Vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học môn toán lớp 6: - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

HOÀNG THỊ THU

VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ VÀO
DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 6

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN, 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

HOÀNG THỊ THU

VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ VÀO
DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 6
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐẶNG THỊ THU THỦY

NGHỆ AN, 2014


LỜI CẢM ƠN

GV
PPDH
PTDH
KTDH
SGK
TH
TN
TNSP

:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:

Bản đồ tư duy
Công nghệ thông tin
Đánh giá
Học sinh
Giáo viên
Phương pháp dạy học
Phương tiện dạy học
Kĩ thuật dạy học

thông minh chung của mỗi người với chỉ số thông minh IQ, hay nói cách
khác đã đánh đồng trí thông minh với chỉ duy giỏi toán. Giáo sư tâm lý học
Howard Gardner đã làm thay đổi cách nhìn nhận ĐG của nhiều người trên
thế giới về trí thông minh với một vài câu hỏi đơn giản nhưng đầy sức
mạnh: “Có phải những vận động viên chơi cờ, các nghệ sỹ dương cầm và
các lực sỹ tài năng đều thông minh ở từng lĩnh vực riêng của họ? Tại sao
6


những người này và các khả năng khác không giải thích được thông qua
trắc nghiệm IQ truyền thống? Tại sao thuật ngữ thông minh chỉ được giới
hạn trong một khuôn khổ nhỏ của rất nhiều nỗ lực của con người?” Từ
những câu hỏi này lý thuyết đa trí tuệ được hình thành. Thuyết đa trí tuệ đã
chỉ ra rằng có tới tám loại trí thông minh đó là: Trí thông minh ngôn ngữ,
trí thông minh lôgic, trí thông minh về âm nhạc, trí thông minh về không
gian, trí thông minh về vận động cơ thể, trí thông minh giao tiếp, trí thông
minh nội tâm, trí thông minh về thiên nhiên. Và mỗi chúng ta đều có một
vài kiểu trí thông minh trong tám loại đó, trong đó mỗi cá nhân sẽ có những
loại trí thông minh vượt trội hơn các trí thông minh khác.
Trong trường Trung học, môn Toán là một trong những môn học
chiếm thời lượng nhiều nhất tuy nhiên rất nhiều em HS gặp khó khăn khi
học khi học thậm trí là có tâm lý “sợ” môn Toán mặc dù các em đó lại học
rất tốt các môn khác như các môn Xã hội, Thể dục, Âm nhạc, Mĩ thuật...
Ngược lại cũng có rất nhiều em học giỏi Toán nhưng lại rất kém trong giao
tiếp và học kém các môn Xã hội. Điều này ảnh hưởng rất lớn tới công việc
và cuộc sống của các em sau này bởi vì mục đích trên hết của giáo dục là
đào tạo ra những con người toàn diện về cả kiến thức và kĩ năng sống đáp
ứng nhu cầu của xã hội. Do đó việc vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học
môn Toán là một việc rất cần thiết góp phần phát huy sự đa dạng trí tuệ của
HS, giúp HS phát triển một cách toàn diện hơn.

- Nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp vận dụng thuyết đa trí tuệ
vào dạy học chương trình môn Toán lớp 6;
- Khảo nghiệm sư phạm để bước đầu ĐG tính khả thi của biện pháp
đề xuất.
IV.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1. Đối tượng: Nghiên cứu quá trình dạy học môn Toán theo hướng

phát huy tính đa trí tuệ của HS.
2. Phạm vi:
- Chương trình môn Toán lớp 6;
- Khảo sát thực tế tại trường TH – THCS – THPT Trưng Vương.
V.

