Vận dụng thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner vào giáo dục trẻ em - Pdf 35

THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ CỦA HOWARD GARDNER VÀ
CƠ HỘI GIÁO DỤC CHO TRẺ EM THEO TRÍ THÔNG
MINH CÓ SẴN
I. Giới thiệu khái quát về học thuyết
1.1. Vài nét về tiểu sử của Howard Gardner

Howard Gardner, cha đẻ của thuyết "đa thông minh”
Howard Garder sinh ra tại Scranton, Pennsylvania vào năm 1943. Cha mẹ ông đã
chuyển từ Nurnberg Đức đến Mỹ năm 1938 với đứa con 3 tuổi, Eric. Ngay trước khi
Howard Gardner ra đời, Eric đã thiệt mạng trong một tai nạn trượt tuyết. Hai sự kiện
này không được nhắc đến trong tuổi thơ của Gardner, nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn
đến suy nghĩ và sự phát triển của ông. Ông không được tham gia nhiều hoạt động thể
chất nguy hiểm nhưng lại được khuyến khích theo đuổi các ý tưởng sáng tạo và tri
thức. Khi Howard bắt đầu phát hiện ra lịch sử bí mật của gia đình (và nguồn gốc Do
Thái) ông bắt đầu nhận thức rằng ông khác với cha mẹ và các bạn đồng trang lứa.
Cha mẹ đã gửi Howard đến Phillips Academy tại Andover Massachusetts, nhưng
ông từ chối. Ông đến học ở một trường Trung học Dân lập tại Kingston, Pennsylvania.
Howard Gardner đã nắm được cơ hội ở đây và có được sự ủng hộ cũng như quý mến
của nhiều giáo viên tốt. Sau đó ông đã học tại Đại học Havard để học Lịch sử và sẵn
sàng theo nghề luật.Tuy nhiên, ông may mắn được làm học trò của Eric Erikson. Theo
Howard Gardner, Erikson có lẽ đã “gắn xi” lên hoài bão trở thành học giả của ông.
Howard Gardner: “Trí óc tôi thực sự được mở rộng khi tôi tới Harvard và có cơ
hội làm học trò của nhà phân tâm học Eric Erikson, nhà xã hội học David Riesman và
1


nhà tâm lý và nhận thức học Jerome Bruner. Tôi đã học khóa học về nghiên cứu bản
năng của con người, đặc biệt con người suy nghĩ như thế nào.”
Ông đã hoàn thành giáo dục sau trung học của mình tại đại học Harvard, lấy bằng
đại học năm 1965 với bằng Cử nhân Nghệ thuật trong quan hệ xã hội. Ông lấy bằng
tiến sĩ năm 1971.

học sinh thứ hai rất có thể sẽ giỏi hơn trong các “dạng” thông minh khác.
Lý thuyết “đa trí tuệ” của ông cho rằng, mỗi cá nhân hầu như đều đạt đến một
mức độ nào đó ở từng “phạm trù” trong hệ thống các dạng thông minh. Mức độ này
thấp hay cao thể hiện hạn chế hay ưu thế của cá nhân đó trong lĩnh vực này. Đặc biệt,
mức độ này không phải là “hằng số” trong suốt cuộc đời của họ mà sẽ có thể thay đổi
(nâng cao hay giảm đi) tùy vào điều kiện trau dồi.
Thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner lấy cơ sở từ những nghiên cứu của nhà
phân tâm học Eric Erikson, nhà xã hội học David Riesman và nhà tâm lý và nhận thức
học Jerome Bruner. Ông đã học khóa học về nghiên cứu bản năng của con người, đặc
biệt con người suy nghĩ như thế nào.
Trong học thuyết trí thông minh đa dạng, Gardner đã thiết lập được các yêu cầu
cần thiết đặc trưng mà mỗi loại trí thông minh phải đạt được để có đủ điều kiện xác
định đó là một loại trí thông minh. Sau đây là 4 đặc điểm ông đưa ra khi nghiên cứu
các loại trí tuệ ở con người:
Đặc điểm 1: Mỗi trí thông minh có khả năng được biểu tượng hoá.
Thuyết trí thông minh đa dạng đã đưa ra một khía cạnh về khái niệm trí thông
minh, cho rằng khả năng biểu tượng hoá trong tư duy con người hay khả năng diễn đạt
những ý tưởng, kinh nghiệm thông qua sự miêu tả các hình ảnh, con số và các từ ngữ,
là dấu hiệu để xác nhận đó là trí thông minh của con người.

