dự

ớc p áp quy




luận văn rút ra một số giá trị và bài học tham khảo đối với quá trình xây dựng
và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
ê cứu

3.2. Nhi m vụ

Để đạt được mục đích trên tác giả luận văn cần phải thực hiện những
nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa một số nội dung lý luận và thực tiễn về nhà nước pháp
quyền.
- Phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng
hòa Pháp.
- Nêu lên những giá trị, bài học tham khảo trong tổ chức bộ máy nhà
nước Cộng hòa Pháp đối với quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
4. ơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4

Cơ s

uận

Cơ sở lý luận của luận văn bao gồm hệ thống nguyên lý của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời cũng sử dụng hệ
thống lý thuy t về nhà nước pháp quyền. Luận văn dựa trên quan điểm của
chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và nhà nước pháp
quyền; một số quan điểm của các nhà tư tưởng về nhà nước pháp quyền và
thực tiễn nhà nước pháp quyền. Bên cạnh đó, luận văn cũng khai thác một số


Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tổ chức bộ máy nhà nước Cộng hòa
Pháp và quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam từ năm 1986 đ n nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý

ĩa

uận

Đề tài luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về nhà nước pháp quyền, đặc biệt là Nhà nước pháp quyền Cộng hòa Pháp.
6.2. Ý

ĩa t ực ti n
- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho sinh viên, người nghiên cứu

ti p cận nhà nước pháp quyền từ góc độ tri t học.
- Luận văn rút ra một số bài học về tổ chức, vận hành bộ máy nhà nước
Cộng hòa Pháp đối với việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam, có giá trị tư vấn trong quá trình hiện thực hóa Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
7.

ết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần k t luận và danh mục tài liệu tham khảo,

phần nội dung luận văn được k t cấu thành 2 chương và 4 ti t.


mạnh của vương quyền, là công cụ để bảo vệ ch độ cai trị chuyên ch .
Tương tự như Ai Cập và Babylon, ở Ấn Độ cổ đại, dưới triều đại
Maurya, trên cơ sở Bà La Môn giáo, Bộ luật Manu đã ra đời, đảm đương vai
trò là công cụ để bảo vệ thần quyền, vương quyền và quản lý đất nước.
Trung Quốc cổ đại là một trong những quốc gia có những nhà tư tưởng
có quan niệm về pháp luật tự nhiên, vai trò của pháp luật trong cai trị xã hội –
những mầm mống tư tưởng về nhà nước pháp quyền; nổi bật trong đó là tư
tưởng của Lão Tử và Hàn Phi Tử.
Lão Tử (430 – 340 TCN) với thuy t vô vi và tư tưởng trị nước “vô vi
nhi trị” lại cho rằng, các luật lệ để chuẩn hóa và cai trị chỉ dẫn tới một xã hội
13


khó kiểm soát hơn. Con người cần phải sống thuận theo lẽ tự nhiên, “lấy nhu
thắng cương”, thuận theo những quy luật của tự nhiên. Học thuy t vô vi của
Đạo gia bộc lộ nhiều ưu điểm: Đó là việc thể ch hóa luật tự nhiên, tạo ra
pháp quyền tự nhiên – thứ pháp luật khi n con người tự giác tuân theo; đồng
thời, Lão Tử cũng đòi hỏi các quyền tự nhiên cho con người, đòi hỏi sự công
bằng, bình đẳng trong xã hội. Thuy t vô vi của Lão Tử có những điểm tương
đồng với lý thuy t về pháp quyền tự nhiên mà các nhà tri t học Hà Lan sáng
lập vào th kỷ XVI – XVII. Thuy t pháp quyền tự nhiên chỉ ra: nhà nước và
pháp luật không phải do Chúa tạo ra, mà do sự thỏa thuận của con người với
nhau, phù hợp với quyền tự nhiên và quy luật tự nhiên. Thuy t pháp quyền tự
nhiên cũng nhấn mạnh đ n việc thể ch hóa các quyền tự nhiên vốn có của
con người, lấy các quyền này làm cơ sở để xây dựng pháp luật. Việc hạn ch
quyền lực nhà nước được thực hiện bằng những đòi hỏi tự do tự nhiên của
con người, tôn trọng cái tôi cá nhân và thỏa thuận xã hội – thông qua luật
pháp. Con người trong xã hội này sẽ tuân thủ luật pháp một cách tự giác, như
là một lẽ tự nhiên. Mặt khác, lý thuy t về pháp quyền tự nhiên cũng yêu cầu
tự do cho con người, đòi hỏi sự thỏa thuận xã hội, đảm bảo các lợi ích của