Phương pháp nghiên cứu
1. Phương pháp nghiên cứu lí luận:
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, Nhà nước, các chủ trương và

chính sách của Bộ Giáo dục và Đào tạo có liên quan đến nhiệm vụ dạy học
Toán trường THCS;

8


- Nghiên cứu các tài liệu Tâm lí học, Giáo dục học và Lí luận dạy học
bộ môn Toán có liên quan đến đề tài;
- Nghiên cứu các tài liệu về thuyết đa trí tuệ, và ứng dụng của thuyết
đa trí tuệ;
- Nghiên cứu SGK, sách bài tập, sách GV, sách tham khảo bộ môn

Chương 2: Vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học môn Toán lớp 6
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

9


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học
1.1.1. Đổi mới phương pháp dạy học nhằm chú trọng phát triển
năng lực của HS.
 Định hướng chung về đổi mới PPDH.
- Xác lập vị trí chủ thể của người học, đảm bảo tính tự giác tích cực,
chủ động, sáng tạo của hoạt động học tập được thực hiện độc lập hoặc
trong giao lưu. Người học là chủ thể kiến tạo kiến thức, rèn luyện kĩ năng,
hình thành thái độ. Vai trò chủ thể của người học được khẳng định trong
quá trình học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực chủ
động và sáng tạo của chính bản thân mình. Để đảm bảo vai trò chủ thể của
người học thì PPDH cần tạo ra được những hoạt động học tập có hướng
đích và gợi động cơ để chuyển hóa nhu cầu xã hội thành nhu cầu nội tại của
bản thân HS. Tùy theo mục tiêu và hoàn cảnh cụ thể, có thể tổ chức cho HS
hoạt động độc lập hoặc trong giao lưu hợp tác. Cả hai hình thức này đều rất
quan trọng đối với PPDH hiện đại. Một mặt, hoạt động độc lập của HS là
thành phần không thể thiếu để đảm bảo thành công của quá trình dạy học.
Mặt khác, do bản chất xã hội của việc học tập thì hoạt động giao lưu hợp
tác như học nhóm, học theo cặp là rất cần thiết.
- Trí thức được cài đặt trong những tình huống có dụng ý sư phạm.
Theo chủ nghĩa kiến tạo trong tâm lý học, học tập là một quá trình trong đó
người học xây dựng kiến thức cho mình bằng cách thích nghi với môi
trường có mâu thuẫn, có những có khăn và mất cân bằng. Vì vậy, muốn HS

tập sao cho HS luôn cảm thấy mình gần tới đích, chỉ cần nỗ lực gắng sức là
có cơ hội thành công.
- Xác định vai trò mới của người thầy với tư cách là người thiết kế, ủy
thác, điều khiển, thể chế hóa. Khẳng định vị trí chủ thể của HS dễ dẫn tới
sự ngộ nhận về sự giảm sút vai trò của người thầy. Thực ra, vai trò và trách
nhiệm của người thầy không hề bị suy giảm mà ngược lại nó càng năng nề,
11


nâng cao hơn. Giờ đây, thầy trong vai trò mới là người thiết kế, ủy thác,
điều khiển và thể chế hóa. Cụ thể:
• Thiết kế là lập kế hoạch, chuẩn bị quá trình dạy học cả về mục
đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức;
• Ủy thác là biến ý đồ dạy của thầy thành nhiệm vụ học tập tự
nguyện, tự giác của trò, là chuyển giao cho trò không phải những tri thức
dưới dạng có sẵn mà là những tình huống để trò hoạt động và thích nghi;
• Điều khiển bao gồm sự động viên, hướng dẫn và ĐG;
• Thể chế hóa là xác nhận những kiến thức mới phát hiện đồng nhất
những kiến thức riêng lẻ, mang màu sắc cá thể của từng HS. Chuẩn hóa
theo chương trình cả về mức độ lẫn yêu cầu và cách thức diễn đạt, hướng
dẫn HS vận dụng và ghi nhớ hoặc giải phóng khỏi trí nhớ nếu không cần
thiết.
 Định hướng đổi mới PPDH theo quan điểm phát triển năng lực.
PPDH theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực
hóa HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn
đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn
hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học
trong nhóm, đổi mới quan hệ GV - HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa
quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những
tri thức và kĩ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các

