ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ MINH HẠNH
ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC HOÀ BÌNH GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP QUỐC TẾ TRONG LUẬT QUỐC TẾ VỚI
VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ MINH HẠNH
ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC HOÀ BÌNH GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP QUỐC TẾ TRONG LUẬT QUỐC TẾ VỚI
VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60 38 01 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN BÁ DIẾN
HÀ NỘI - 2015
Việt Nam nằm cạnh biển Đông, một vùng biển có vị trí địa lý quan
trọng, mang tầm chiến lược trong phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng.
Tham vọng chiếm hữu biển Đông đã đưa vùng này trở thành “điểm nóng” về
tranh chấp chủ quyền giữa các quốc gia. Bởi vậy, việc áp dụng các nguyên tắc
cơ bản của luật quốc tế để giải quyết tranh chấp, đặc biệt là áp dụng nguyên
tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế trở nên có ý nghĩa trong việc hạn
chế và hạ nhiệt các “điểm nóng” tranh chấp, nhằm duy trì hòa bình, ổn định
trong khu vực và thế giới.
“Hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế” là một nguyên tắc quan trọng trong
luật quốc tế. Hơn thế nữa, ngày nay trong xu hướng hội nhập quốc tế, xu
hướng toàn cầu hóa quốc tế nguyên tắc này trên tất thảy được các quốc gia và
nhân loại tiến bộ thế giới hướng tới.
Nguyên tắc giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa
bình được ghi nhận trong Tuyên bố về các nguyên tắc của luật quốc tế điều
chỉnh mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến
chương Liên hợp quốc được Đại Hội đồng thông qua theo Nghị quyết số 2625
năm 1970. Các nước thành viên Liên Hợp quốc đều tuân theo nguyên tắc này
để giải quyết các bất đồng xung đột hay tranh chấp có tính chất quốc tế. Tuy
nhiên, trong thực tiễn có nhiều trường hợp việc áp dụng các biện pháp để giải
1
quyết tranh chấp quốc tế giữa các quốc gia chưa thực sự bình đẳng, chưa đạt
được sự nhất trí vì không ít các trường hợp giải quyết tranh chấp bằng việc kí
các Hiệp định ngừng bắn hoặc kí các Hiệp định hòa bình một phần do sự thu
xếp từ những “thế lực quốc tế”.
Ngày nay, trước xu hướng quốc tế hóa, hợp tác hóa giữa các quốc gia,
tiềm ẩn nhiều nguy cơ nảy sinh mâu thuẫn dẫn đến tranh chấp quốc tế gia
tăng. Để đảm bảo được lợi ích của các bên tranh chấp nói riêng mà không làm
2. Tình hình nghiên cứu:
Việt Nam đã trở thành thành viên của Liên Hợp quốc, chính thức tham
gia Công ước Luật biển 1982. Cho đến nay, đã có một số bài viết, công trình
nghiên cứu liên quan đến các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại,
cũng như việc áp dụng các nguyên tắc cơ bản vào thực tiễn giải quyết các
tranh chấp quốc tế nói chung, các tranh chấp trên biển nói riêng. Tuy nhiên số
lượng vẫn còn hạn chế và cũng chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu
đầy đủ, toàn diện về áp dụng Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc
tế với việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông. Bởi vấn đề biển Đông và
tranh chấp trên Biển Đông thay đổi và diễn biến ngày càng phức tạp, khó
lường trước, đã trở thành “tâm điểm” không chỉ của các nước hữu quan liên
quan mà còn của toàn thế giới.
3. Mục đích nghiên cứu:
Trong phạm vi đề tài luận văn, học viên hướng tới mong muốn làm
sáng tỏ những cơ sở lý luận về hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế nói
chung và áp dụng phương pháp hòa bình giải quyết các tranh chấp trên biển
Đông nói riêng. Qua đó, nhận xét, phân tích, hướng đến việc áp dụng trên
thực tiễn nguyên tắc với Việt Nam trong vấn đề giải quyết tranh chấp trên hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hiện nay cũng như đưa ra một số giải pháp
tăng cường sự đảm bảo quốc tế.
