LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu hướng toàn cầu hóa, các nước trên thế giới đang hội nhập mạnh
mẽ vào nền kinh tế khu vực cũng như nền kinh tế thế giới trên cơ sở đa phương
hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế. Để có thể tiến hành từng bước hội
nhập vững chắc và thành công, một nhân tố không thể thiếu đó chính là hành
lang pháp lý tiến bộ, theo kịp với thực tiễn quốc tế. Xét trong lĩnh vực thương
mại quốc tế, các nước tham gia phải xây dựng và áp dụng nghiêm túc hệ thống
các nguyên tắc nhằm tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh. Trong hệ
thống các nguyên tắc đó, Tối huệ quốc (MFN) và Đối xử quốc gia (NT) là hai
nguyên tắc cơ bản nhất.
Tối huệ quốc (MFN) và Đối xử quốc gia (NT) có chung bản chất là đối
xử bình đẳng - cơ sở để tạo nên môi trường thương mại quốc tế cạnh tranh lành
mạnh. Hai nguyên tắc này được thể hiện rất rõ qua các hiệp định của Tổ chức
Thương mại quốc tế (WTO), đồng thời cũng là những nguyên tắc quan trọng áp
dụng trong quan hệ hợp tác kinh tế song phương và đa phương.
Nhằm tìm hiểu rõ hơn về hai nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) và Đối xử
quốc gia (NT), nhóm nghiên cứu xin chọn đề tài “Thực tiễn áp dụng nguyên tắc
Tối huệ quốc (MFN) và Đối xử quốc gia (NT) trong thương mại quốc tế” làm đề
tài thuyết trình của nhóm trong quá trình học tập môn Quan hệ kinh tế quốc tế.
Bố cục đề tài được chia làm ba phần chính sau:
I. Giới thiệu chung về nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) và nguyên tắc
Đối xử quốc gia (NT)
II. Thực tiễn áp dụng hai nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) và Đối xử
quốc gia (NT)
III. Tác động của hai nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) và Đối xử quốc gia
(NT)
I. Giới thiệu chung về MFN ( Most Favoured National) và NT( National
Treatment):
1. Nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN- Most Fovoured National)
a. Lịch sử ra đời và khái niệm:
Thuật ngữ MFN là một thuật ngữ có lịch sử lâu đời, nó đã xuất hiện từ
thống thương mại đa phương, với sự ra đời của Hiệp định chung về thuế quan và
thương mại (GATT 1947), MFN đã trở thành nền tảng của thương mại quốc tế.
Theo GATT 1947, MFN là nghĩa vụ ràng buộc chung, bất kỳ một đối xử
nào được dành cho một nước thì ngay lập tức cũng sẽ được mở rộng tới tất cả
các thành viên khác. Điều này cũng được quy định trong một số hiệp định của
WTO. Ví dụ, tất cả thành viên GATT dành cho nhau đối xử thuận lợi trong việc
áp dụng và điều hành các quy định hải quan, thuế quan và các khoản thu khác có
liên quan như đã dành cho bất kỳ một nước khác. Năm 1948, quy chế này chính
thức được GATT đưa vào điều 1 của GATT, trở thành cơ sở quan trọng trong
việc giao dịch thương mại trên thế giới.
MFN là nguyên tắc cơ bản trong hiệp định chung về thương mại hàng
hóa (GATT) nhằm bảo đảm sự đối xử công bằng với các quốc gia tham gia hiệp
định, không cho phép đối xử đặc biệt hơn hoặc kém giữa các nước tham gia
GATT.
Không có một định nghĩa chung về MFN cho mọi lĩnh vực, nhưng xét về
bản chất MFN đơn giản có nghĩa là nếu một nước dành đối xử thuận lợi nhất
cho bất kỳ một nước thì cũng dành đối xử như vậy cho tất cả các thành viên
khác của WTO. Do đó, bản chất của MFN là đối xử bình đẳng, không phân biệt
đối xử và nguyên tắc này đã góp phần thúc đẩy tự do hoá thương mại .
b. Cơ sở pháp lý và cách thức áp dụng
Cơ sở pháp lý:
Cơ sở pháp lý của đãi ngộ tối huệ quốc thường là điều khoản quy định về
MFN. Căn cứ vào điều khoản này mà bên ký kết cùng một bên hoặc nhiều bên
ký kết khác phải thực hiện nghĩa vụ đối với nhau, dành cho nhau những đãi ngộ
tối huệ quốc trong phạm vi áp dụng do WTO quy định.
Có 2 phương pháp để đạt được sự đãi ngộ MFN từ một hay nhiều nước
khác:
+ Kí kết các hiệp định thương mại và trong hiệp định thương mại đó có
các điều khoản quy định về MFN.