phát triển kĩ năng tự ĐG và ĐG lẫn nhau của HS với nhiều hình thức như
theo lời giải đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hay tự xác định tiêu chí để có thể
phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sữa chữa các sai sót.
1.2.1. Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học
- Đổi mới việc thiết kế và chuẩn bị bài giảng. Đổi mới PPDH cần
bắt đầu từ việc đổi mới thiết kế và chuẩn bị bài dạy. Để có một giáo án theo
hướng đổi mới PPDH, trước tiên, GV cần xác định mục tiêu dạy học về
kiến thức, kĩ năng một cách rõ ràng. Đối với nội dung dạy học thì không
chỉ chú ý tới các năng lực chuyên môn mà cần chú ý tới phát triển các năng
lực khác nữa như năng lục xã hội, năng lực cá thể… Còn việc lựa chọn các
PPDH, PTDH cần dựa vào mối quan hệ giữa mục đích – nội dung – môi
13


trường dạy học để lựa chọn cho phù hợp. GV nên lựa chọn PPDH từ tổng
quan cho cả bài học, rồi tới cho từng mục, từng ý trong bài dạy.
- Cải tiến các PPDH truyền thống, tăng cường vận dụng các
PPDH tích cực. Đổi mới PPDH không có nghĩa là loại bỏ các PPDH
truyền thống quen thuộc mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu
quả và hạn chế nhược điểm của chúng. Để nâng cao hiệu quả của các
PPDH này người GV cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo
các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp,
chẳng hạn như kỹ thuật mở bài, kỹ thuật trình bày, giải thích trong khi
thuyết trình, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm
thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập. Tuy nhiên, các PPDH truyền
thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các PPDH truyền thống thì
việc sử dụng các PPDH mới, đặc biệt là những phương pháp và kỹ thuật
dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo của HS là rất cần thiết.
- Kết hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học. Không
có một PPDH toàn năng phù hợp với mọi mục tiêu và nội dung dạy học.

PPDH đặc thù có vai trò quan trọng trong dạy học bộ môn. Các PPDH đặc
thù bộ môn được xây dựng trên cơ sở lý luận dạy học bộ môn.
- Bồi dưỡng phương pháp học tập cho HS. Phương pháp học tập
một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc tích cực hoá, phát huy
tính sáng tạo của HS. Có những phương pháp nhận thức chung như phương
pháp thu thập, xử lý, ĐG thông tin, phương pháp tổ chức làm việc, phương
pháp làm việc nhóm, và có những phương pháp học tập chuyên biệt của
từng bộ môn. Bằng nhiều hình thức khác nhau, cần luyện tập cho HS các
phương pháp học tập chung và các phương pháp học tập trong bộ môn.
- Cải tiến việc kiểm tra ĐG. Đổi mới PPDH cần gắn liền với đổi mới
về ĐG quá trình dạy học cũng như đổi mới việc kiểm tra và ĐG thành tích
học tập của HS. Cần bồi dưỡng cho HS những kỹ thuật thông tin phản hồi
nhằm tạo điều kiện cho HS tham gia ĐG và cải tiến quá trình dạy học.
Trong ĐG thành tích học tập của HS không chỉ ĐG kết quả mà chú ý cả
quá trình học tập. ĐG thành tích học tập theoquan điểm phát triển năng lực
không giới hạn vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả năng vận
dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp.

15


Tóm lại, có rất nhiều phương hướng đổi mới PPDH với những cách
tiếp cận khác nhau, trên đây chỉ là một số phương hướng chung. Việc đổi
mới PPDH đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương tiện, cơ sở vật
chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản lý. Ngoài ra, PPDH còn
mang tính chủ quan. Mỗi GV với kinh nghiệm riêng của mình cần xác định
những phương hướng riêng để cải tiến PPDH và kinh nghiệm của cá nhân.
1.2. Nghiên cứu về thuyết đa trí tuệ
1.2.1. Tổng quan về thuyết đa trí tuệ của Howard Gadner
Năm 1983, sau một thời gian nghiên cứu trên nhiều mặt về trí tuệ

