Vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học môn toán lớp 6 - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

HOÀNG THỊ THU
VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ VÀO
DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 6
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC NGHỆ AN, 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HOÀNG THỊ THU


Vương tỉnh Quảng Trị.
Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các
thầy cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên,
khuyến khích tác giả trong quá trình học tập và triển khai thực hiện
đề tài. Nghệ An, tháng 10 năm 2014
Hoàng Thị Thu

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
I. Lí do chọn đề tài 2
II. Mục đích nghiên cứu 4
III. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
IV. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
V. Phương pháp nghiên cứu 4
VI. Giả thuyết khoa học 5
VII. Đóng góp của luận văn 5
VIII. Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1. Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học 6
1.1.1. Đổi mới phương pháp dạy học nhằm chú trọng phát triển năng lực
của học sinh 6
1.2.1. Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học 9
1.2. Nghiên cứu về thuyết đa trí tuệ 12
1.2.1. Tổng quan về thuyết đa trí tuệ của Howard Gadner 12

2.3.1. Các bước thiết kế bài dạy theo hướng đa trí tuệ 76
2.2.2. Môt số kế hoạch dạy học theo hướng đa trí tuệ 77
1.4. Kết luận chương 2 80
CHƯƠNG 3: THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 81
3.1. Mục đích thử nghiệm 81
3.2. Tổ chức và nội dung thử nghiệm 81
3.2.1. Tổ chức thử nghiệm 81
3.2.2. Nội dung thử nghiệm 81
3.3. Đánh giá kết quả thử nghiệm 87
3.3.1. Đánh giá định tính 88
3.3.2. Đánh giá định lượng 88
3.4. Kết luận chung về thử nghiệm 90
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BĐTD
:
Bản đồ tư duy
CNTT
:
Công nghệ thông tin
ĐG
:
Đánh giá


2
MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Sự phát triển của kinh tế xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa đặt ra
những yêu cầu mới về phẩm chất cũng như năng lực đối với người lao
động. Đáp ứng yêu cầu trên của xã hội, trong những năm gần đây, nền giáo
dục nước ta đã có những thay đổi đáng kể đặc biệt là trong đổi mới PPDH.
Mới đây nhất, trong nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu mục tiêu đối với giáo dục
phổ thông là:“Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất,
năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề
nghiệp cho HS. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo
dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực
và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả
năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời ”.
Định hướng chung về đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay đó là
tích cực hóa hoạt động học tập của HS, lấy người học làm trung tâm.

đào tạo ra những con người toàn diện về cả kiến thức và kĩ năng sống đáp
ứng nhu cầu của xã hội. Do đó việc vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học
môn Toán là một việc rất cần thiết góp phần phát huy sự đa dạng trí tuệ của
HS, giúp HS phát triển một cách toàn diện hơn.
Thuyết đa trí tuệ giúp GV áp dụng linh hoạt hơn các PPDH và kĩ năng
sử dụng các tài liệu, các thiết bị dạy học đa dạng hơn, phong phú hơn. GV
trong lớp học đa trí tuệ khác với trong lớp học truyền thống ngôn ngữ hoặc
lôgic-toán học. Trong lớp học đa trí tuệ, GV phải linh hoạt thay đổi phương
pháp và khéo léo chuyển từ lối dạy ngôn ngữ sang lối dạy không gian rồi
lối dạy âm nhạc hay vận động, giao tiếp,…
Vì những lí do trên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn là:
“VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ VÀO DẠY HỌC MÔN TOÁN
LỚP 6”. 4
II. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu việc vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học môn Toán lớp
6 nhằm phát huy tối đa khả năng nổi trội ở mỗi HS, kích thích hứng thú học
tập, góp phần phát triển toàn diện năng lực cho HS từ đó nâng cao hiệu quả
dạy học.
III. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề về đổi mới PPDH hiện nay và các biện pháp
để thực hiện;
- Nghiên cứu lý luận của thyết đa trí tuệ;
- Nghiên cứu, đề xuất một số chiến lược dạy học phù hợp với từng
dạng trí thông minh theo thuyết đa trí tuệ;
- Nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp vận dụng thuyết đa trí tuệ
vào dạy học chương trình môn Toán lớp 6;
- Khảo nghiệm sư phạm để bước đầu ĐG tính khả thi của biện pháp