được trưởng thành, biên giới không bị xâm lấn, vua và tôi thân yêu nhau, cha
con giữ gìn cho nhau”[29, tr. 130]. Pháp luật theo Hàn Phi phải xuất phát từ
hiện thực xã hội, phản ánh thực tiễn, điều chỉnh các hành vi, các quan hệ xã
hội đang diễn ra. Ông nhấn mạnh: “Không có nước nào luôn luôn mạnh, cũng
không có nước nào luôn luôn y u. Hễ những người thi hành pháp luật mà
mạnh thì nước mạnh, còn hễ những người thi hành pháp luật y u thì nước
y u”[29, tr. 55]. Bởi vậy, pháp luật ở thời Hàn Phi không phân biệt giàu
nghèo, địa vị xã hội, bậc đại thần vi phạm cũng phải chịu tội như dân thường:
“pháp luật là mệnh lệnh ban bố rõ ràng ở nơi cửa công, hình phạt chắc chắn
15


đối với lòng dân, thưởng cho những kẻ cẩn thận giữ pháp luật, nhưng phạt
những kẻ làm trái lệnh” [29, tr. 478-479]. Ông cho rằng, phải xây dựng những
bộ luật rõ ràng, công bố trước toàn thể dân chúng, dựa vào thưởng phạt
nghiêm minh để kiềm ch , ràng buộc, điều khiển nhận thức và hành vi con
người. Ông đưa ra bốn nguyên tắc để thực hiện “pháp trị”: 1 – Chú trọng giáo
dục pháp luật; 2 – Mọi người đều phải tuân thủ pháp luật; 3 – Thưởng phạt
công minh; 4 – K t hợp giáo dục đạo đức. Hàn Phi cho rằng, “pháp trị” cần có
“thuật” và “th ” tương hỗ. Nhà vua phải có “thuật” để dùng người: “Nhà vua
không có thuật trị nước thì ở trên bị che đậy; bầy tôi mà không có pháp luật
thì cái loạn sinh ra ở dưới. Hai cái không thể thi u cái nào, đó đều là những
công cụ của bậc đ vương” [29, tr. 479]. “Th ” là sức mạnh uy quyền tối cao
của ông vua: “Cái th là cơ sở để thẳng đám đông” [29, tr. 524], là công cụ
thống trị của ông vua nói riêng, bộ phận thống trị xã hội nói chung. Tư tưởng
của Hàn Phi Tử được coi là cấp ti n so với xã hội lúc bấy giờ. Tuy nhiên, cần
lưu ý rằng, pháp luật ở đây là pháp luật của vua, do vua đặt ra và vì vua. Pháp
trị suy cho cùng chỉ là công cụ để cai trị. Đây cũng là hạn ch lớn nhất của
thuy t pháp trị.
Như vậy, những mầm mống tư tưởng về xây dựng nhà nước pháp

TCN) cho rằng: “Tôi nhìn thấy sự tận số của nhà nước, khi pháp luật không
còn hiệu lực và phụ thuộc vào một chính quyền nào đó. Còn ở chỗ mà luật,
luật pháp ngự trị trên những người cầm quyền, và những người cầm quyền
như là nô lệ của pháp luật, ở đó, tôi trông thấy sự hồi sinh của nhà nước, trông
thấy tất cả phúc lợi mà Trời ban cho nhà nước” [32, tr. 13-14]. Plato phân biệt
hai loại k t cấu nhà nước: loại thứ nhất đề cao những nhà cầm quyền, còn loại
thứ hai đề cao pháp luật. Hướng vào loại thứ hai, ông cho rằng, nhà nước sẽ
thịnh vượng n u luật là chủ nhân đối với các nhà cầm quyền. Hay Aristotle
(384-323 TCN) thì cho rằng, trong nhà nước được tổ chức một cách đúng
đắn, không phải con người, mà các bộ luật thống trị, bởi vì ngay chính các
nhà cầm quyền tốt nhất cũng có thể mắc sai lầm, có thể bị khi p sợ, còn luật
thì lại là “lý tính trầm tĩnh”, không bị rơi vào tình th như vậy. Cho nên, việc
cai trị của nhà nước phải được thực hiện bằng công cụ pháp luật, pháp luật
17