dạng trừu tượng hóa có liên quan. Các loại quá trình ứng dụng trong trí tuệ
lôgic - toán học bao gồm thuật xếp loại, phân lớp, suy luận, khái quát hóa,
tính toán và kiểm nghiệm chứng minh giả thuyết. Các hà khoa học, nhà
toán học, nhân viên thuế, kế toán, nhà thống kê, luật sư, kỹ sư phần mềm,
nhà kinh tế…là những người có trí thông minh lôgic - toán học tốt.
iii) Trí thông minh về âm nhạc: Là khả năng cảm nhận âm nhạc,
phân biệt các hình thức âm nhạc, biến đổi âm nhạc, và thể hiện âm nhạc.
Dạng trí tuệ này bao gồm tính nhạy cảm với nhịp điệu, âm sắc, âm tần của
một bản nhạc. Theo Howard Gardner thông minh âm nhạc song song với
thông minh về ngôn ngữ. Ngoài ra, trí thông minh về âm nhạc còn có trong
tiềm thức của bất cứ cá nhân nào, miễn là người đó có khả năng nghe tốt,
có thể hát theo giai điệu, biết dành thời gian cho âm nhạc và nghe được
nhiều tiết mục âm nhạc khác nhau với sự chính xác và sáng suốt của các
giác quan.
iv) Trí thông minh về thể chất: Đó là khả năng sử dụng toàn bộ cơ
thể hoặc một phần cơ thể để thể hiện các ý tưởng và cảm xúc (như một diễn
viên kịch, một lực sĩ, một diễn viên múa), cũng như sự khéo léo trong việc
sử dụng cơ thể để sản xuất hay biến đổi sự vật (như một nghệ nhân, thợ cơ
khí, bác sĩ phẫn thuật). Dạng trí tuệ này bao gồm các kĩ năng cơ thể đặc
biệt như sự phối hợp cử động, khả năng giữ thang bằng, sự khéo tay, sức
mạnh cơ bắp, sự mềm dẻo và tốc độ cũng như các năng khiếu tự cảm, sờ
mó, chẩn đoán bằng tay. Những người có trí thông minh cơ thể vận động

17


tốt là những người thực hành, nhạy cảm, thường xuyên muốn vận động cơ
thể và có “phản ứng bản năng” với các tình huống, sự vật.
v) Trí thông minh về không gian: Đó là khả năng liên quan đến suy
nghĩ bằng hình ảnh, hình tượng, khả năng cảm nhận, chuyển đổi, và khả

ở trong trạng thái tĩnh lặng hay trong các trạng thái tìm hiểu tinh thần một
cách sâu sắc khác. Mặt khác, họ có thể là người có tính độc lập mạnh mẽ,
tính thẳng thắn cao độ và cực kỳ tự giác, có kỷ luật. Trong bất cứ trường
hợp nào, họ thuộc dạng tự lập và thích làm việc một mình hơn là làm việc
với người khác.
vii) Trí thông minh về tự nhiên: Đó là khả năng nắm bắt, nhận dạng
và phân loại các loài đông đảo (thực vật và động vật) có mặt trong môi
trường sống của chúng ta. Dạng trí tuệ này cũng bao gồm sự nhạy cảm với
các hiện tượng của thiên nhiên. Những người có trí thông minh về tự nhiên
luôn hòa hợp với thiên nhiên và thích thú với sự nuôi trồng , khám phá
thiên nhiên, tìm hiểu về các sinh vật. Những người này thích cắm trại, làm
vườn, leo núi, khám phá thế giới và không hứng thú với những đề tài không
gắn với môi trường.
Mô tả 8 loại hình trí thông minh bằng BĐTD:

1.2.2. Cơ sở lý luận của thuyết đa trí tuệ
19


Trong tám loại hình trí thông minh mà Howard Gadner đưa ra thì có
nhiều loại trí thông minh lâu nay người ta quen gọi chúng là “tài năng”
hoặc “năng khiếu”. Đặc biệt là trí thông minh âm nhạc, hình thể - động
năng. Ông cũng nhận ra rằng mọi người đã quen nghe những lời như: “Anh
ta không thông minh lắm nhưng lại có một năng khiếu tuyệt vời về âm
nhạc!” nên ông đã đưa ra những cơ sở lý luận rất vững chắc, nghiên cứu từ
rất nhiều lĩnh vực khoa học cũng như tâm lý học, cụ thể:
- Điều kiện tiên quyết của một trí thông minh: Theo Howard
Gadner, một trí thông minh của con người phải đưa đến một tập hợp những
kĩ năng giải quyết vấn đề, cho phép cá nhân giải quyết những vấn đề hoặc
những khó khăn đích thực mà cá nhân bắt gặp, và vào lúc thích hợp thì tạo

thời điểm xác định trong thời thơ ấu, chúng đều có một chu kỳ bộc lộ và
phát triển tiềm năng rực rỡ trong chiều dài cuộc đời, và bao gồm cả việc
mỗi loại có một hình mẫu duy nhất về quá trình suy giảm nhanh chóng hay
từ từ khi một người bị già đi. Loại tư duy lô-gic toán học xuất hiện hơi
muộn một chút trong thời thơ ấu, phát triển đạt đến đỉnh cao vào thời thanh
niên, sau đó suy giảm muộn hơn trong cuộc đời của con người. Nhìn vào
lịch sử của tư duy toán học, ta nhận thấy có một số khám phá lớn trong
toán học do những nhà bác học có tuổi đời ngoài 40 tuổi. Sự thực là, nhiều
khám phá quan trọng là của những người còn ở độ tuổi niên thiếu, chẳng
hạn như Blaise Pascal và Evaiste Galois. Thậm chí Albert Einstein đã đạt
được những hiểu biết sâu sắc ban đầu về thuyết tương đối khi ông mới 16
tuổi. Tương tự như vậy, mỗi loại trí thông minh có một mô hình tăng
trưởng, phát triển và suy giảm theo cách riêng của mình, trong vòng đời
của con người.
- Mỗi trí thông minh đều sẽ tổn thương và biến mất khi có các tác
động xâm phạm và gây hại đến những vùng đặc trưng riêng biệt của nó
trong bộ não người. Thuyết trí thông minh đa dạng tiên đoán rằng trong
thực tế, trí thông minh có thể bị cô lập khi bộ não bị tổn thương. Howard
Gadner đã đưa ra ý kiến là: nhằm mục đích được công nhận và có thể tồn
tại, bất kỳ một lý thuyết nào về trí thông minh đều phải dựa trên cơ sở sinh
21


học, nghĩa là được bắt nguồn từ cấu trúc vật chất của não bộ. Với vai trò là
một nhà tâm lý học thần kinh ở Ban quản lý cựu chiến binh Boston, ông đã
làm việc với những bệnh nhân bị tổn thương não, một phần nào đó trong 7
loại trí thông minh của họ bị ảnh hưởng, thí dụ như: Một người có thương
tích ở thuỳ trước trán trong bán cầu não trái thì không thể nói và viết bình
thường được nhưng vẫn có thể hát, vẽ, và nhảy múa không hề có một chút
khó khăn nào. Trong trường hợp này thì trí thông minh về ngôn ngữ của