3
4. Phạm vi nghiên cứu:
Trong phạm vi, khuôn khổ một luận văn Thạc sĩ, tác giả xin đề cập đến
các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại; đi sâu phân tích về Nguyên
tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế. Bên cạnh đó, luận văn cũng nghiên
cứu việc áp dụng Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế với việc
giải quyết tranh chấp trên Biển Đông. Phần liên hệ chủ quyền trên biển của
- Bên cạnh đó, đề tài cũng được nghiên cứu thông qua phương pháp phân tích,
bình luận, tổng hợp, so sánh khi nghiên cứu một vấn đề cụ thể.
7. Ngoài phấn mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của Luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Tổng quan lí luận về Nguyên tắc hòa bình trong giải quyết
tranh chấp quốc tế.
Chương 2: Áp dụng Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế
trên Biển Đông.
Chương 3: Giải pháp tăng cường hiệu lực của việc áp dụng Nguyên tắc
hòa bình trong giải quyết tranh chấp quốc tế ở Biển Đông.
Đây là một đề tài khó, rộng và phức tạp, trong khi kiến thức của tác giả
còn hạn chế nên luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Rất
mong các thầy cô giúp đỡ, chỉ dạy để tác giả hoàn thiện thêm đề tài của mình.
5
Chương I: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC HÒA BÌNH
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUỐC TẾ
1.1 Sơ lược về giải quyết tranh chấp quốc tế
1.1.1. Khái quát chung về tranh chấp quốc tế
Hiện nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về tranh chấp quốc tế
trong các văn bản pháp lý.
Theo Cuốn Từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1992 giải thích về “tranh
chấp” là đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề
quyền lợi giữa các bên.
Theo quan niệm của Pháp viện Thường trực quốc tế - Cơ quan giải
quyết tranh chấp của Hội Quốc liên (Tổ chức tiền thân của Liên Hợp Quốc)
lại cho rằng: Tranh chấp là sự bất đồng về một quy phạm pháp luật hoặc một
sự kiện nào đó giữa các chủ thể nhất định (trường hợp này là giữa các quốc
nghĩa vụ thành viên về điều ước quốc tế hoặc tổ chức quốc tế…
Như vậy, tranh chấp quốc tế có nhiều loại. Tuy nhiên, chúng ta cần
quan tâm đến những tranh chấp quốc tế có tính chất nguy cơ ảnh hưởng đến
hòa bình an ninh khu vực và thế giới. Các tranh chấp là mối đe dọa tới sự
sống còn của nhân loại và bị luật quốc tế cấm. Tranh chấp quốc tế luôn được
coi là vấn đề nhạy cảm đối với các quốc gia, đối với giới cầm quyền ở mỗi
quốc gia. Bởi vậy, các tổ chức lớn tầm cỡ quốc tế “có tiếng nói” như Liên
Hợp quốc cần tập hợp sức mạnh tổng hợp cũng như chú trọng tới việc dự liệu
trước, đề xuất các quy định, các nguyên tắc trong luật pháp quốc tế để ngăn
cản trước khi xảy ra, cũng như tìm giải pháp để chấm dứt các tranh chấp đã
xảy ra.
1.1.2 Các phương thức giải quyết tranh chấp quốc tế cơ bản xuyên
suốt trong luật quốc tế
Các phương pháp bạo lực (chiến tranh) trong quan hệ quốc tế giữa các
nước giai đoạn trước đây là phương pháp hay được đề cập.
