Dạy học hình học trung học cơ sở theo hướng vận dụng thuyết đa trí tuệ - Pdf 58

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
------------------

NGUYỄN TRUNG THANH

DẠY HỌC HÌNH HỌC TRUNG HỌC CƠ SỞ
THEO HƯỚNG VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
------------------

NGUYỄN TRUNG THANH

DẠY HỌC HÌNH HỌC TRUNG HỌC CƠ SỞ
THEO HƯỚNG VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ
Chuyên ngành: Lí luận và PP dạy học bộ môn Toán
Mã số: 9.14.01.11

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS Tôn Thân

2. TS Đặng Thị Thu Thủy

Kiều, PGS.TS Phạm Đức Quang, GS.TS Bùi Văn Nghị,...đã luôn giúp đỡ, đóng góp
những ý kiến quý báu và chân thành để tôi sớm hoàn thành luận án.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cám ơn những người thân trong gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, tạo mọi điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu
tốt nhất để tôi có thể hoàn thành luận án của mình.
Trân trọng cám ơn!


iii

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Lí do chọn đề tài .................................................................................................. 1
2. Mục đích nghiên cứu ........................................................................................... 2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ................................................................. 2
4. Giả thuyết khoa học ............................................................................................. 3
5. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................. 3
6. Các phương pháp nghiên cứu.............................................................................. 3
7. Những đóng góp mới của luận án ........................................................................ 3
8. Những luận điểm đưa ra bảo vệ ........................................................................... 4
9. Cấu trúc của luận án ............................................................................................ 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ............................................. 5
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài .......................... 5
1.1.1. Một số vấn đề chung về thuyết Đa trí tuệ ................................................... 5
1.1.2. Tình hình nghiên cứu về dạy học theo hướng vận dụng thuyết Đa trí
tuệ trên thế giới và ở Việt Nam ........................................................................... 9
1.2. Đổi mới dạy học môn Toán Trung học cơ sở ở nước ta hiện nay ............... 16
1.2.1. Dạy học môn Toán theo tiếp cận phát triển năng lực................................ 16
1.2.2. Yêu cầu dạy học môn Toán theo tiếp cận phát triển năng lực................... 17
1.3. Một số vấn đề dạy học Hình học Trung học cơ sở theo hướng vận dụng

2.1.5. Định hướng 5: Đảm bảo tính khả thi, dễ áp dụng đối với giáo viên và
học sinh ............................................................................................................. 63
2.2. Đề xuất các biện pháp dạy học Hình học Trung học cơ sở theo hướng
vận dụng thuyết Đa trí tuệ .................................................................................. 63
2.2.1. Biện pháp 1: Đánh giá các dạng trí tuệ nổi trội của học sinh .................... 64
2.2.2. Biện pháp 2: Xác định mục tiêu bài học theo hướng vận dụng thuyết
Đa trí tuệ ........................................................................................................... 66
2.2.3. Biện pháp 3: Khai thác, lựa chọn và thiết kế nội dung dạy học theo
hướng vận dụng thuyết Đa trí tuệ ...................................................................... 72
2.2.4. Biện pháp 4: Tập luyện cho học sinh sử dụng các dạng trí tuệ nổi trội
trong các tình huống dạy học điển hình ............................................................. 90
2.2.5. Biện pháp 5: Lựa chọn và sử dụng các phương pháp dạy học, kĩ thuật
dạy học và phương tiện dạy học theo hướng vận dụng thuyết Đa trí tuệ .......... 110


v

2.2.6. Biện pháp 6: Đánh giá sự tiến bộ của học sinh trong dạy học Hình học
theo hướng vận dụng thuyết Đa trí tuệ............................................................. 124
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .................................................................................. 132
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ..................................................... 133
3.1. Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm ..................................... 133
3.1.1. Mục đích thực nghiệm ........................................................................... 133
3.1.2. Nhiệm vụ thực nghiệm .......................................................................... 133
3.2. Tổ chức thực nghiệm và nội dung thực nghiệm sư phạm ......................... 133
3.2.1. Tổ chức thực nghiệm ............................................................................. 133
3.2.2. Nội dung thực nghiệm ........................................................................... 135
3.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm ................................................................... 135
3.3.1. Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm ........................................... 135
3.3.2. Kết quả thực nghiệm sư phạm ............................................................... 136

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

DH

Dạy học

ĐC

Đối chứng

GV

Giáo viên

GDPT

Giáo dục phổ thông



Hoạt động

HS

Học sinh

NL

Năng lực


Sách giáo viên

THCS

Trung học cơ sở

TN

Thực nghiệm

TNSP

Thực nghiệm sư phạm

Tr

Trang


vii

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1.