văn hoá có trong trí thông minh của con người. Điều gì đã đem lại những
thành tựu và tiến bộ xã hội của chúng ta, từ thế hệ này đến thế hệ khác như
những truyện cổ tích, truyện thần thoại, tác phẩm văn học, âm nhạc, những
môn nghệ thuật lớn, những khám phá khoa học và những kỹ năng vật lý.
Thuyết trí thông minh đa dạng cho rằng, cách tốt nhất để chúng ta có thể
học được những điều thông minh là nghiên cứu, học tập những thí dụ về
các công trình văn hoá có ích nhất cho xã hội chúng ta, đối với từng loại
trong số 8 lĩnh vực. Ở một mức độ xa hơn nữa, thuyết trí thông minh đa
dạng tán thành và ca ngợi tính đa dạng trong cách mà trí thông minh được
thể hiện ở những nền văn hoá khác nhau. Trong biểu đồ về trí thông minh
này, các loại khả năng về trí tuệ của con người đều được ca ngợi và tôn
trọng như nhau. Bổ sung thêm vào các đặc điểm nội dung trên, thuyết còn
đưa ra ý kiến là mỗi loại thông minh có một quá trình xử lý nhận thức riêng
biệt của mình trong các hoạt động của trí nhớ, sự tập trung, tri giác và cách
gi ải quyết vấn đề. Thậm chí 8 loại trí thông minh còn có cả lịch sử tiến hoá
riêng của mỗi loại. Trí thông minh về âm nhạc có một phần hàm chứa tiếng
hót của chim muông, trong khi trí thông minh về vận động thân thể xuất
hiện từ những hoạt động săn bắn trong những giai đoạn sơ khai đầu tiên
của lịch sử loài người. Những ai muốn thấy các số liệu có thể định lượng
được về những vấn đề trên thì chính các kết quả kiểm tra tâm lý và nghiên
cứu thực nghiệm sẽ là một sự ủng hộ và khẳng định. Lý thuyết về trí thông
minh đa dạng không chỉ là một ý kiến đơn thuần. Nó được lập nên từ việc
tổng hợp các kết quả nghiên cứu mới nhất của những đề tài khoa học về trí
thông minh đang hiện hành.
23


1.2.3. Nhìn thuyết đa trí tuệ trong lịch sử các quan điểm về trí thông
minh.
- Những quan niệm không mang tính chuyên môn. Trong phần lớn

một khái niệm được nhà khoa học người Anh Francis Galton đưa ra trong
cuốn sách Hereditary Genius xuất bản vào cuối thế kỷ 19. Sau đó, nó được
học trò của ông là J.Cattell và nhà tâm lý học người Pháp Alfred Binet phát
triển bằng việc thảo ra những bài trắc nghiệm để kiểm tra năng lực trí tuệ
của trẻ khi đi học. Binet nhận thấy rằng có mối liên hệ giữa khả năng học
của một HS với kết quả bài trắc nghiệm của ông. Sau đó không lâu, nhà
tâm lý học người Mỹ Giáo sư Lewis Terman (Giảng viên trường đại học
Standford) đã phát triển bài trắc nghiệm gồm những câu phức tạp hơn để
dùng cho người trưởng thành và đặt tên là bài trắc nghiệm chỉ số thông
minh Stanford - Binet; nó nhanh chóng trở nên thông dụng trên khắp nước
Mỹ, bùng phát mạnh vào năm 1917. Chỉ số IQ thường được cho là có liên
quan đến sự thành công trong học tập, trong công việc, trong xã hội. Phần
lớn các học giả trong lĩnh vực tâm lý học và học giả ngoài lĩnh vực này đều
tin rằng sự hào hứng xoay quanh test đo nghiệm trí thông minh là thái quá,
và có rất nhiều hạn chế trong bản thân các các công cụ đó và trong cách
chúng có thể được dùng. Các test đo nghiệm chủ yếu tập trung vào ngôn
ngữ và lôgic toán vì thế giới hạn các tiềm năng phong phú của trí tuệ. Bản
thân nhà tâm lý học Thụy Sĩ Jean Piaget người vốn dĩ được đào tạo theo
truyền thống đo nghiệm IQ, tuy ông chưa bao giờ phê phán trào lưu test đo
nghiệm trí thông minh nhưng khi nhìn vào những bước tiến khoa học do
ông tạo ra thì ta có thể ngẫm nghĩ tới một số điều bất cập trong chương
trình trắc nghiệp IQ. Trước hết trào lưu IQ mang tính mò mẫm dựa vào duy
nghiệm. Nó đơn giản dựa trên các test với khả năng dự đoán nào đó về
thành công học đường và mới chỉ dựa theo cách mon men bên ngoài về
một lý thuyết về cách hoạt động của trí óc. Hoàn toàn không có bất cứ cách
nhìn nào về quá trình, về cách một người làm cách nào để giải quyết một
vấn đề mà chỉ đơn giản là vấn đề một người có đạt được câu trả lời đúng
hay không. Ngoài ra các bài tập được ra trong bộ đo trắc nghiệm IQ tỏ ra rõ
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status