VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ XÂYDỰNG PHONG CÁCH HỘC TẬP CHO TRẺ MẦM NON - Pdf 49

VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHÒNG SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
(Chương trình sau đại học)

VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ
TUỆ ĐỂ XÂY DỰNG PHONG
CÁCH HỌC TẬP CHO TRẺ MẦM
NON
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM PHƯỚC MẠNH
NGƯỜI THỰC HIỆN:

TRẦN THỊ LÊ TRÂM
MSHV: GDMN-17-019
CAO HỌC KHÓA 28
NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÁNG 5, NĂM 2018

Page 1


VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ
MỤC LỤC

I.

Howard Gardner và Thuyết đa trí tuệ
1. Tiểu sử Howard Gardner

nhận bằng nhiều cách, mang tính đa dạng, được nghiên cứu và công bố bởi tiến
sĩ Howard Gardner. Theo Gardner, trí thông minh (intelligence) được ông quan niệm như
sau "là khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm mà các giải pháp hay sản
phẩm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn hóa" và trí thông minh cũng
không thể chỉ được đo lường duy nhất qua chỉ số IQ.
2.2.

Cơ sở khoa học
Những nghiên cứu về trí thông minh trước Howard Gardner

2.2.1.

Năm 1905, nhà Tâm lý học người Pháp Alfred Binet lần đầu tiên đưa ra một bảng
test làm thước đo về độ thông minh, với mục đích phân loại học sinh thành những nhóm
tương đương về trí tuệ để thuận tiện cho việc đào tạo.
Năm 1912, nhà Triết học và Tâm lý học người Đức William Stern cho ra đời thuật
ngữ IQ (intelligence quotient). Ông đã sử dụng thương số giữa Tuổi trí tuệ (phản ánh mức
độ phát triển trí tuệ của một người) với Tuổi sinh học (tuổi thực tế của người đó) để tính
toán sự phát triển trí tuệ của một cá nhân.
Page 3


VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ
Năm 1916, Lewis M. Terman, một nhà Tâm lý học ở trường ĐH Stanford đã cải
tiến cách tính này, bằng việc nhân thương số trên với 100 để bỏ bớt số lẻ sau dấu thập
phân.
Công thức tính chỉ số thông minh của ông: IQ=Tuổi trí tuệ*100/Tuổi sinh học đã
được công nhận và sử dụng rộng rãi.
Ông cũng hoàn thiện thêm từ bảng test của Binet để tạo nên bản trắc nghiệm
Stanford-Binet được coi là bản gốc cho nhiều bài test IQ hiện nay.

Đặc điểm 1: Mỗi trí thông minh có khả năng được biểu tượng hoá.

Thuyết trí thông minh đa dạng đã đưa ra một khía cạnh về khái niệm trí thông
minh, cho rằng khả năng biểu tượng hoá trong tư duy con người hay khả năng diễn đạt
những ý tưởng, kinh nghiệm thông qua sự miêu tả các hình ảnh, con số và các từ ngữ, là
dấu hiệu để xác nhận đó là trí thông minh của con người.
Thuyết trí thông minh đa dạng cho rằng, có nhiều cách khác nhau mà mỗi loại trí
thông minh có thể sử dụng để biểu tượng hoá. Những người có tư duy lô-gic toán học sử
dụng các con số và các chữ số Hy Lạp, trong số các loại ký hiệu khác, để đáp ứng các tư
duy và nhu cầu có tính lý trí của họ.
Ở một mặt khác, những nhà soạn nhạc hoặc nhạc sĩ lại thường hay sử dụng các nốt
nhạc trầm bổng để biểu tượng hóa các giai điệu và tiết tấu của họ. Marcel Marcean lại sử
dụng các cử chỉ động tác phức tạp và sự diễn giải bằng các dấu hiệu của vận động thân
thể để biểu diễn các khái niệm như sự tự do và trạng thái cô đơn. Ngoài ra cũng còn các
ký hiệu mang tính xã hội, chẳng hạn như cái vẫy tay chào tạm biệt và những ký hiệu của
cái tôi, như đã biết, thí dụ như các hình ảnh của giấc mơ vào buổi sáng sớm.


Đặc điểm 2: Mỗi trí thông minh đều có một lịch sử phát triển của riêng
nó.