VII. Đóng góp của luận văn
1. Luận văn làm sáng tỏ một số vấn đề lí luận về thuyết đa trí tuệ.
Hệ thống hóa các kiến thức về lí luận dạy học để có một tài liệu phục vụ
công tác chuyên môn.
2. Đề xuất một số chiến lược, giải pháp trong việc vận dụng thuyết đa
trí tuệ vào dạy học chương trình môn Toán lớp 6.
VIII. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học môn Toán lớp 6
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học
1.1.1. Đổi mới phương pháp dạy học nhằm chú trọng phát triển
năng lực của HS.
 Định hướng chung về đổi mới PPDH.
- Xác lập vị trí chủ thể của người học, đảm bảo tính tự giác tích cực,
chủ động, sáng tạo của hoạt động học tập được thực hiện độc lập hoặc
trong giao lưu. Người học là chủ thể kiến tạo kiến thức, rèn luyện kĩ năng,
hình thành thái độ. Vai trò chủ thể của người học được khẳng định trong
quá trình học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực chủ
động và sáng tạo của chính bản thân mình. Để đảm bảo vai trò chủ thể của
người học thì PPDH cần tạo ra được những hoạt động học tập có hướng

- Tạo niềm lạc quan học tập dựa trên lao động và thành quả cuả bản
thân người học. Hoạt động học tập ngoài đòi hỏi tính tích cực, tự giác, độc
lập và sáng tạo của người học thì còn phải mang lại niềm vui, hứng thú lạc
quan cho người học. Niềm vui có thể có được bằng nhiều cách khác nhau,
nhưng quan trọng hơn cả vẫn là niềm lạc quan trong lao động và thành quả
học tập của bản thân người học. HS tự mình vật lộn tìm tòi, giải quyết được
một bài toán khó, một tình huống có vấn đề mà gáo viên đưa ra sẽ cảm thấy
sung sướng và tự hào hơn rất nhiều việc tiếp nhận thụ động những kiến
thức mà người khác áp đặt sẵn cho mình. Cho nên, cần tổ chức cho HS học
tập sao cho HS luôn cảm thấy mình gần tới đích, chỉ cần nỗ lực gắng sức là
có cơ hội thành công.
- Xác định vai trò mới của người thầy với tư cách là người thiết kế, ủy
thác, điều khiển, thể chế hóa. Khẳng định vị trí chủ thể của HS dễ dẫn tới
sự ngộ nhận về sự giảm sút vai trò của người thầy. Thực ra, vai trò và trách
nhiệm của người thầy không hề bị suy giảm mà ngược lại nó càng năng nề,
nâng cao hơn. Giờ đây, thầy trong vai trò mới là người thiết kế, ủy thác,
điều khiển và thể chế hóa. Cụ thể:

8
 Thiết kế là lập kế hoạch, chuẩn bị quá trình dạy học cả về mục
đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức;
 Ủy thác là biến ý đồ dạy của thầy thành nhiệm vụ học tập tự
nguyện, tự giác của trò, là chuyển giao cho trò không phải những tri thức
dưới dạng có sẵn mà là những tình huống để trò hoạt động và thích nghi;
 Điều khiển bao gồm sự động viên, hướng dẫn và ĐG;
 Thể chế hóa là xác nhận những kiến thức mới phát hiện đồng nhất
những kiến thức riêng lẻ, mang màu sắc cá thể của từng HS. Chuẩn hóa
theo chương trình cả về mức độ lẫn yêu cầu và cách thức diễn đạt, hướng
dẫn HS vận dụng và ghi nhớ hoặc giải phóng khỏi trí nhớ nếu không cần
thiết.

nhiều hơn”. Điều đó có nghĩa, mỗi HS vừa cố gắng tự lực một cách độc
lập, vừa hợp tác chặt chẽ với nhau trong quá trình tiếp cận, phát hiện và tìm
tòi kiến thức mới. Lớp học trở thành môi trường giao tiếp thầy – trò và trò
– trò nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập
thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung.
- Chú trọng ĐG kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiết
trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (ĐG lớp học). Chú trọng
phát triển kĩ năng tự ĐG và ĐG lẫn nhau của HS với nhiều hình thức như
theo lời giải đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hay tự xác định tiêu chí để có thể
phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sữa chữa các sai sót.
1.2.1. Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học
- Đổi mới việc thiết kế và chuẩn bị bài giảng. Đổi mới PPDH cần
bắt đầu từ việc đổi mới thiết kế và chuẩn bị bài dạy. Để có một giáo án theo
hướng đổi mới PPDH, trước tiên, GV cần xác định mục tiêu dạy học về
kiến thức, kĩ năng một cách rõ ràng. Đối với nội dung dạy học thì không
chỉ chú ý tới các năng lực chuyên môn mà cần chú ý tới phát triển các năng
lực khác nữa như năng lục xã hội, năng lực cá thể… Còn việc lựa chọn các
PPDH, PTDH cần dựa vào mối quan hệ giữa mục đích – nội dung – môi