3


Thuyết trí thông minh đa dạng cho rằng, có nhiều cách khác nhau mà mỗi loại trí
thông minh có thể sử dụng để biểu tượng hoá. Những người có tư duy lô-gic toán học
sử dụng các con số và các chữ số Hy Lạp, trong số các loại ký hiệu khác, để đáp ứng
các tư duy và nhu cầu có tính lý trí của họ.
Ở một mặt khác, những nhà soạn nhạc hoặc nhạc sĩ lại thường hay sử dụng các
nốt nhạc trầm bổng để biểu tượng hóa các giai điệu và tiết tấu của họ. Marcel Marcean
lại sử dụng các cử chỉ động tác phức tạp và sự diễn giải bằng các dấu hiệu của vận

Tương tự như vậy, mỗi loại trí thông minh có một mô hình tăng trưởng, phát triển
và suy giảm theo cách riêng của mình, trong vòng đời của con người.
Đặc điểm 3: Mỗi trí thông minh đều sẽ tổn thương và biến mất khi có các tác
động xâm phạm và gây hại đến những vùng đặc trưng riêng biệt của nó trong bộ não
người.
Thuyết về trí thông minh đa dạng tiên đoán rằng trong thực tế, trí thông minh có
thể bị cô lập khi bộ não bị tổn thương. Gardner đã đưa ra ý kiến là: Nhằm mục đích
được công nhận và có thể tồn tại, bất kỳ một lý thuyết nào về trí thông minh đều phải
dựa trên cơ sở sinh học, nghĩa là được bắt nguồn từ cấu trúc vật chất của não bộ. Với
vai trò là một nhà tâm lý học thần kinh ở Ban quản lý cựu chiến binh Boston, Gardner
đã làm việc với những bệnh nhân bị tổn thương não, một phần nào đó trong 7 loại trí
thông minh của họ bị ảnh hưởng, thí dụ như: Một người có thương tích ở thuỳ trước
trán trong bán cầu não trái thì không thể nói và viết bình thường được nhưng vẫn có thể
hát, vẽ, và nhảy múa không hề có một chút khó khăn nào. Trong trường hợp này thì trí
thông minh về ngôn ngữ của anh ta đã bị suy giảm, hư hại một phần. Mặt khác, những
người bị thương ở thuỳ thái dương bên phải có thể khó khăn khi thực hiện những công
việc mang tính chất âm nhạc, nhưng anh ta có thể nói, đọc và viết một cách dễ dàng.
Những bệnh nhân bị thương ở thuỳ chẩm của bán cầu não bên phải có thể bị suy giảm
đáng kể những khả năng về nhận biết gương mặt, khả năng quan sát hoặc nhận biết
những chi tiết trực quan.
Lý thuyết về trí thông minh còn đang tranh luận về việc có tồn tại hay không 7
hệ thống của não bộ hoạt động một cách tương đối độc lập. Trí thông minh ngôn ngữ
xem ra như là một chức năng chính của bán cầu não trái ở đa số mọi người, trong khi
trí thông minh về âm nhạc, không gian và năng lực tương tác có xu hướng tập trung tại
bán cầu não phải nhiều hơn. Trí thông minh về năng lực vận động thân thể gồm có vỏ
5


não vận động, những hành thần kinh cơ sở và bộ phận trước não. Thuỳ trước trán là
đặc biệt quan trọng đối với trí thông minh của con người.

Trong biểu đồ về trí thông minh này, các loại khả năng về trí tuệ của con người đều
6