+ Quy định của các tố chức quốc tế mà các quốc gia thành viên của tổ
ngộ không kém thuận lợi hơn sự đãi ngộ mà Thành viên đó dành cho dịch vụ và
người cung cấp dịch vụ của bất kỳ nước nào khác”. Nghĩa vụ này có thể được
hiểu là các thành viên WTO sẽ dành cho các thành viên khác và đồng thời được
hưởng từ các thành viên đó đãi ngộ ưu đãi nhất mà mỗi thành viên dành cho bất
kỳ quốc gia nào, bất kể quốc gia đó có là thành viên WTO hay không. Như vậy,
về nguyên tắc, mọi biện pháp mở cửa thị trường đối với các dịch vụ thuộc
GATS, bất kể được cam kết đơn phương, song phương hoặc đa phương đều phải
được áp dụng vô điều kiện với mọi thành viên WTO.
Tuy nhiên, trên thực tế, đàm phán mở cửa thị trường dịch vụ là một nội
dung hết sức phức tạp bởi chính những thuộc tính của thương mại dịch vụ.
Trước hết, do tính chất vô hình của dịch vụ nên rất khó định lượng tác động của
các biện pháp bảo hộ cũng như giá trị của các cam kết tự do hoá trong lĩnh vực
này. Bởi vậy, trong đàm phán về dịch vụ không có được những công thức cắt
giảm chung như trong thương mại hàng hoá và mỗi quốc gia tự đưa ra một lịch
trình cam kết riêng. Với trình độ phát triển, năng lực đàm phán khác nhau, mỗi
quốc gia có một Danh mục cam kết riêng và không nước nào giống nước nào.
Thứ hai, các nhóm nước có cách tiếp cận rất khác nhau trong đàm phán dịch vụ.
Trong khi các nước công nghiệp phát triển muốn thúc đẩy mạnh mẽ các thoả
thuận mở cửa thị trường thì các nước đang phát triển lại hết sức dè dặt trong việc
đưa ra các cam kết. Bên cạnh lý do về trình độ phát triển, một nguyên nhân
không kém phần quan trọng là sự e ngại việc mở cửa thiếu kiểm soát các dịch vụ
nhạy cảm (tài chính, viễn thông, vận tải, giáo dục…) có thể dẫn đến mất ổn
định, tác động tiêu cực tới phát triển kinh tế-xã hội. Cụ thể, trong số các thành
viên đang phát triển của WTO, 44 nước cam kết dưới 20 phân ngành và 47 nước
cam kết từ 21 đến 60 phân ngành. Các nước phát triển đều cam kết từ 60 đến
130 phân ngành. Từ hai lý do cơ bản nêu trên, nếu áp dụng cứng nhắc nguyên
tắc MFN sẽ không thúc đẩy được tiến trình đàm phán dịch vụ. Bởi điều này sẽ
mâu thuẫn với một nguyên tắc quan trọng của đàm phán là nguyên tắc có đi có
lại và không khuyến khích các thành viên tự nguyện đưa ra các cam kết tự do
hoá dịch vụ.
• Bảo vệ đạo đức công cộng
• Bảo vệ cuộc sống của con người, động vật hay thực vật và bảo
vệ sức khoẻ
• Bảo đảm sự tôn trọng pháp luật và các quy tắc không bất tương
thích với các quy định của hiệp định này
• Liên quan tới các sản phẩm sử dụng lao động của tù nhân
• Bảo vệ di sản quốc gia có giá trị nghệ thuật, lịch sử hay khảo
cổ
• Liên quan tới việc gìn giữ nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt,
nếu các biện pháp đó cũng được áp dụng hạn chế cả với sản xuất và
tiêu dùng trong nước
• Thi hành nghĩa vụ của một hiệp định liên chính phủ về một
hàng hoá cơ sở ký kết phù hợp với các tiêu thức đã được đệ trình và
không bị phản đối
• Hạn chế với xuất khẩu nguyên liệu do trong nước sản xuất và
cần thiết có đủ số lượng thiết yếu nguyên liệu đó để đảm bảo hoạt
động chế tác trong thời kỳ giá nội được duy trì dưới giá ngoại nhằm
thực hiện một kế hoạch ổn định kinh tế của chính phủ, với điều kiện
các hạn chế đó không dẫn tới tăng xuất khẩu hay tăng cường mức bảo
hộ với ngành công nghiệp trong nước và không vi phạm các quy định
của GATT về không phân biệt đối xử
• Nhằm có được hay phân phối một sản phẩm thuộc diện khan
hiếm chung trong nước hay tại một địa phương.
- Ngoại lệ về an ninh theo Điều XXI của GATT 1994: Điều XXI của
GATT cho phép các thành viên được hạn chế nhập khẩu từ và xuất khẩu đến
những nước cụ thể vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia.