10
trường dạy học để lựa chọn cho phù hợp. GV nên lựa chọn PPDH từ tổng
quan cho cả bài học, rồi tới cho từng mục, từng ý trong bài dạy.
- Cải tiến các PPDH truyền thống, tăng cường vận dụng các
PPDH tích cực. Đổi mới PPDH không có nghĩa là loại bỏ các PPDH
truyền thống quen thuộc mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu
quả và hạn chế nhược điểm của chúng. Để nâng cao hiệu quả của các
PPDH này người GV cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo
các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp,
chẳng hạn như kỹ thuật mở bài, kỹ thuật trình bày, giải thích trong khi
thuyết trình, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm

người học như “động não”, “tia chớp”, “bể cá”, XYZ, “bàn tay nặn bột”
- Tăng cường các PPDH đặc thù bộ môn. PPDH có mối quan hệ
biện chứng với nội dung dạy học. Vì vậy bên cạnh những phương pháp
chung có thể sử dụng cho nhiều bộ môn khác nhau thì việc sử dụng các
PPDH đặc thù có vai trò quan trọng trong dạy học bộ môn. Các PPDH đặc
thù bộ môn được xây dựng trên cơ sở lý luận dạy học bộ môn.
- Bồi dưỡng phương pháp học tập cho HS. Phương pháp học tập
một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc tích cực hoá, phát huy
tính sáng tạo của HS. Có những phương pháp nhận thức chung như phương
pháp thu thập, xử lý, ĐG thông tin, phương pháp tổ chức làm việc, phương
pháp làm việc nhóm, và có những phương pháp học tập chuyên biệt của
từng bộ môn. Bằng nhiều hình thức khác nhau, cần luyện tập cho HS các
phương pháp học tập chung và các phương pháp học tập trong bộ môn.
- Cải tiến việc kiểm tra ĐG. Đổi mới PPDH cần gắn liền với đổi mới
về ĐG quá trình dạy học cũng như đổi mới việc kiểm tra và ĐG thành tích
học tập của HS. Cần bồi dưỡng cho HS những kỹ thuật thông tin phản hồi
nhằm tạo điều kiện cho HS tham gia ĐG và cải tiến quá trình dạy học.
Trong ĐG thành tích học tập của HS không chỉ ĐG kết quả mà chú ý cả
quá trình học tập. ĐG thành tích học tập theoquan điểm phát triển năng lực

12
không giới hạn vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả năng vận
dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp.
Tóm lại, có rất nhiều phương hướng đổi mới PPDH với những cách
tiếp cận khác nhau, trên đây chỉ là một số phương hướng chung. Việc đổi
mới PPDH đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương tiện, cơ sở vật
chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản lý. Ngoài ra, PPDH còn
mang tính chủ quan. Mỗi GV với kinh nghiệm riêng của mình cần xác định
những phương hướng riêng để cải tiến PPDH và kinh nghiệm của cá nhân.
1.2. Nghiên cứu về thuyết đa trí tuệ