được ca ngợi và tôn trọng như nhau, đó là tài năng tìm đường của những người dân
Himalaya, phương pháp phân loại phức tạp của thổ dân Nam Phi tộc Kalahan, những
thiên tài âm nhạc của nền văn hoá Arang ở đất nước Nigieria, các hệ thống vẽ bản đồ
độc nhất vô nhị của những người đi biển dân tộc Polynesia, và những khả năng đặc biệt
của nhiều người khác trên khắp thế giới.
Bổ sung thêm vào các đặc điểm nội dung trên, thuyết còn đưa ra ý kiến là mỗi
loại thông minh có một quá trình xử lý nhận thức riêng biệt của mình trong các hoạt
động của trí nhớ, sự tập trung, tri giác và cách giải quyết vấn đề. Thậm chí 8 loại trí
thông minh còn có cả lịch sử tiến hoá riêng của mỗi loại. Trí thông minh về âm nhạc
có một phần hàm chứa tiếng hót của chim muông, trong khi trí thông minh về vận động
thân thể xuất hiện từ những hoạt động săn bắn trong những giai đoạn sơ khai đầu tiên
của lịch sử loài người. Những ai muốn thấy các số liệu có thể định lượng được về
những vấn đề trên thì chính các kết quả kiểm tra tâm lý và nghiên cứu thực nghiệm sẽ
là một sự ủng hộ và khẳng định. Lý thuyết về trí thông minh đa dạng không chỉ là một
ý kiến đơn thuần. Nó được lập nên từ việc tổng hợp các kết quả nghiên cứu mới nhất
của những đề tài khoa học về trí thông minh đang hiện hành.
2. Một số luận điểm cơ bản trong thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner
Theo Giáo sư Howard Gardner, trí thông minh được hiểu như sau:
(1) Khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm mà các giải pháp
hay sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều nền văn hóa;
(2) Một tập hợp các kỹ năng mà làm cho nó có thể cho một người để giải quyết
các vấn đề trong cuộc sống;
(3) Tiềm năng cho việc tìm kiếm hoặc tạo ra các giải pháp cho các vấn đề, trong
đó có việc thu thập kiến thức mới.
Định nghĩa này dẫn chúng ta đến câu hỏi cho chính chúng ta: khi con cái của
chúng ta có khả năng “giải quyết vấn đề” và khả năng “tạo ra” nhưng mà không có giá

Gardner chỉ rõ: Mỗi trí tuệ như đã được mô tả ở đây thật ra là một “tưởng tượng”.
Không có trí tuệ nào tồn tại đơn lẻ trong đời (có lẽ trừ một số trường hợp rất hiếm hoi
các nhà bác học chuyên sâu hoặc người bị tổn thương não). Các dạng trí tuệ luôn tương
tác với nhau. Để nấu một bữa ăn, ta phải đọc bản hướng dẫn cách chế biến món ăn (trí
tuệ ngôn ngữ), có thể phải nhân đôi công thức (trí tuệ logic- toán học), xây dựng thực
đơn để thỏa mãn yêu cầu riêng tư của từng thành viên trong gia đình (trí tuệ giao tiếp)
và làm giảm bớt sự thèm ăn của ai đó (trí tuệ nội tâm). Cũng như vậy, khi một đứa trẻ
chơi đá bóng, nó cần có trí tuệ hình thể - động năng (chạy, đá, đón bóng), trí tuệ không
gian (để định hướng trong sân bóng và tiên đoán đường bay của bóng), các trí tuệ ngôn
ngữ và giao tiếp để tranh cãi giành điểm khi có tranh chấp trong khi chơi.
Các dạng trí tuệ được tách riêng trong thuyết đa trí tuệ, chỉ để phân tích các đặc
trưng cơ bản của chúng, nhằm tìm cách sử dụng chúng một cách hữu hiệu. Ta phải

8


luôn nhớ đặt chúng trở lại trong bối cảnh thực tế khi hoàn tất quá trình nghiên cứu
chính quy.
3.4. Có nhiều cách biểu lộ trí thông minh trong từng lĩnh vực
Chẳng có một bộ chuẩn mực nào mà một người phải thỏa mãn để được xem là
thông minh trong một lĩnh vực xác định. Cho nên một người có thể “mù chữ” mà vẫn
được xem là có trí tuệ ngôn ngữ cao vì có thể kể rất hấp dẫn một chuyện kinh dị, hoặc
sở hữu một vốn từ vựng nói đặc biệt phong phú. Cũng như vậy, một người có thể chơi
rất tồi tệ trên sân cỏ mà vẫn được xem như có trí tuệ hình thể - động năng cừ nếu dệt
rất tài hoa một tấm thảm hoặc tạo ra một bàn cờ khảm sắc.
Thuyết đa trí tuệ nhấn mạnh đến tính đa dạng, phong phú của các phương thức
biểu lộ năng khiếu trong hoặc giữa các trí tuệ khác nhau.
3. Các loại hình trí thông minh trong học thuyết của Howard Gardner
Năm 1983 Howard Gardner đưa ra học thuyết về Trí thông minh đa dạng gồm 7
trí thông minh. Năm 1996 ông tiếp tục đưa ra thêm Trí thông minh về tự nhiên. Theo