chính là lẽ công bằng và phải bảo vệ pháp luật như là bảo vệ con ngươi của
mắt mình.
Ở thời kỳ cận đại, các nhà tri t học Hà Lan đề cao luật pháp với tư cách
là sự thể ch hóa các quyền tự nhiên của con người, là phương tiện tối cao để
kiểm soát quyền lực nhà nước. Hay các nhà tri t học Anh, mà đại diện tiêu
biểu là J. Locke (1632 – 1704) cho rằng, nhà nước là sự liên k t của cộng
đồng theo quy luật tự nhiên, nhưng để tồn tại trong xã hội, con người phải
thỏa thuận trên nguyên tắc các quy luật của tự nhiên bằng luật pháp, vậy nên,
pháp luật phải giữa địa vị thống trị trong nhà nước.
Đ n th kỷ XVII, Immanuel Kant (1724 –1804) quan niệm “nhà nước
pháp quyền (nước cộng hòa) không phải là hiện thực kinh nghiệm mà là cấu
trúc (mô hình) lý luận – tư tưởng cần phải được tuân thủ như sự đòi hỏi của lý
trí và mục đích nỗ lực của con người trong tổ chức thực t của đời sống pháp
luật – nhà nước” [57, tr. 12]. Trong khi nghiên cứu nhà nước pháp quyền với

ti p nhận mọi thành viên như một bộ phận tách rời của toàn thể. Hành vi liên
k t sẽ tạo nên một cơ thể tinh thần chung, gồm bao nhiêu thành viên thì có
bấy nhiêu ti ng nói trong một hội đồng; mỗi thành viên nhận được sự nhất trí
của mình trong hành vi liên k t đó, họ tìm thấy cái tôi tập thể, tìm thấy cuộc
sống và ý chí của mình trong tập thể” [39, tr. 34-35]. Rousseau hi vọng dùng
cái gọi là “ý chí chung” – quyền lực tối cao của nhân dân để hạn ch , kiểm
soát quyền lực nhà nước. Deniss Diderot (1713 – 1784) cũng là một trong
những nhà tư tưởng Khai sáng Pháp đưa ra những tư tưởng quan trọng về nhà
nước pháp quyền. Ông cho rằng, quyền lực nhà nước là sản phẩm của kh ước
xã hội. Để đảm bảo các quyền lợi và thống nhất ý chí và sức mạnh của tất cả
mọi người, các cá nhân chuyển giao cho nhà nước phần nào sự phụ thuộc tự
nhiên của mình. Như vậy, quyền lực nhà nước phải dựa trên ý chí của nhân
dân với tính cách là người có chủ quyền.
Mặt khác, theo Kant, nguyên tắc quan trọng nhất của pháp quyền là ở
chỗ nhân dân có đặc quyền đòi sự tham gia của mình vào việc xác lập trật tự
pháp luật bằng quyền phúc quy t, thông qua hi n pháp thể hiện ý chí của
mình; “quyền tối thượng của nhân dân xác định quyền tự do, quyền bình đẳng
19


và quyền độc lập của tất cả các công dân trong quốc gia với tính cách là sự
liên k t của tập hợp các cá nhân tuân thủ các bộ luật của pháp quyền” [22, tr.
126]. Robert Fon Mohn và Karl Teodor Valker bên cạnh việc nhấn mạnh đ n
tính tối cao của pháp luật và tính ràng buộc của nhà nước bởi pháp luật cũng
cho rằng, mục đích của nhà nước pháp quyền là nhằm phát huy tự do và năng
lực của mỗi thành viên trong xã hội: “Làm th nào tổ chức được đời sống
chung của nhân dân sao cho mỗi thành viên trong đó nhận thức được sự giúp
đỡ và khuy n khích sự phát triển tự do tối đa và toàn diện năng lực tổng hợp
của mình” [57, tr. 16]. Như vậy, các nhà luật học người Đức cũng ngầm
khẳng định về tính tối cao của quyền lực nhân dân.