Kết quả khảo sát HS ........................................................................... 56

Bảng 2.1.

Bảng phân loại về biểu hiện các dạng trí tuệ của HS........................... 65


Trong những năm gần đây, việc ứng dụng các thành tựu của tâm lý học
hiện đại vào DH Toán luôn được các nhà nghiên cứu giáo dục Toán học quan tâm,
trong đó có thuyết Đa trí tuệ của nhà tâm lý học người Mỹ Howard Gardner.
Thuyết này cho rằng mỗi người đều có tám dạng trí tuệ, bao gồm: Trí tuệ ngôn ngữ,
trí tuệ logic/toán, trí tuệ không gian, trí tuệ hình thể - động năng, trí tuệ âm nhạc,
trí tuệ giao tiếp, trí tuệ nội tâm và trí tuệ tự nhiên học. Thực tế DH hiện nay cho
thấy trong các trường học thường chú trọng phát huy trí tuệ ngôn ngữ và trí tuệ
logic/toán. Quá trình DH đã bỏ qua những thế mạnh học tập thông qua các dạng
trí tuệ khác như: trí tuệ không gian, trí tuệ giao tiếp, trí tuệ nội tâm, trí tuệ tự
nhiên học,.. của HS. Nhiều HS đã có thể học tập tốt hơn nếu các em có điều kiện
phát huy được những dạng trí tuệ nổi trội của mình trong các HĐ học tập. Thuyết
Đa trí tuệ mang tính giáo dục nhân văn và cần thiết trong DH, kêu gọi nhà trường,
GV cần coi trọng sự đa dạng về trí tuệ ở mỗi HS. Mỗi dạng trí tuệ đều quan trọng
và mỗi HS đều có ít nhiều thế mạnh, sở trường học tập riêng của mình. Do đó, yêu
cầu nhà trường, GV phải có biện pháp khơi gợi tiềm năng và tạo điều kiện cho HS
được học tập theo đúng thế mạnh của mình trong quá trình học tập.
Các chủ trương, chính sách về giáo dục và đào tạo ở nước ta đề ra mục tiêu
"Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng,
khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân". Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới
căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu rõ quan điểm "Chuyển mạnh quá
trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện NL và phẩm
chất người học", và mục tiêu cụ thể đối với giáo dục PT, tập trung phát triển trí tuệ,
thể chất, hình thành phẩm chất, NL công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu,
định hướng nghề nghiệp cho HS. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng
giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, NL và kỹ
năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự
học, khuyến khích học tập suốt đời. Bảo đảm cho HS có trình độ THCS (hết lớp 9)
có tri thức PT nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau THCS [66]. Theo đó,
xu hướng vận dụng thuyết Đa trí tuệ vào đổi mới DH ở trường PT là cần thiết,


- Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp DH Hình học THCS theo hướng vận
dụng thuyết Đa trí tuệ.