về ngôn ngữ. Ngoài ra, trí thông minh về âm nhạc còn có trong tiềm thức của bất cứ cá
nhân nào, miễn là người đó có khả năng nghe tốt, có thể hát theo giai điệu, biết dành
thời gian cho âm nhạc và nghe được nhiều tiết mục âm nhạc khác nhau với sự chính
xác và sáng suốt của các giác quan
3.4. Thông minh về thể chất
Thông minh về thể chất là khả năng sử dụng cơ thể hoặc một phần cơ thể con
người để giải quyết vấn đề, bao gồm cả khả năng của trí não điều khiển các hoạt động
đó. Howard Gardner thấy rằng có sự liên hệ giữa hoạt động của trí óc và hoạt động thể
chất. Các vận động viên thể thao, những người làm nghề thủ công, những thợ cơ khí và
các bác sĩ phẫu thuật là những người sở hữu khả năng này của tư duy. Những người
thuộc loại tài năng này rất khéo léo và thành công trong nghề thêu may, nghề thợ mộc
hay nghề tạo mẫu. Hoặc họ có thể ham thích và theo đuổi những hoạt động của cơ thể
như đi bộ đường dài, khiêu vũ, chạy bộ, cắm trại, bơi lội hoặc đua thuyền. Họ là những
người thực hành, nhạy cảm, thường xuyên muốn vận động cơ thể của họ và có “phản
ứng bản năng” với các tình huống, sự vật.
10


3.5. Thông minh về không gian
Thông minh về không gian có liên quan đến suy nghĩ bằng hình ảnh, hình tượng
và khả năng cảm nhận, chuyển đổi và tái tạo lại những góc độ khác nhau của thế giới
không gian trực quan. Những người sở hữu loại trí thông minh về không gian ở mức độ
cao thường có sự nhạy cảm sắc bén với những chi tiết cụ thể trực quan và có thể hình
dung được một cách sống động, vẽ ra hay phác họa những ý tưởng của họ dưới dạng
hình ảnh, đồ họa, cũng như họ có khả năng tự định hướng bản thân trong không gian 3
chiều một cách dễ dàng.
3.6. Thông minh về giao tiếp xã hội
Đây là năng lực hiểu và làm việc được với những người khác. Đặc biệt là có khả
năng cảm nhận và dễ chia sẻ với tâm trạng, tính cách, ý định và mong muốn của những
người khác. Một cá nhân có trí thông minh về giao tiếp có thể rất giàu lòng trắc ẩn và

như hệ thống tám loại trí thông minh của giáo sư Gardner gọi là “trí thông minh đa
dạng”.
Lý thuyết của Gardner đã chỉ ra rằng mỗi người trong chúng ta đều tồn tại một vài
kiểu thông minh trên, tuy nhiên, sẽ có kiểu thông minh trội hơn trong mỗi người. Bên
cạnh đó, Gardner đã chỉ ra rằng trong trường học thông thường chỉ đánh giá một học
sinh thông qua 2 loại trí thông minh là trí thông minh về ngôn ngữ và trí thông minh về
logic/toán học, và điều này là không chính xác. Trường học đã bỏ rơi các em có thiên
hướng học tập thông qua âm nhạc, vận động, thị giác, giao tiếp…đồng thời lèo lái tất
cả mọi học sinh đi theo cùng một con đường và cùng chịu chung một sự đánh giá và
phán xét. Nhiều học sinh đã có thể học tập tốt hơn nếu chúng được tiếp thu kiến thức
bằng chính thế mạnh của chúng.
Thuyết đa trí tuệ đã mang lại một cái nhìn nhân bản và cần thiết nhằm kêu gọi nhà
trường và giáo viên coi trọng sự đa dạng về trí tuệ ở mỗi học sinh: mỗi loại trí tuệ đều
quan trọng và mỗi học sinh đều có ít nhiều khả năng theo nhiều khuynh hướng khác
nhau. Nhà trường phải là nơi giúp đỡ, khơi gợi tiềm năng, tạo điều kiện học tập theo
các hướng khác nhau cho các chủ nhân tương lai của xã hội. Làm được điều đó, chúng
ta sẽ giúp mỗi học sinh tỏa sáng và thành công trong cuộc sống của chúng.
Tóm lại, Thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner đã thừa nhận hoàn cảnh văn hóa
của trí tuệ, đã tính đến nhiều năng lực của con người. Thuyết của ông quan tâm phân
tích trí tuệ ở nhà trường và các môi trường ứng dụng khác.
4.2. Những hạn chế trong học thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner
Chính Gardner cũng thừa nhận rằng quan niệm của mình không giải thích được
tất cả. Một số loại hình trí thông minh của Gardner được đo bằng các trắc nghiệm
truyền thống – Đó là trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ logic – toán học và trí tuệ không gian.
Cho đến nay tác giả vẫn chưa làm sáng rõ về tính ổn định và tính ứng nghiệm
của việc thực hiện các trắc nghiệm của những lĩnh vực trí tuệ mới này (Ulric Neirsser
et al, 1996). Mặt khác, theo Sandra Scarr (1985), ông phản bác quan niệm của Gardner
12