Trí thông minh không phải là một điều gì lạ thường có tính tuyệt đối như những
người trung thành với quan niệm về trí thông minh theo kiểu chỉ số IQ. Những người này
cho rằng trí thông minh được sinh ra rồi được duy trì ổn định, bền vững trong suốt cả
chiều dài cuộc đời của mỗi người.
Theo thuyết trí thông minh đa dạng, mỗi loại trí thông minh biểu hiện ra vào một
thời điểm xác định trong thời thơ ấu, chúng đều có một chu kỳ bộc lộ và phát triển tiềm
Page 5



Page 6


VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ
não trái thì không thể nói và viết bình thường được nhưng vẫn có thể hát, vẽ, và nhảy
múa không hề có một chút khó khăn nào. Trong trường hợp này thì trí thông minh về
ngôn ngữ của anh ta đã bị suy giảm, hư hại một phần. Mặt khác, những người bị thương
ở thuỳ thái dương bên phải có thể khó khăn khi thực hiện những công việc mang tính
chất âm nhạc, nhưng anh ta có thể nói, đọc và viết một cách dễ dàng. Những bệnh nhân
bị thương ở thuỳ chẩm của bán cầu não bên phải có thể bị suy giảm đáng kể những khả
năng về nhận biết gương mặt, khả năng quan sát hoặc nhận biết những chi tiết trực quan.
Lý thuyết về trí thông minh còn đang tranh luận về việc có tồn tại hay không 7 hệ
thống của não bộ hoạt động một cách tương đối độc lập. Trí thông minh ngôn ngữ xem ra
như là một chức năng chính của bán cầu não trái ở đa số mọi người, trong khi trí thông
minh về âm nhạc, không gian và năng lực tương tác có xu hướng tập trung tại bán cầu
não phải nhiều hơn. Trí thông minh về năng lực vận động thân thể gồm có vỏ não vận
động, những hành thần kinh cơ sở và bộ phận trước não. Thuỳ trước trán là đặc biệt quan
trọng đối với trí thông minh của con người.
Bộ não là một tổ hợp phức tạp lạ thường đến mức khó tin nên không thể phân chia
ra được một cách rõ ràng thành 7 khu vực có ranh giới như bản đồ. Tuy nhiên, lý thuyết
về trí thông minh đa dạng đã tổng hợp những kết quả đã được khám phá trong hơn 20
năm qua trong lĩnh vực tâm lý học thần kinh theo một cách riêng biệt đáng được chú ý.
Đặc điểm 4: Mỗi loại trí thông minh có những nền tảng giá trị văn hoá riêng
của nó.
Thuyết trí thông minh đa dạng cho rằng, những biểu lộ của trí thông minh được
đánh giá một cách tốt nhất bằng việc nhìn vào những khả năng đóng góp cao nhất của nó
đối với xã hội, chứ không phải là việc giành được kết quả tốt hay không trong các cuộc
kiểm tra. Những kỹ năng tiêu biểu cho việc kiểm tra chỉ số IQ, chẳng hạn như khả năng
lặp lại những con số ngẫu nhiên theo chiều thuận hoặc chiều ngược, hay năng lực để giải
quyết những vấn đề nào đó có tính chất tương tự như vậy, là làm hạn chế những giá trị

trí nhớ, sự tập trung, tri giác và cách giải quyết vấn đề. Thậm chí 8 loại trí thông minh
còn có cả lịch sử tiến hoá riêng của mỗi loại. Trí thông minh về âm nhạc có một phần
Page 8


VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ
hàm chứa tiếng hót của chim muông, trong khi trí thông minh về vận động thân thể xuất
hiện từ những hoạt động săn bắn trong những giai đoạn sơ khai đầu tiên của lịch sử loài
người. Những ai muốn thấy các số liệu có thể định lượng được về những vấn đề trên thì
chính các kết quả kiểm tra tâm lý và nghiên cứu thực nghiệm sẽ là một sự ủng hộ và
khẳng định. Lý thuyết về trí thông minh đa dạng không chỉ là một ý kiến đơn thuần. Nó
được lập nên từ việc tổng hợp các kết quả nghiên cứu mới nhất của những đề tài khoa học
về trí thông minh đang hiện hành

II.