3
4. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và thực hiện được một số biện pháp sư phạm thích hợp trong
DH Hình học THCS theo hướng vận dụng thuyết Đa trí tuệ thì có thể góp phần
nâng cao hiệu quả DH môn Toán.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu về DH Hình học các lớp 8 và 9 theo hướng
vận dụng thuyết Đa trí tuệ.
- Đề xuất một số biện pháp DH Hình học THCS theo hướng vận dụng thuyết
Đa trí tuệ. Trong mỗi biện pháp chỉ trình bày mục đích và cách thức thực hiện.
- Thực nghiệm tiến hành ở 2 trường THCS thuộc địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
- Thời gian thực nghiệm: trong 2 năm học 2015 - 2016; 2016 - 2017.
6. Các phương pháp nghiên cứu
Tập trung vào sử dụng phối hợp một số PP sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các công trình khoa học,
các tài liệu/hồi cứu tư liệu, phân tích, tổng hợp tài liệu, tư liệu để làm rõ các vấn
đề về DH Hình học THCS theo hướng vận dụng thuyết Đa trí tuệ.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Kết hợp nghiên cứu định lượng và
định tính để tìm hiểu thực trạng vấn đề DH Hình học THCS theo hướng vận dụng
thuyết Đa trí tuệ. Sử dụng các PP: quan sát, dự giờ, tìm hiểu giáo án, sử dụng
phiếu thăm dò, phỏng vấn.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm sư phạm
nhằm kiểm định tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp sư phạm DH Hình học
THCS theo hướng vận dụng thuyết Đa trí tuệ.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Lựa chọn 8 HS lớp 8A trường
THCS Đông Hòa để theo dõi trong và sau thời gian tác động sư phạm.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
1.1.1. Một số vấn đề chung về thuyết Đa trí tuệ
1.1.1.1. Về thuật ngữ có liên quan đến trí tuệ
Ít có lĩnh vực nào trong khoa học lại có nhiều tên gọi như lĩnh vực trí tuệ: trí
khôn, trí tuệ, trí thông minh. Dĩ nhiên mỗi thuật ngữ có sắc thái riêng và được dùng
trong các văn cảnh nhất định. Tuy vậy, để thuận lợi cho việc trao đổi nội dung khoa
học, cần có sự thống nhất chung về thuật ngữ, mặc dù, sự thống nhất này chỉ có tính
tương đối.
- Trí khôn, theo thuật ngữ dân gian được đồng hóa với trí thông minh. Theo
dân gian, trí khôn là một thứ gì đó được Trời, Đất ban cho. Theo Charles Spearman
(1927) và Robert Sternberg (1985), trí khôn là một sự thích nghi của tinh thần vào các
hoàn cảnh mới. Trí khôn chỉ xuất hiện với những hành vi bừng sáng của trí tuệ [30,tr.5].
- Trí tuệ, được dùng để mô tả cấu trúc hoạt động trí óc, nhằm đảm bảo sự
thích ứng giữa những chủ thể với những thay đổi của những điều kiện sống. Trí tuệ
gồm những NL như trí nhớ, nhận thức, chú ý và tưởng tượng cũng như các kỹ năng
nhận thức như giải quyết vấn đề, lập kế hoạch và đọc [30, tr.5].
- Trí thông minh, được hiểu là trí tuệ, song ở mức độ phát triển cao. Cốt lõi
của trí thông minh là tư duy tích cực, độc lập, linh hoạt, sáng tạo trước những vấn
đề thực tiễn, lý luận và liên quan chặt chẽ với trình độ văn hóa của mỗi người. Tóm
lại trí thông minh là: 1) có trí lực tốt, hiểu nhanh, tiếp thu nhanh; 2) nhanh trí và
khôn khéo, tài tình trong cách ứng đáp đối phó [30, tr.5].
Theo Nguyễn Khắc Viện (1991), có sự khác nhau giữa trí khôn và trí tuệ. Trí
khôn là khả năng hành động thích nghi với những biến động của hoàn cảnh, thiên
về hành động. Trí tuệ cũng là khả năng thích nghi nhưng thiên về tư duy trừu tượng.
Một số nhà nghiên cứu khác ở Việt Nam như: Phạm Hoàng Gia (1979), Nguyễn Kế
Hào (1985),.. coi trí thông minh là một phẩm chất cao của trí tuệ, tác giả có đề cập
đến các vấn đề: khả năng lĩnh hội nhanh chóng và hiệu quả, khả năng tư duy trừu
tượng, khả năng thích ứng với môi trường mới [55].
Như vậy, các thuật ngữ trí khôn, trí tuệ và trí thông minh đều có điểm trùng

năng khiếu về lôgic toán học liên quan đến khả năng tư duy giải quyết những vấn
đề toán học. Nó cũng cho phép trẻ hiểu những khái niệm trừu tượng, tư duy logic,
suy luận quy nạp và suy diễn. Trẻ nổi trội ở dạng trí tuệ này thường có thiên hướng
học tập thông qua các lập luận logic, tính toán, lập trình, chơi xếp hình.
iii) Trí tuệ không gian (Spatial - Visual Intelligence): Điểm nổi trội của dạng
trí tuệ này bao gồm trí tưởng tượng, suy luận trong không gian, vận dụng hình ảnh,
các kỹ năng đồ họa và nghệ thuật, không gian "ba chiều". Những trẻ sở hữu trí tuệ