7
Trước khi Hiệp ước Hòa bình Briand-Kellogg 1928 ra đời, trong quan
hệ quốc tế việc dùng vũ lực hay chiến tranh được coi là biện pháp hợp pháp
để giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia. Xâm lược một quốc gia độc
lập chủ quyền hay xâm chiếm một bộ phận lãnh thổ của nước khác, luật quốc
tế cổ điển gọi là “can thiệp – Intervention”. Khi đó, sẽ sử dụng lực lượng vũ
trang đánh xâm chiếm lãnh thổ của quốc gia khác và có thể hiểu là đánh
chiếm và xóa bỏ một quốc gia.[27, tr.110]
Sau khi Hiệp ước Hòa bình Briand-Kellogg 1928 và Hiến chương Liên
hợp quốc ra đời, những chế định liên quan đến sử dụng vũ lực đã được thay
đổi đáng kể và bị cấm trong luật quốc tế. Thời kì sau đó, trong luật quốc tế đã
xuất hiện hai khái niệm về chiến tranh: chiến tranh chính nghĩa (just wars được luật pháp quốc tế cho phép và ủng hộ) và chiến tranh phi nghĩa (unjust
Trên thực tế, các quan hệ quốc tế cho thấy: pháp luật quốc tế hiện nay
vừa cấm việc dùng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế lại vừa cho
phép việc dùng vũ lực. Có những trường hợp luật quốc tế, Hiến chương Liên
Hợp quốc và cả Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc cho phép sử dụng một số
biện pháp dùng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế hay để duy trì hòa
bình an ninh quốc tế, như sau:
- Tự vệ cá nhân và tự vệ tập thể;
- Cấm vận, trả đũa dưới sự cho phép của Liên Hợp quốc;
- Can thiệp (quân sự) vì mục đích nhân đạo;
- Can thiệp (quân sự) vì mục đích khôi phục dân chủ;
- Can thiệp (quân sự) vì mục đích khôi phục nhân quyền.
Thời gian gần đây, lịch sử quan hệ quốc tế ghi nhận nhiều thành công
của việc áp dụng các phương pháp hòa bình vào giải quyết tranh chấp quốc tế.
Sự hình thành và phát triển của nguyên tắc này gắn liền với sự hình thành và
phát triển của nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ lực và dùng vũ lực trong quan
hệ quốc tế. Trong thực tiễn quốc tế, tranh chấp luôn tiềm ẩn, phát sinh từ các
9
mối quan hệ giữa các quốc gia. Đó là khi các chủ thể luật quốc tế có những
quan điểm trái ngược hoặc mâu thuẫn xung đột hoặc không thống nhất được
về quyền và lợi ích.
Hệ thống Công ước Lahay năm 1899 và năm 1907 có Công ước về hòa
bình giải quyết xung đột quốc tế, là công ước đa phương đầu tiên đề cập đến
vấn đề quan trọng này. Tuy nhiên, Công ước mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra
lời kêu gọi các quốc gia tự nguyện thực hiện các biện pháp trung gian, hòa
giải trước khi dùng vũ lực.
Trong quy chế Hội quốc liên có đưa ra quyền của các quốc gia dùng
chiến tranh như là phương tiện giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên có đề cập đến
quốc tế, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau nhằm đi tới một giải pháp công bằng
cho tất cả các bên hoặc giải quyết các tranh chấp thông qua trung gian, hòa
giải hoặc bằng các cơ chế tài phán quốc tế như Tòa án Công lý Quốc tế, Tòa
án Quốc tế về Luật Biển và các tòa trọng tài khác…
Thế nào là "tranh chấp quốc tế"? Luật quốc tế chưa có một định nghĩa
chính xác về tranh chấp quốc tế được thừa nhận rộng rãi, nhưng đa số các tác
giả đều cho rằng tranh chấp quốc tế là những vấn đề phát sinh giữa các chủ
thể luật quốc tế và những bất đồng về các vấn đề cơ bản của quan hệ quốc tế.
Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế được ghi nhận lần đầu tiên
trong Hiến chương Liên hợp quốc và được khẳng định rõ hơn trong Tuyên bố
năm 1970 "mỗi quốc gia giải quyết tranh chấp quốc tế của mình với các quốc
gia khác bằng phương pháp hòa bình để không dẫn đến đe dọa hòa bình, an
ninh quốc tế và công bằng".
Và các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế là căn cứ pháp lý để giải
quyết các tranh chấp quốc tế, các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế thường
được viện dẫn trong hệ thống các cơ quan của Liên Hợp quốc.