Những luận điểm cơ bản của Thuyết đa trí tuệ
1. Những luận điểm cơ bản của Thuyết đa trí tuệ
Theo Giáo sư Howard Gardner, trí thông minh được hiểu như sau:
1. Khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm mà các giải pháp hay

sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều nền văn hóa;
2. Một tập hợp các kỹ năng mà làm cho nó có thể cho một người để giải quyết các
vấn đề trong cuộc sống;
3. Tiềm năng cho việc tìm kiếm hoặc tạo ra các giải pháp cho các vấn đề, trong đó
có việc thu thập kiến thức mới.
Định nghĩa này dẫn chúng ta đến câu hỏi cho chính chúng ta: khi con cái của chúng
ta có khả năng “giải quyết vấn đề” và khả năng “tạo ra” nhưng mà không có giá trị thiết
thực cho xã hội thì liệu con cái chúng ta có thông minh thật không?
Để làm rõ vấn đề này, chúng tôi xin đề cập một số luận điểm chính mà ông nêu ra

thế nào để đạt được một trình độ đáng nể về khả năng chơi đàn vĩ cầm hay dương cầm
nhờ một kết hợp hài hòa các tác động môi trường, như nhiệt tình của phụ huynh, cơ may
được tiếp xúc từ nhỏ với nhạc cổ điển và sự dạy dỗ, rèn luyện từ thuở ấu thơ.
1.3.

Các dạng trí tuệ thường cùng làm việc với nhau theo những thể
thức phức tạp

Gardner chỉ rõ: Mỗi trí tuệ như đã được mô tả ở đây thật ra là một “tưởng tượng”.
Không có trí tuệ nào tồn tại đơn lẻ trong đời (có lẽ trừ một số trường hợp rất hiếm hoi các
Page 10


VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ
nhà bác học chuyên sâu hoặc người bị tổn thương não). Các dạng trí tuệ luôn tương tác
với nhau. Để nấu một bữa ăn, ta phải đọc bản hướng dẫn cách chế biến món ăn (trí tuệ
ngôn ngữ), có thể phải nhân đôi công thức (trí tuệ logic- toán học), xây dựng thực đơn để
thỏa mãn yêu cầu riêng tư của từng thành viên trong gia đình (trí tuệ giao tiếp) và làm
giảm bớt sự thèm ăn của ai đó (trí tuệ nội tâm). Cũng như vậy, khi một đứa trẻ chơi đá
bóng, nó cần có trí tuệ hình thể - động năng (chạy, đá, đón bóng), trí tuệ không gian (để
định hướng trong sân bóng và tiên đoán đường bay của bóng), các trí tuệ ngôn ngữ và
giao tiếp để tranh cãi giành điểm khi có tranh chấp trong khi chơi.
Các dạng trí tuệ được tách riêng trong thuyết đa trí tuệ, chỉ để phân tích các đặc
trưng cơ bản của chúng, nhằm tìm cách sử dụng chúng một cách hữu hiệu. Ta phải luôn
nhớ đặt chúng trở lại trong bối cảnh thực tế khi hoàn tất quá trình nghiên cứu chính quy.
1.4.

Có nhiều cách biểu lộ trí thông minh trong từng lĩnh vực

Chẳng có một bộ chuẩn mực nào mà một người phải thỏa mãn để được xem là

dùng ngôn ngữ để nhớ thông tin. Các nhà văn, nhà thơ, luật sư và diễn giả là những người
mà theo Howard Gardner có trí thông minh ngôn ngữ tốt.

Page 12


VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ
2.2.

Thông minh logi-toán học

Thông minh logi-toán học bao gồm khả năng phân tích các vấn đề một cách logic,
thực hiện các hoạt động liên quan đến toán học tốt, xem xét các vấn đề rất khoa học.
Theo Howard Gardner thì những người có trí thông minh này có khả năng phát hiện, suy
diễn ra các trình tự, lý do và tư duy logic tốt, cách tư duy theo dạng nguyên nhân – kết
quả. Trí thông minh này có mối liên quan chặt chẽ với những ý tưởng khoa học và toán
học, khả năng sáng tạo các giả thuyết, tìm ra các mô hình số học hoặc quy tắc dựa trên
các khái niệm, đồng thời yêu thích các quan điểm dựa trên lý trí trong cuộc sống nói
chung.
2.3.