7
không gian sẽ nhạy cảm với màu sắc, hình khối, ghép hình, tìm kiếm mê cung hoặc
vẽ tranh, nặn tượng. Học tốt thông qua thị giác/không gian, suy nghĩ dựa trên hình
ảnh; Những trẻ nổi trội dạng trí tuệ không gian thường có thiên hướng học tập thông
qua hình ảnh, đồ vật, sử dụng tốt bản đồ và định hướng tốt trong không gian;
iv) Trí tuệ hình thể - động năng (Bodily - Kinesthetic Intelligence): Trẻ sở
hữu dạng trí tuệ này biết cách phối hợp cơ thể, nhạy bén trong việc điều khiển cơ
thể để có hành động và phản ứng trước những tình huống tự nhiên. Đặc biệt, có thể
làm được các cử chỉ phức tạp bằng ngôn ngữ của cơ thể, khi tiếp xúc với người
khác. Học tốt thông qua các hoạt động di chuyển cơ thể, khéo léo tay, chân;.. Những
trẻ sở hữu trí tuệ ở dạng này thường có thiên hướng học tập thông qua những hoạt động
vận động, sử dụng động tác, cảm thấy thích thú khi vận động cơ thể, chơi thể thao.
v) Trí tuệ âm nhạc (Musical Intelligence): Điểm nổi bật của dạng trí tuệ này
là nhạy cảm với độ cao thấp, nhịp điệu, âm sắc, âm thanh. Trẻ sở hữu trí tuệ âm
nhạc có thể cảm nhận giai điệu, nhịp độ cao thấp, hiểu âm luật, hát được theo nhạc.
Trẻ có trí tuệ này có thiên hướng học tập thông qua các giai điệu, âm nhạc, thích
chơi nhạc cụ, hát, đọc truyền cảm các tác phẩm;
vi) Trí tuệ giao tiếp (Interpersonal Intelligence): Đặc điểm của dạng trí tuệ
này thường biểu hiện sự nhạy cảm với tâm lí người khác, hiểu tâm trạng, tính khí,
động cơ, mục đích, thích tương tác với người khác; có đầu óc tổ chức, khả năng lôi
cuốn, thuyết phục cao, thấu hiểu trong nhìn nhận, đánh giá các đối tượng (con người,

mức độ thấp (kém phát triển) về các dạng trí tuệ còn lại. Mỗi dạng trí tuệ đều có thể
được phát huy, nếu được khuyến khích [3, tr.22].
- Tính thực tiễn: Howard Gardner cho rằng trí tuệ là NL giải quyết vấn đề
trong thực tiễn của cá nhân nào đó, cũng là NL sản xuất hay sáng tạo ra các sản
phẩm có hiệu quả phù hợp với nhu cầu xã hội. Ông nhấn mạnh trí tuệ không phải là
một dạng vật chất trí não do ông trời tặng không cho số ít người may mắn nào đó,
mà trí tuệ phải do mỗi người ở phương diện nào đó, trong khả năng nào đó tự giải
quyết những vấn đề thực tế trong cuộc sống.
- Tính khơi gợi: Dù cá nhân sở hữu các dạng trí tuệ ở mức độ nào, cá nhân
đó cũng có thể khám phá, rèn luyện và phát triển nó. Mỗi dạng trí tuệ đều có nhiều
cách biểu hiện khác nhau. Chẳng hạn, học Toán chính là làm Toán (G. Polya: Cách
duy nhất để học toán là làm Toán). Học Toán trước hết là bản thân người học phải
tư duy và lập luận toán học (trí tuệ lôgic/toán), muốn tư duy và lập luận toán học
có hiệu quả, người học phải thao tác trên các công cụ và phương tiện học toán (trí
tuệ không gian). Học Toán cũng như học các môn học khác, trước hết là tự học, tự
tư duy độc tập (trí tuệ nội tâm) và cũng phải chia sẻ, tương tác với người khác (trí
tuệ giao tiếp). Học Toán phát triển trí tuệ ngôn ngữ: đọc, viết, nói, nghe;... Phần


9
lớn các HĐ học tập và làm việc đều sử dụng nhiều dạng trí tuệ, chứ không chỉ sử
dụng một dạng trí tuệ đơn lẻ duy nhất nào đó.
Từ các đặc điểm trên cho thấy, thuyết Đa trí tuệ của Howard Gardner đã giúp
chúng ta hiểu thêm về trí tuệ của con người theo cách thức mới, đa dạng hơn,
khoáng đạt hơn; đã giải thích tại sao có nhiều người lúc còn đi học thì rất bình
thường, thậm chí kết quả học tập yếu kém, nhưng sau đó lại rất thành công trong
cuộc sống. Thông điệp của Howard Gardner truyền tải cho các GV rất rõ ràng: Khi
giáo dục và phát triển con người cần thông qua các điểm mạnh của họ, chúng ta
không chỉ kích thích sự phát triển mà còn đặt niềm tin vào người học mới có thể đạt
được các mục tiêu giáo dục.