Cũng theo quan điểm cá nhân, Howard Gardner cho rằng ở trường, trẻ phải học
quá nhiều môn học, mỗi môn lại bao gồm rất nhiều tài liệu. Như vậy, trong một năm
học, lượng kiến phải tiếp thu và ghi nhớ quả là một con số khổng lồ. Trẻ khó mà có thể
13


ghi nhớ hết được số kiến thức đó, và khi rời khỏi trường học, gần như tất cả mọi thứ
đều sẽ bị lãng quên. Theo ông, trường học cần phải thay đổi phương pháp cũng như
khối lượng bài học dạy cho trẻ. Làm sao để trẻ ghi nhớ và vận dụng tối đa được những
gì mình học vào trong thực tế.
Có vô vàn cách thức để chúng ta học và hiểu được một vấn đề. Một số người
phát triển tốt trong suy nghĩ về không gian, một số người lại phát triển ngôn ngữ tư
duy, những người khác lại tốt về toán học, nếu những người này được quan tâm, kèm
cặp và dạy theo những cách phù hợp, họ sẽ phát huy được tối đa tiềm năng của bản
thân.
5.2. Trí thông minh đa dạng và phong cách học tập
Phụ huynh vốn quan tâm đến vấn đề giáo dục và phong cách học tập của con cái.
Các nhà giáo dục cũng không ngừng tìm kiếm cách thức để nâng cao chương trình
giảng dạy của họ. Dù là ở nhà hay trong lớp học thì cả cha mẹ và thầy cô đều muốn
dạy dỗ trẻ em hiệu quả nhất. Nhiều giáo viên đã sử dụng nghiên cứu của ông trong việc
giảng dạy và làm việc. Mỗi chúng ta đều sở hữu đầy đủ tất cả các loại trí thông minh
nên việc tìm ra một phong cách học tập có thể giúp người học phát triển đầy đủ các
loại hình trí thông minh, đồng thời nhấn mạnh phương pháp phát huy tiềm năng trí tuệ
theo khả năng của người học giúp họ thành công trong cuộc sống.
Nhiều nhà giáo dục đã thiết kế chương trình giảng dạy, phân chia các lớp học và
thậm chí cấu trúc lại toàn bộ hệ thống trường dựa trên việc vận dụng thuyết đa trí tuệ.
Rất nhiều cuốn sách và tài liệu giáo dục đã tham gia phân tích lý thuyết này và đưa ra
những gợi ý cho việc áp dụng chúng trong các lớp học.
Ở Việt Nam, cũng có nhiều tác giả nghiên cứu vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy

Các dạng thức thông minh trên là tiền đề, cơ sở để tạo ra những năng lực đa dạng cho
trẻ và chúng cần phải hình thành và phát triển ngay trong bậc học mầm non.
Khi giáo dục trẻ, chúng ta cần tìm hiểu về các loại trí thông minh và tạo điều kiện
cho trẻ những trải nghiệm hoàn cảnh và cơ hội thiết thực. Chúng ta biết rằng trẻ có sẵn
năng lực nhất định ở mọi phương diện, điều quan trọng là bố mẹ cần chắc chắn đảm
bảo trẻ có cơ hội tìm tòi, khám phá về tất cả các loại trí thông minh của mình (không
chỉ giới hạn ở những cơ hội mà cha mẹ có thể dễ dàng tạo ra cho trẻ)
15