Thông minh về âm nhạc

Thông minh về âm nhạc bao gồm các kỹ năng biểu diễn, sáng tác, và cảm nhận âm
nhạc. Thông minh âm nhạc thúc đẩy khả năng nhận biết và sáng tác âm điệu, cao độ và
nhịp điệu. Theo Howard Gardner thông minh âm nhạc song song với thông minh về ngôn
ngữ. Ngoài ra, trí thông minh về âm nhạc còn có trong tiềm thức của bất cứ cá nhân nào,
miễn là người đó có khả năng nghe tốt, có thể hát theo giai điệu, biết dành thời gian cho
âm nhạc và nghe được nhiều tiết mục âm nhạc khác nhau với sự chính xác và sáng suốt
của các giác quan


Thông minh về liên nhân cách

Đây là năng lực hiểu và làm việc được với những người khác. Đặc biệt là có khả
năng cảm nhận và dễ chia sẻ với tâm trạng, tính cách, ý định và mong muốn của những
người khác. Một cá nhân có trí thông minh về giao tiếp có thể rất giàu lòng trắc ẩn và đầy
tinh thần trách nhiệm đối với xã hội, hoặc là người có sức lôi cuốn mọi người và tập thể,
họ còn có khả năng thấu hiểu những người khác và từ đó nhìn ra viễn cảnh của thế giới
bên ngoài bằng chính cặp mắt của những con người đó. Trong thực tế, họ rất tuyệt vời với
vai trò của người môi giới, người hoà giải hoặc là thầy giáo, tư vấn tâm lý.
2.7.

Thông minh nội tâm

Một người mạnh mẽ về loại trí tuệ này có thể dễ dàng tiếp cận và nhìn rõ được
những cảm xúc của chính bản thân mình, phân biệt được giữa nhiều loại trạng thái tình
cảm bên trong và sử dụng chính những hiểu biết về bản thân mình để làm phong phú
thêm và vạch ra con đường cho cuộc đời mình. Họ có thể là người rất hay tự xem xét nội
tâm và ham thích được trầm tư suy nghĩ, được ở trong trạng thái tĩnh lặng hay trong các
trạng thái tìm hiểu tinh thần một cách sâu sắc khác. Mặt khác họ có thể là người có tính
Page 14


VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ
độc lập mạnh mẽ, tính thẳng thắn cao độ và cực kỳ tự giác, có kỷ luật. Trong bất cứ
trường hợp nào, họ thuộc dạng tự lập và thích làm việc một mình hơn là làm việc với
người khác.
2.8.

Thông minh về tự nhiên


Đứa trẻ có thể cho bạn biết khi nào âm nhạc không chính xác và dễ nhớ những giai
điệu. Bé có giọng ca dễ chịu, thể hiện năng khiếu với các nhạc cụ, nói hoặc di chuyển
theo nhạc một cách nhịp nhàng và thể hiện sự nhạy cảm với tiếng ồn xung quanh.

3.4.

Thông minh về thể chất

Đứa trẻ vượt trội trong các bộ môn thể thao, thích hoạt động, có thể bắt chước cử
chỉ / cử chỉ cơ thể của người khác, thích chạm vào đồ vật, thích các hoạt động thể chất và
phối hợp vận động tuyệt vời.
3.5.

Thông minh về không gian

Đứa trẻ dễ dàng đọc và hiểu các biểu đồ và bản đồ, mơ mộng thường xuyên, có kỹ
năng vẽ, vẽ nguệch ngoạc và tạo các tác phẩm tạo hình 3 chiều, thích phim ảnh và đặt
những thứ khác nhau lại gần nhau.
3.6.

Thông minh về liên nhân cách

Đứa trẻ thích giao lưu với bạn bè, là một nhà lãnh đạo tự nhiên, luôn biết cách
chăm sóc và giúp bạn bè giải quyết vấn đề, dễ dàng hiểu cảm xúc từ nét mặt, cử chỉ và
giọng nói của người khác.
3.7.

Thông minh nội tâm


tin và đánh giá kết quả.
 Nhấn mạnh vào tính cách cá nhân: học tập là kết quả của một quá trình lao
động cá nhân, tư duy và cảm giác.
Theo mô hình của Silver, Strong và Perini (1997) Có bốn kiểu học tập khác nhau:

Page 17


VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ
 Phong cách Tự làm chủ (Mastery): người học tiếp thu thông tin một cách

cụ thể; xử lý thông tin tuần tự, theo từng bước; và đánh giá giá trị của việc
học về tính rõ ràng và thực tiễn của nó (chiếm 35%).
 Phong cách Hiểu biết (Understanding): người học tập trung nhiều hơn
vào ý tưởng và trừu tượng; học qua một quá trình đặt câu hỏi, lý luận và thử
nghiệm; đánh giá việc học theo các tiêu chuẩn logic và việc sử dụng bằng
chứng (chiếm 35%).
 Phong cách Tự biểu đạt (Self – Expressive): người học học thông qua

hình ảnh; sử dụng cảm xúc để xây dựng ý tưởng và sản phẩm mới; đánh giá
quá trình học tập theo tính độc đáo, tính thẩm mỹ, khả năng gây ngạc nhiên
hoặc thích thú (chiếm 12%).
 Phong cách Tương tác (Interpesonal): như người học theo phong cách
Tự làm chủ,người học tập trung vào thông tin cụ thể, sờ thấy; thích học hỏi
về mặt xã hội; và dùng khả năng của mình để giúp đỡ người khác (chiếm
18%).
Phong cách học tập không cố định trong suốt cuộc đời, nhưng phát triển theo thời
gian học tập của người học.
Hầu hết những người ủng hộ phong cách học tập sẽ đồng ý rằng tất cả các cá nhân
phát triển và thực hành một hỗn hợp các phong cách trong quá trình sống và học hỏi.

 Trẻ được chơi theo điểm mạnh của mình: khi xác định được phong cách học tập

của trẻ, nhà giáo dục có thể xây dựng những bài tập nhằm phát triển điểm mạnh
của trẻ để bù đắp những điểm yếu trong học tập. Ví dụ: bé có nhiều vấn đền về
không gian, việc nhìn và thể hiện lại một hình hình học (tam giác) là rất khó khăn.
Nhưng ngược lại, bé lại phát triển ngôn ngữ rất tốt, nghe rất giỏi, vậy nên bé có
thể học toán bằng cách đặt mọi thứ vào từ ngữ của riêng mình. Khi bé được nghe
cô mô tả về hình tam giác và tự mình mô tả lại bằng lời, bé sẽ hiểu và ghi nhớ.
 Trẻ hứng thú với việc học: bằng cách để trẻ được học theo phong cách học tập của

mình, quá trình dạy và học được diễn ra nhẹ nhàng hơn rất nhiều so với việc ép trẻ
phải theo một phương pháp hay phong cách học tập nào đó. Giữ cô và trẻ, hay
giữa trẻ và ba mẹ không còn căng thẳng trong quá trình dạy học.
Page 19


VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ
Tiến sĩ Renzulli khuyên, “Khi chúng ta tìm thấy phong cách học tập ưa thích của
con chúng ta, chúng ta nên tận dụng nó và tạo cho họ nhiều cơ hội để thể hiện điều đó
trong công việc của họ. Nhưng điều quan trọng không kém là để cho họ tiếp xúc với
nhiều loại phong cách khác nhau. ” Nói cách khác, đứa trẻ có thể không nhận ra phong
cách học tập ưa thích của mình là gì cho đến khi được tiếp xúc với nó.

3. Vận dụng Thuyết Đa Trí Tuệ để hình thành phong cách học tập cho trẻ mầm

non
Vận dụng Thuyết đa trí tuệ để hình thành phong cách học tập của trẻ mầm non là:
ngoài việc xác định loại thông minh (nhóm các loại thông minh) mà trẻ vượt trội và tìm
ra cách tốt nhất mà trẻ học tập để phát huy trí thông minh đó thì nhà giáo dục có thể tích
hợp thuyết Đa trí tuệ và các phong cách học tập để trẻ phát huy được tối đa trí thông

Phong cách Hiểu biết: Sử dụng các đối số lôgic và hùng biện. Định hướng nghề nghiệp
tương lai: luật sư, triết gia.
Phong cách Tự biểu đạt: Sử dụng ngôn ngữ ẩn dụ và biểu cảm. Định hướng nghề
nghiệp tương lai: nhà viết kịch, nhà thơ, tiểu thuyết gia
Phong cách tương tác: Sử dụng ngôn ngữ để xây dựng niềm tin và mối quan hệ. Định
hướng nghề nghiệp tương lai: nhân viên bán hàng, nhân viên tư vấn.