- Nếu HS có trí tuệ logic toán thì lợi dụng những mặt mạnh ấy để học tốt
môn toán và các môn khoa học tự nhiên;


12
- Nếu HS có trí tuệ không gian nổi trội, GV giúp HS lợi dụng thế mạnh này để
học môn toán và môn địa lí và chia sẻ với HS khác về cách vẽ tác phẩm nghệ thuật;
- Nếu HS có trí tuệ giao tiếp nổi trội, GV tổ chức các HĐ học tập mà HS có
nhiểu cơ hội được tương tác với nhau;
- Nếu HS có trí tuệ nội tâm, GV cần giúp HS tự đề xuất, kế hoạch, mục tiêu
học tập cho mình,....
Các kết quả nghiên cứu của Thomas Armstrong, Lirde Campbell, Bruce
Campbell & Dee Dickinson, Thomas R. Hoerr về việc vận dụng thuyết Đa trí tuệ
vào DH cho các môn học nói chung được tóm lược như trên thì vấn đề về DH môn
Toán theo hướng vận dụng thuyết Đa trí tuệ, trên thế giới đã có một số công trình
như: Mark Wahl (1997), Toán học cho mọi người: DH toán theo bảy loại hình trí
tuệ [108], Hope Martin (1999), Đa trí tuệ và các chuẩn mực - Toán học căn bản
[107];.... Kết quả nghiên cứu của Mark Wahl, có giới thiệu về PPDH Đa trí tuệ.
Ông cho rằng trong DH Toán không chỉ quan tâm đến trí tuệ logic/toán, cần tạo
môi trường học tập để các dạng trí tuệ nổi trội khác có được cơ hội phát triển. Tác
giả đề xuất một số kĩ thuật DH giúp cho HS cách phát triển từng dạng trí tuệ trong
quá trình DH toán như sau:
- Trí tuệ ngôn ngữ: (1) Từ vựng và ngôn ngữ: học, ghi nhớ kí hiệu toán học
và ứng dụng chính xác trong các HĐ; (2) Nghe kể chuyện, đối thoại, thuyết giảng;
(3) Đối thoại chính thức hoặc phi chính thức như: dùng các kí hiệu, ngôn ngữ, mẫu
câu để tiến hành, đối thoại, thảo luận, tranh luận; (4) Diễn thuyết, phát biểu không
chuẩn bị trước; (5) Kể chuyện, kể một câu chuyện toán học bất kỳ; (6) Đọc hiểu,
đọc thầm, đọc to, đọc tập thể; (7) Viết, viết nhật ký, viết tổng kết bài học nhằm duy
trì tư duy và suy nghĩ của người học;
-Trí tuệ lôgic/toán: (1) Trò chơi lôgic: Đếm số, chơi súc sắc, tìm quy luật

tuệ ngôn ngữ và trí tuệ giao tiếp);.. thì được GV hướng dẫn cách sử dụng ngôn ngữ
để đọc, viết các tài liệu và trao đổi, thảo luận với bạn bè, GV về đối tượng Hình học.
Tương tự, HS nổi trội về trí tuệ lôgic/toán hãy tạo điều kiện để các em được phân
tích, so sánh, tổng hợp, suy luận và chứng minh; HS nổi trội về trí tuệ không gian
thì được phát huy NL nhận biết, quan sát về đặc điểm các hình hình học, đọc hiểu
bản đồ, nhận biết hình từ các vị trí khác nhau; tạo ra các biểu tượng không gian hai
chiều hay ba chiều, vẽ hình đồng dạng, vẽ hình đối xứng; ...
Như vậy, trên thế giới nghiên cứu về vận dụng thuyết Đa trí tuệ vào DH nói
chung và DH môn Toán phổ thông nói riêng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều
nhà khoa học giáo dục. Những kết quả nghiên cứu trên là nền tảng quan trọng để
chúng tôi kế thừa trong đề tài của mình.