- Ngoại lệ liên quan đến việc thực hiện nguyên tắc đối xử khác biệt và
thuận lợi hơn cho các nước đang phát triển. Ngoại lệ này cho phép các nước
dành các đối xử khác biệt và thuận lợi hơn cho các nước đang phát triển mà
không đòi hỏi có sự đối đẳng từ các nước đang phát triển và không phải áp dụng
trong thị trường nội địa không kém ưu đãi hơn các sản phẩm nội địa hay các nhà
cung cấp những sản phẩm đó. Trong một số tài liệu cũ, đôi khi nguyên tắc này
còn được gọi là "sự ngang bằng nội địa".
NT tưởng như là một vấn đề đơn giản, nhưng nguyên tắc này đã gây ra
nhiều sự tranh chấp, một phần là vì sự giải thích chặt chẽ của nguyên tắc NT
trên thực tế có thể gây ra sự bất lợi cho các nhà cung cấp nước ngoài. Vì lý do
này, nguyên tắc NT đã được chỉnh lý qua nhiều năm để cho phép đối xử khác
nhau hoặc ưu đãi hơn một cách chính thức đối với các sản phẩm nước ngoài nếu
như đó là cách duy nhất để bảo đảm rằng các sản phẩm nước ngoài không bị
kém lợi thế hơn. Tất nhiên, đôi khi các nước cố tình dành cho các nhà đầu tư
nước ngoài những ưu đãi hơn so với chế độ NT nhằm thu hút đầu tư.
Trước GATT 1947, không một Hiệp ước đa phương nào có quy định về
NT. Sau khi được đưa vào Điều III của GATT 1947, NT đã trở thành nguyên tắc
phổ biến trong các hiệp định thương mại song phương và đa phương. Theo Điều
III của GATT, NT đối với hàng hoá là sự bình đẳng về cơ hội cạnh tranh.
Trong Tuyên bố của OECD năm 1976 về Đầu tư Quốc tế và các công ty
đa quốc gia, đã đề cập đến NT. Văn kiện này thiết lập một tiêu chuẩn được quốc
tế công nhận về sự đối xử nhằm giúp xoá bỏ sự phân biệt đối xử đối với các nhà
đầu tư nước ngoài trong các nước thành viên OECD. Đây không phải là sự cam
kết có tính chế định nhưng dựa trên những thủ tục định chế được thoả thuận.
WTO được thành lập là một bước ngoặt trong việc mở rộng phạm vi áp
dụng của nguyên tắc NT. Lần đầu tiên có một điều khoản liên quan đến Đối xử
quốc gia trong dịch vụ, (Điều XVII Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ-
GATS), để đảm bảo cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài và các dịch vụ
tương ứng của họ được đối xử ngang bằng so với các nhà cung cấp dịch vụ trong
nước và các dịch vụ mà họ cung cấp.
- Quy tắc NT được hiểu là hàng hóa nhập khẩu,dịch vụ và quyền sở hữu trí
tuệ nước ngoài phải được đối xử không kém thuận lợi hơn so với hàng hóa cùng
loại trong nước.
- Quy chế này thể hiện sự đối xử công bằng giữa hàng hóa nhập khẩu và
Theo nguyên tắc đối xử quốc gia được quy định tại điều 2 TRIMS, có 5 biện
pháp đầu tư cụ thể bị cấm áp dụng: Cấm các quốc gia đặt ra biện pháp đối xử
với hàng hóa nhập khẩu kém thuận lợi hơn hàng hóa trong nước, nếu làm như
thế sẽ vi phạm nguyên tắc đãi ngộ quốc gia:
- Yêu cầu tỉ lệ nội địa hóa
- Yêu cầu cân bằng mậu dịch, quy định không được sử dụng các
hạn chế số lượng đối với hàng nhập khẩu và xuất khẩu.
- Yêu cầu cân bằng mậu dịch dẫn đến hạn chế nhập khẩu.
- Hạn chế giao dịch ngoại hối dẫn đến hạn chế nhập khẩu.
- Yêu cầu tiêu thụ nội địa dẫn đến hạn chế xuất khẩu.
Các nước phải chỉnh lý các biện pháp trái với hiệp định này trong một
khoảng thời gian ấn định và chỉ có một số trường hợp ngoại lệ.
Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ:
Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, mỗi bên ký kết, phù hợp với luật và các thủ tục
của mình, phải dành cho những tác phẩm của những nhà sáng tạo và nghệ sĩ là
công dân hoặc người thường trú của bên ký kết kia và cho các tác phẩm công bố
lần đầu tại lãnh thổ của bên ký kết kia sự bảo hộ bản quyền không kém thuận lợi
hơn sự bảo hộ mà bên đó dành cho công dân của chính mình.
Việt Nam sẽ tuân thủ ngay lập tức Hiệp định về sở hữu trí tuệ liên quan đến
thương mại (TRIPS), không có giai đoạn chuyển đổi.
c. Ngoại lệ NT