Trong khi phát triển trí tuệ cho trẻ, cần có sự tham gia của phụ huynh, có tác
dụng tương trợ trẻ. Không có cách nào tốt hơn bằng cách bố mẹ cùng học tập vui vẻ
với trẻ.
Quan điểm của chương trình giáo dục mầm non hướng đến sự phát triển toàn
diện cho trẻ. Vì vậy việc xem xét vận dụng thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner là
hoàn toàn hợp lý. Chúng ta cần xây dựng cách tiếp cận một cách hợp lý với môi trường
văn hóa của địa phương. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề xuất một số biện
pháp giáo dục phát triển đa năng lực trí tuệ cho trẻ trong giai đoạn mầm non.

Thông minh về ngôn ngữ

Gợi ý cho các bậc cha mẹ và
giáo viên

- Trẻ biết nhiều từ so với lứa tuổi.
- Trẻ biết giải thích từ và tích cực hóa vốn từ.
- Giao tiếp tốt với mọi người xung quanh bằng
lời.
- Trẻ thích thú với các trò chơi chữ: tìm chữ cái,
ghép chữ, đoán chữ...

kể chuyện đêm khuya.
- Trẻ thích tranh luận
Thông minh về logic và toán học

kể về bản thân, gia đình, bạn bè
hay những mối quan tâm của trẻ.

Thông minh về âm nhạc

Gợi ý cho các bậc cha mẹ và
giáo viên
- Cho phép con bạn lựa chọn các
bản nhạc tại cửa hàng bán băng
đĩa nhạc.
- Khuyến khích trẻ hát theo hoặc
vỗ tay theo nhịp điệu một bản

Gợi ý cho các bậc cha mẹ và
giáo viên
- Trẻ luôn thích các khám phá khoa học.
- Hãy nhờ con bạn giúp bạn bỏ
- Trẻ thích giải thích những điều bí ẩn: (về tự
các bánh bạn làm vào lò nướng
nhiên: mưa, nắng, ngày đêm, 4 mùa, các quá
hoặc tạo ra các màu sơn mới
trình phát triển của sự vật, hiện tượng)
bằng cách trộn các màu sơn có
- Hay hỏi các “đồ vật” hoạt động như thế nào?
sẵn.
- Thích thú vui chơi và hoạt động với các con số. - Giải thích cho trẻ biết và hiểu



- Có thể nói hay cử động theo nhịp điệu.
- Hay hát khe khẽ một mình một cách vô ý thức
- Hay nhạy cảm với các âm thanh của môi
trường
- Đáp ứng một cách thuận chiều khi chơi nghe
một bản nhạc
- Hát được những bài hát ngoài khuôn viên lớp
học.

nhạc.
- Nếu có thể, cho trẻ tham gia
vào các buổi học âm nhạc.
- Cho trẻ có cơ hội được đi tham
dự các buổi trình diễn âm nhạc
hay hòa nhạc.
- Nhờ bé cùng tham gia và
hướng dẫn các bạn trong lớp hát
một bài, hoặc tham gia đội văn
nghệ.

Thông minh về khả năng vận động cơ thể

Gợi ý cho các bậc cha mẹ và giáo
viên

- Trẻ có thể lực tốt hơn so với các bạn cùng lứa
tuổi.
- Trẻ luôn ngọ nguậy, cử động luôn chân luôn


18


bóng chính xác...)
Thông minh về không gian
- Trẻ kể lại rạch ròi các hình ảnh.
- Trẻ thích sách có kèm tranh vẽ hơn sách chữ
đơn thuần.
- Biết thưởng thức các hoạt động nghệ thuậ
- Vẽ khá
- Thích xem phim, hình đèn chiếu và sản phẩm
nhìn khác.
- Thích giải các trò đố hình, xếp hình, tìm đường
trong mê cung.
- Khi đọc sách, thường hiểu và nhớ được nhiều
hình hơn lời.
- Hay hí hoáy tô vẽ hình trên vở học, sách, giấy
nháp.