Về đặc điểm, các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế có bốn đặc điểm sau:
Tính mệnh lệnh chung: tất cả các chủ thể đều phải tuyệt đối tuân thủ
các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế. Không một chủ thể hay nhóm chủ
12
thể nào của Luật Quốc tế có quyền hủy bỏ nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc
tế. Bất kỳ hành vi đơn phương nào không tuân thủ triệt để nguyên tắc cơ bản
của LQT đều bị coi là sự vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế. Các quy
phạm điều ước và tập quán quốc tế có nội dung trái với các nguyên tắc cơ bản
của Luật Quốc tế đều không có giá trị pháp lý. Ngoài ra, đối với các lĩnh vực
xuất hiện các nguyên tắc chuyên biệt như: Luật Biển quốc tế, Luật hàng
không dân dụng quốc tế... thì bên cạnh việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản
không được sử dụng vũ lực. Hệ thống Công ước Lahay năm 1899 và năm
1907 có Công ước về hòa bình giải quyết xung đột quốc tế, đây là văn kiện đa
phương đầu tiên đề cập đến vấn đề quan trọng này. Tuy nhiên, Công ước này
cũng chỉ đưa ra lời kêu gọi các quốc gia với khả năng có thể, ngăn ngừa việc
dùng vũ lực, sử dụng tối đa các biện pháp trung gian, hòa giải trước khi dùng
vũ khí.
Trong quy chế của Hội quốc liên, ở một mức độ nhất định cũng đã xác
định nghĩa vụ các quốc gia giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa bình
dưới hình thức giải quyết ở Tòa án hoặc đưa ra Hội đồng của Hội quốc liên,
nhưng vẫn không quy định giải quyết hòa bình tranh chấp là nghĩa vụ bắt
buộc của mọi quốc gia thành viên cũng như không quy định cấm tiến hành
chiến tranh.
Tuy nhiên, Hiệp ước Paris năm 1928 về khước từ chiến tranh lại tuyên
bố cấm chiến tranh xâm lược và nêu rõ trách nhiệm của các quốc gia chỉ giải
quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa bình. Điều 2 Hiệp ước khẳng định:
các bên công nhận rằng việc điều chỉnh hoặc giải quyết mọi tranh chấp hoặc
xung đột phát sinh với bất kỳ tính chất và nguyên nhân nào chỉ có thể bằng
các phương pháp hòa bình.
Năm 1945 với sự ra đời của Hiến chương Liên hợp quốc có nêu: “Tất
cả các thành viên của Liên hợp quốc giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ
bằng biện pháp hòa bình, sao cho không tổn hại đến hòa bình, an ninh quốc tế
14
và công lý”, khẳng định giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa
bình là một nguyên tắc trong quan hệ giữa các quốc gia.
Ngày nay với sự ra đời của nhiều tổ chức quốc tế toàn cầu và tổ
chức khu vực, nguyên tắc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế được ghi
nhận trong nhiều văn kiện quốc tế quan trọng như: Hiến chương Liên hợp
năm gần đây như: WTO, EU, ASEAN.
Việc tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế sẽ làm hạn chế
đáng kể sự xuất hiện tranh chấp. Mặt khác, góp phần giải quyết nhanh chóng
và hiệu quả tranh chấp nếu nảy sinh trong đời sống quốc tế. Việc giải quyết
tranh chấp bằng phương pháp hòa bình chiếm một vị trí và vai trò hết sức
quan trọng góp phần ổn định quan hệ quốc tế, duy trì và bảo vệ hòa bình,
an ninh thế giới, tạo điều kiện cho quan hệ quốc tế phát triển.
1.3. Ý nghĩa, vai trò của Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp
quốc tế.
1.3.1. Ý nghĩa, vai trò
Hiện nay, trong quá trình quốc tế hóa mọi mặt của đời sống, sự ra đời
của các tổ chức quốc tế phổ cập và khu vực đang ngày càng giữ vị trí quan
trọng trong việc phối hợp hoạt động hợp tác của các quốc gia thành viên. Khi
tham gia tổ chức quốc tế, các quốc gia thành viên tự nguyện trao cho tổ chức
quốc tế một số thẩm quyền. Quốc gia khi tự nguyện tham gia tổ chức quốc tế,
thực hiện các quyền và nghĩa vụ của quốc gia thành viên, chịu sự chi phối
nhất định của các tổ chức quốc tế... Trong không gian quốc tế hiện nay, việc
tôn trọng nghiêm chỉnh pháp luật quốc tế là cơ sở quan trọng để đưa trật tự
thế giới phát triển theo xu hướng ngày càng ổn định, hội nhập và tiến bộ.