rằng, quyền lực trong nhà nước là thống nhất, vì vậy không nhất thi t phải
phân quyền. Theo J. J. Rousseau, mọi hành vi trong xã hội cũng như việc
quản lý xã hội của nhà nước đều được ch định bởi “ý chí chung” , bởi quyền
lực tối cao, thống nhất của nhân dân; bởi vậy, việc phân chia quyền lực là
không cần thi t. Hegel cũng lấy “ý chí chung” làm cơ sở của pháp luật. Ông
cho rằng nhà nước pháp quyền là sự thống nhất của các “ý chí cá biệt” trong
“ý chí chung”: “Tính cá biệt và tính đơn nhất của con người không cản trở
tính phổ bi n, mà phục tùng nó. Hành vi xác đáng hay hợp luân lý, nói cách
khác, hành vi tốt đẹp dù là do một người riêng biệt thực hiện, song mọi người
đều thấy nhất trí với hành vi như vậy. Do vậy, họ nhận thấy hành vi của bản
thân mình hay ý chí riêng của mình trong hành vi đó” [22, tr. 269]. Vậy nên,
theo Hegel, nhà nước là tổ chức thống nhất quyền lực, và quyền lực cao nhất
thuộc về “ý chí chung” – quyền lực nhân dân.
Như vậy, vấn đề xây dựng lý thuy t cũng như thực tiễn nhà nước pháp
quyền đã sớm được quan tâm và nghiên cứu ở Âu châu. Xuyên suốt lịch sử tư
tưởng phương Tây, các nhà tri t học, luật học có sự thống nhất ở một số vấn
đề sau: 1. Nhận thức rõ mối quan hệ mật thi t, hữu cơ giữa nhà nước và pháp
luật với công dân; 2. Đề cao vai trò của pháp luật và y u tố dân chủ, coi pháp
luật là công cụ để đảm bảo công bằng xã hội; 3. Đặt ra vấn đề phân chia và
kiểm soát quyền lực trong nhà nước.
1.1.1.3. Tư tưởng về nhà nước pháp quyền ở Việt Nam từ năm 1986 đ n nay
21


Ở Việt Nam, từ năm 1986 đã thực hiện công cuộc đổi mới hoàn toàn
đất nước. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986) mở đầu cho
quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là tư
duy về nhà nước. Quan điểm của Đảng tại Đại hội VI rõ ràng đã hướng đ n
việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Báo cáo
chính trị tại Đại hội khẳng định: “Nhà nước ta là công cụ của ch độ làm chủ

phù hợp với đặc điểm, tính chất của các cơ quan nhà nước ở từng cấp” [24, tr.
186].
Đ n Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (tháng 4/2001), nhận thức lý
luận về nhà nước pháp quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam có bước chuyển
xác định, đặt ra yêu cầu thực hiện chi n lược: “Đẩy mạnh cải cách tổ chức và
hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp ch ” [9, tr. 131132]. Đại hội X Đảng Cộng sản Việt Nam cụ thể hóa các quan điểm về nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: “Xây dựng cơ ch vận hành của Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước
đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất… Hoàn thiện hệ
thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp
luật.” [11, tr. 126].
Tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), phần IV về hệ thống chính trị và vai trò
lãnh đạo của Đảng ti p tục xác định: “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Quyền lực nhà nước là
thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong
việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” [12, tr. 85]. Văn kiện
Đại hội XI và Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 đã thể hiện một nhận
thức mới và h t sức quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đó là vấn đề kiểm soát quyền lực giữa
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status