Trí thông minh Logic-Toán học: Khả năng giải quyết vấn đề và suy nghĩ một
cách khoa học

Phong cáchTự làm chủ: Sử dụng các con số để tính toán và tài liệu. Định hướng nghề
nghiệp tương lai: kế toán, kế toán kiểm toán.
Phong cách Hiểu biết: Sử dụng các khái niệm toán học cho các phỏng đoán, bằng chứng
và các ứng dụng khác. Định hướng nghề nghiệp tương lai: lập trình viên máy tính, nhà
khoa học.
Phong cách Tự biểu đạt: Nhạy cảm với các mẫu, đối xứng, logic và tính thẩm mỹ của
toán học.Giải quyết các vấn đề trong thiết kế và mô hình hóa. Định hướng nghề nghiệp
tương lai: nhà soạn nhạc, kỹ sư, nhà phát minh, nhà thiết kế.

Page 21


VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ
Phong cách Tương tác: Sử dụng toán học trong cuộc sống hàng ngày. Định hướng nghề
nghiệp tương lai: người bán hàng, người nội trợ.


Trí thông minh cơ thể: Khả năng sử dụng các bộ phận hoặc toàn bộ cơ thể để giải
quyết các vấn đề, xây dựng sản phẩm.

gian để đáp ứng nhu cầu của người khác. Định hướng nghề nghiệp tương lai: họa sĩ minh
họa, nghệ sĩ, hướng dẫn viên, nhiếp ảnh gia.


Trí thông minh âm nhạc: Sử dụng các kỹ năng liên quan đến âm nhạc.

Phong cách Tự làm chủ: Hiểu và phát triển kỹ thuật âm nhạc. Định hướng nghề nghiệp
tương lai: kỹ thuật viên, giáo viên âm nhạc, nhà sản xuất thiết bị.
Phong cách Hiểu biết: Giải thích các hình thức và ý tưởng âm nhạc. Định hướng nghề
nghiệp tương lai: nhà phê bình âm nhạc, người sưu tầm nhạc.
Phong cách Tự biểu đạt: Tạo các buổi biểu diễn và sáng tác mang tính biểu cảm và giàu
trí tưởng tượng. Định hướng nghề nghiệp tương lai: nhà soạn nhạc, nhạc trưởng, nghệ sĩ
cá nhân / nhóm nhỏ.
Phong cách tương tác: Làm việc với những người khác và sử dụng âm nhạc để phục vụ
người khác. Định hướng nghề nghiệp tương lai: dàn hợp xướng, ban nhạc và dàn nhạc
hoặc nhạc trưởng


Trí thông minh liên nhân cách: Tương tác với người khác, nhạy cảm với tâm
trạng, tính khí, động cơ và ý định của họ.

Phong cách Tự làm chủ: Giao tiếp hiệu quả và tổ chức của mọi người. Định hướng nghề
nghiệp tương lai: tư vấn, chính trị gia, nhà truyền giáo
Phong cách Hiểu biết: Giải thích sự khác biệt trong các đặc điểm của từng cá
nhân. Định hướng nghề nghiệp tương lai: nhà xã hội học, nhà tâm lý học, tâm lý trị liệu.
Phong cách Tự biểu đạt: Tạo các buổi biểu diễn và sáng tác giàu trí tưởng tượng, tính
biểu cảm. Định hướng nghề nghiệp tương lai: nhà soạn nhạc, người biểu diễn cá nhân
hoặc nhóm nhỏ

Page 23

thân. Định hướng nghề nghiệp tương lai: nhà khoa học.
Phong cách Tương tác: Kết bạn cùng sở thích và có nhóm nghiên cứu riêng. Định
hướng nghề nghiệp tương lai: nhà khoa học.
Như vậy, với cách tích hợp trên mang lại những lợi ích sau:
Page 24


VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ
-

Giáo viên cá nhân hóa việc học của trẻ theo cách có thể quản lý được.
Trẻ có được những kỹ năng cụ thể mà xã hội yêu cầu.
Trẻ có được kiến thức và quan tâm đến từng trí thông minh bằng cách khám phá

-

thông qua phong cách học tập cá nhân của mình.
Trẻ xác định và phát triển tài năng đặc biệt của bản thân.

Tóm lại, bằng cách tích hợp các phong cách học tập và trí thông minh đa dạng trong quá
trình giáo dục trẻ, trẻ sẽ tự hiểu về cách tốt nhất mà chúng học trong tương lai để chúng
có thể tự học tập những gì chúng cảm thấy thoải mái một cách độc lập.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1

Thomas Armstrong (2017), 7 loại hình thông minh, Mạnh Hải và Thu Hiền

dịch, Nxb Lao động – Xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status