Như vậy, các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế nói chung và nguyên tắc
Hòa bình giải quyết các tranh chấp nói riêng có ý nghĩa, vai trò quan trọng
trong việc điều chỉnh các quan hệ quốc tế, nhằm đảm bảo hòa bình, ổn định
thế giới. Đặc biệt, hiện nay trên thế giới có rất nhiều vấn đề nóng bỏng, nổi
16
cộm như vấn đề tranh chấp trên Biển Đông giữa các quốc gia hữu quan liên
quan thì hơn bao giờ hết Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp cần
được nghiên cứu để áp dụng một cách phù hợp, hiệu quả.
quốc tế và quá trình hội nhập đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ tại hầu hết các
quốc gia trên thế giới. Nhóm này gồm các nguyên tắc sau: nguyên tắc cấm đe
dọa dùng vũ lực hay dùng vũ lực; nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh
chấp quốc tế; nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia
khác; nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác và nguyên tắc dân tộc tự quyết.
Thực tiễn quan hệ quốc tế cho thấy, khả năng tham gia vào các quan hệ
quốc tế của các quốc gia không giống nhau. Luật quốc tế đã có những quy
phạm nhằm trao cho một số quốc gia nhất định những quyền đặc biệt mà các
quốc gia khác không có, như quyền phủ quyết của năm thành viên thường
trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc. Tuy nhiên, việc được hưởng các quyền
đặc biệt này bao giờ cũng đồng nghĩa với việc các quốc gia này phải gánh vác
thêm những nghĩa vụ đặc biệt khác.
Và sự hình thành và phát triển của nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh
chấp quốc tế gắn liền với sự hình thành và phát triển của nguyên tắc cấm đe
dọa dùng vũ lực và dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế và là hệ quả tất yếu của
nguyên tắc này.
Trước chiến tranh thế giới lần thứ hai, luật pháp quốc tế cũng ghi nhận
một số biện pháp hòa bình để giải quyết các tranh chấp song vào thời điểm đó
nguyên tắc này chưa trở thành một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.
Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế được ghi nhận lần đầu tiên
trong Hiến chương Liên hợp quốc và được khẳng định rõ ràng trong Tuyên bố
năm 1970, trong đó chỉ rõ "mỗi quốc gia giải quyết tranh chấp quốc tế của
mình với các quốc gia khác bằng phương pháp hòa bình để không dẫn đến đe
dọa hòa bình, an ninh quốc tế và công bằng".
18
Ngày nay, với mục đích đảm bảo hòa bình, an ninh quốc tế và công lý,
luật pháp quốc tế đã ghi nhận nguyên tắc này như là một trong những nguyên
góp phần hạn chế các tranh chấp phát sinh.
Trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, nguyên tắc hòa
bình giải quyết các tranh chấp quốc tế có mối quan hệ đặc biệt với nguyên tắc
cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Nguyên tắc cấm dùng vũ lực
hoặc đe dọa sử dụng vũ lực hình thành qua cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa
Phát xít trong chiến tranh thế giới thứ Hai và được các quốc gia và tổ chức
Liên hợp quốc khẳng định trong Hiến chương: “Tất cả các thành viên Liên
hợp quốc từ bỏ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế
nhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị
của bất kỳ quốc gia nào cũng như bằng cách khác trái với những mục đích
của Liên hợp quốc”. Việc tuyên bố nguyên tắc này trong Hiến chương Liên
hợp quốc đã chứng tỏ mong muốn của cộng đồng quốc tế là việc sử dụng vũ
lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực cần phải bị nghiêm cấm và loại bỏ trong quan
hệ quốc tế. Trong khuôn khổ những nỗ lực của Liên hợp quốc nhằm duy trì ổn
định an ninh quốc tế, nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ
lực đã được từng bước cụ thể hóa qua các văn kiện quốc tế quan trọng như
Tuyên bố về các nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh mối quan hệ hữu nghị
và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc được
Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua theo Nghị quyết số 2625 năm 1970 Tuyên bố đặt lên hàng đầu nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử
dụng vũ lực; Tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc năm 1974 về định
nghĩa xâm lược; Tuyên bố năm 1987 về việc nâng cao hiệu quả của nguyên
tắc khước từ đe dọa dùng sức mạnh hoặc đe dọa dùng sức mạnh trong quan hệ
quốc tế…
Về mặt nội dung hai nguyên tắc này có quan hệ mật thiết với nhau,
nghĩa vụ giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình gắn liền với nghĩa
20
vụ không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Tuy nhiên, hai nguyên