Thông minh về giao tiếp
- Thích giao tiếp với bạn đồng lứa.
- Có vẻ như “đầu trò” mặc nhiên của nhóm.
- Hay khuyên bảo các bạn có vấn đề.
- Có vẻ khôn ngoan khi ra đường.
- Khả năng thích nghi nhóm tốt.
- Thích lên lớp bè bạn một cách không chính
quy.
- Thích chơi với bạn
- Có hai ba bạn thân

được trí thông minh giao tiếp:
thể hiện vai trò thủ lĩnh, thể hiện
sự khôn ngoan, khả năng thích
nghi nhóm...
-- Khích lệ trẻ tìm tòi, thào luận
và giải quyết vấn đề
- Giao cho trẻ vai trò quản lý
nhóm khi chia nhóm học tập


- Biết lắng nghe
- Thích tâm sự và sống sâu sắc
- Nhạy cảm và nhận ra sự không chân thành của
người khác

trong lớp.

- Khuyến khích trẻ kết bạn và
chia sẻ tâm sự với những người
bạn thân thiết của trẻ.
- Khuyến khích trẻ thể hiện sự
quan tâm lo lắng đến những
người xung quanh: ông bà, cha
mẹ, bạn bè, thầy cô.
Khuyến khích trẻ chia sẻ những
mối quan tâm với người lớn.
Thông minh hướng nội
Gợi ý cho các bậc cha mẹ và
giáo viên
- Biểu lộ ý thức độc lập hoặc cá tính mạnh

- Khuyến khích trẻ tham gia hoạt
- Thích tưới nước, chăm sóc cây trồng.
động nhóm
- Biểu lộ cảm xúc với các đối tượng thiên nhiên - Tạo điều kiện cho trẻ học tập
20


(ví dụ: đi dã ngoại thường quan tâm đến núi non,
cây cỏ, đám mây...)
- Thấy phấn khích khi học đến sinh thái học,
thiên nhiên, cây cỏ hay động vật
- Nhận biết và phân loại động vật tốt
- Thích đọc về những nhà thám hiểm
- Thích sưu tầm những thú mà trẻ quan tâm về
thiên nhiên (vỏ ốc, lá cây, hột hạt...)
- Nói hăng say trong lớp về các quyền lợi của
các con vật, hay trách nhiệm bảo tồn môi trường,
trái đất.
- Hào hứng tham gia các đề án về thiên nhiên
như chim chóc, bướm và côn trùng.
- Đem đến trường các hoa, lá và mẫu vật thiên
nhiên để chia sẻ với bạn bè hay cô giáo.
- Thích nghiên cứu các bộ phận của cây

và nghiên cứu theo hứng thú
riêng
- Khích lệ trẻ tìm tòi, thào luận
và giải quyết vấn đề
- Cùng trẻ lựa sách và tạo điều
kiện cho trẻ xem những chương

1. Thomas Armstrong (2011), Đa trí tuệ trong lớp học, Lê Quang Long dịch, NXB
Giáo dục, TP. HCM.
2. Howard gardner (1998), Cơ cấu trí khôn, Nguyễn Khương Như dịch, NXB Giáo
dục, TP. HCM.
3. Hứa Mộng (1994), phương pháp phát triển trí tuệ, NXB Thông tin.
4. Phan trọng Ngọ (chủ biên) (2001), Tâm lý học trí tuệ, NXB ĐHQGHN.
5. Phan Trọng Ngọ (1994), Sự phát triển trí tuệ của học sinh lớp 1 dưới ảnh
hưởng của việc thay đổi định hướng trong dạy học, Luận án tiến sĩ, Hà Nội.
6. Nguyễn Huy Tú (2004), Tài năng quan niệm và đào tạo, NXBGD.
Các trang web tham khảo:
http://vi.wikipedia.org/wiki/Thuy%E1%BA%BFt_%C4%91a_tr%C3%AD_tu
%E1%BB%87
http://bethongminh.vn/tre-em-va-tri-thong-minh-da-dang/van-dung-hoc-thuyet-trithong-minh-da-dang-khi-day-tre.html
http://genecodevietnam.com/ly-thuyet-thong-minh-da-tri-tue/
http://bethongminh.vn/mida/howard-gardner-cha-de-cua-thuyet-tri-thong-minh-dadang.html

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status