14
1.1.2.2. Nghiên cứu ở Việt Nam
Tại Việt Nam những năm gần đây, đã có một số bài viết, luận văn, mới nhất là
có những luận án Tiến sĩ đã đề cập đến việc vận dụng thuyết Đa trí tuệ vào DH ở các
môn học nói chung và DH Toán nói riêng. Có thể phân tích một vài công trình mà
trong đó có sự liên quan đến DH theo hướng vận dụng thuyết Đa trí tuệ, như sau:
1) Các bài báo viết về DH theo hướng vận dụng thuyết Đa trí tuệ, gồm có:
Bài viết của Trần Khánh Đức (2010) [34] cho rằng, để phát triển các NL (dạng trí
thông minh) ở người học, PPDH cần có đổi mới căn bản từ quan niệm, quy trình, kỹ
thuật, cách thức thực hiện,.. trên cơ sở kết hợp đa PP, đa thông tin, đa giác quan, đa
phương tiện, đa hình thức tổ chức HĐ học tập theo các dạng trí tuệ của HS; Bài viết
của các tác giả Trần Đình Châu - Đặng Thị Thu Thuỷ (2013), “Vận dụng thuyết đa
trí tuệ trong DH phổ thông”, Tạp chí Giáo dục, số 316, tr.34 - 36 [25]; Phan Văn
Nhân (2013), “DH theo thuyết đa trí tuệ” Tạp chí khoa học giáo dục, số 98, tr.9-11
[65],... cho rằng để từng bước vận dụng thuyết Đa trí tuệ trong DH, trước hết GV
cần hiểu rằng mỗi HS đều có những NL trí tuệ đặc thù, GV cần coi trọng sự đa dạng
về trí tuệ ở mỗi HS, mỗi dạng trí tuệ đều quan trọng, nhà trường, thầy cô giáo, phụ

biện pháp vận dụng thuyết Đa trí tuệ vào DH Toán lớp 10,... Nhìn chung, các luận
văn này chưa chỉ ra được tính đặc thù của DH toán ở trường PT nói chung và DH
Hình học THCS theo hướng vận dụng thuyết Đa trí tuệ là như thế nào, chưa có
nhiều đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn.
3) Tác giả Nguyễn Thị Thanh Tuyền (2017), với luận án tiến sĩ "DH theo
hướng hỗ trợ HS lớp 4 gặp khó khăn trong học Toán", có đề xuất biện pháp: Sử
dụng biện pháp DH phân hóa cho từng cá nhân có chú ý đến loại hình trí tuệ nổi
trội của HS [95]. Nội dung của biện pháp, đưa ra chiến lược DH môn toán lớp 4
theo các dạng trí tuệ nổi trội; Xây dựng các bước thiết kế kế hoạch DH phân hóa
theo hướng đa trí tuệ; Hướng dẫn cách thức tổ chức DH môn toán lớp 4 theo các
hợp đồng đa trí tuệ; Đưa ra các bước tiến hành hỗ trợ cá nhân theo loại hình trí tuệ.
Luận án "DH Toán THPT chuyên theo hướng tiếp cận thuyết Đa trí tuệ" [96],
của tác giả Trần Văn Trung (2018), có chỉ ra một số biểu hiện các dạng trí tuệ đối
tượng HS chuyên Toán trong DH toán THPT chuyên; Đề xuất các chiến lược DH
toán THPT chuyên theo hướng tiếp cận các dạng trí tuệ. Đồng thời đề xuất ba nhóm
biện pháp gồm 6 biện pháp sư phạm DH toán theo định hướng vận dụng thuyết Đa
trí tuệ nhằm bồi dưỡng Đa trí tuệ cho HS chuyên Toán.
Nhìn chung những vấn đề nêu trên cho thấy ở Việt Nam, có rất ít các công
trình nghiên cứu về DH môn Toán phổ thông theo hướng vận dụng thuyết Đa trí
tuệ và nghiên cứu về DH Hình học THCS theo hướng vận dụng chưa có tác giả
nào đề cập.


16
1.1.2.3. Những vấn đề luận án cần nghiên cứu
Các nghiên cứu giáo dục đều khẳng định tầm quan trọng của DH theo hướng
vận dụng thuyết Đa trí tuệ. DH theo hướng vận dụng thuyết Đa trí tuệ là một quan
điểm DH nhân văn đã được nhiều nhà khoa học giáo dục và GV ứng dụng trong
giáo dục phổ thông. Tại Việt Nam, vấn đề DH theo hướng vận dụng thuyết Đa trí
tuệ cũng đã được nghiên cứu, vận dụng ở nhiều phương diện và mức độ khác nhau,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status