dạng trừu tượng hóa có liên quan. Các loại quá trình ứng dụng trong trí tuệ
lôgic - toán học bao gồm thuật xếp loại, phân lớp, suy luận, khái quát hóa,
tính toán và kiểm nghiệm chứng minh giả thuyết. Các hà khoa học, nhà
toán học, nhân viên thuế, kế toán, nhà thống kê, luật sư, kỹ sư phần mềm,
nhà kinh tế…là những người có trí thông minh lôgic - toán học tốt.
iii) Trí thông minh về âm nhạc: Là khả năng cảm nhận âm nhạc,
phân biệt các hình thức âm nhạc, biến đổi âm nhạc, và thể hiện âm nhạc.
Dạng trí tuệ này bao gồm tính nhạy cảm với nhịp điệu, âm sắc, âm tần của
một bản nhạc. Theo Howard Gardner thông minh âm nhạc song song với
thông minh về ngôn ngữ. Ngoài ra, trí thông minh về âm nhạc còn có trong
tiềm thức của bất cứ cá nhân nào, miễn là người đó có khả năng nghe tốt,
có thể hát theo giai điệu, biết dành thời gian cho âm nhạc và nghe được
nhiều tiết mục âm nhạc khác nhau với sự chính xác và sáng suốt của các
giác quan.
iv) Trí thông minh về thể chất: Đó là khả năng sử dụng toàn bộ cơ
thể hoặc một phần cơ thể để thể hiện các ý tưởng và cảm xúc (như một diễn
viên kịch, một lực sĩ, một diễn viên múa), cũng như sự khéo léo trong việc
sử dụng cơ thể để sản xuất hay biến đổi sự vật (như một nghệ nhân, thợ cơ
khí, bác sĩ phẫn thuật). Dạng trí tuệ này bao gồm các kĩ năng cơ thể đặc
biệt như sự phối hợp cử động, khả năng giữ thang bằng, sự khéo tay, sức
mạnh cơ bắp, sự mềm dẻo và tốc độ cũng như các năng khiếu tự cảm, sờ

14
mó, chẩn đoán bằng tay. Những người có trí thông minh cơ thể vận động
tốt là những người thực hành, nhạy cảm, thường xuyên muốn vận động cơ
thể và có “phản ứng bản năng” với các tình huống, sự vật.
v) Trí thông minh về không gian: Đó là khả năng liên quan đến suy
nghĩ bằng hình ảnh, hình tượng, khả năng cảm nhận, chuyển đổi, và khả
năng tái tạo lại những góc độ khác nhau của thế giới không gian trực quan.
Dạng trí tuệ này liên hệ chặt chẽ với tính nhạy cảm về màu sắc, đường nét,

hợp nào, họ thuộc dạng tự lập và thích làm việc một mình hơn là làm việc
với người khác.
vii) Trí thông minh về tự nhiên: Đó là khả năng nắm bắt, nhận dạng
và phân loại các loài đông đảo (thực vật và động vật) có mặt trong môi
trường sống của chúng ta. Dạng trí tuệ này cũng bao gồm sự nhạy cảm với
các hiện tượng của thiên nhiên. Những người có trí thông minh về tự nhiên
luôn hòa hợp với thiên nhiên và thích thú với sự nuôi trồng , khám phá
thiên nhiên, tìm hiểu về các sinh vật. Những người này thích cắm trại, làm
vườn, leo núi, khám phá thế giới và không hứng thú với những đề tài không
gắn với môi trường.
Mô tả 8 loại hình trí thông minh bằng BĐTD: 16
1.2.2. Cơ sở lý luận của thuyết đa trí tuệ
Trong tám loại hình trí thông minh mà Howard Gadner đưa ra thì có
nhiều loại trí thông minh lâu nay người ta quen gọi chúng là “tài năng”
hoặc “năng khiếu”. Đặc biệt là trí thông minh âm nhạc, hình thể - động
năng. Ông cũng nhận ra rằng mọi người đã quen nghe những lời như: “Anh
ta không thông minh lắm nhưng lại có một năng khiếu tuyệt vời về âm
nhạc!” nên ông đã đưa ra những cơ sở lý luận rất vững chắc, nghiên cứu từ
rất nhiều lĩnh vực khoa học cũng như tâm lý học, cụ thể:
- Điều kiện tiên quyết của một trí thông minh: Theo Howard
Gadner, một trí thông minh của con người phải đưa đến một tập hợp những
kĩ năng giải quyết vấn đề, cho phép cá nhân giải quyết những vấn đề hoặc
những khó khăn đích thực mà cá nhân bắt gặp, và vào lúc thích hợp thì tạo
ra được một sản phẩm thực sự, và đồng thời cũng phải đưa đến tiềm năng
tìm ra hoặc tạo ra những vấn đề, bằng cách ấy đặt nền móng cho việc học
tri thức mới. Các điều kiện tiên quyết là một cách để bảo đảm rằng một trí
khôn người phải thực sự có ích và có ý nghĩa quan trọng, chí ít trong những

niên, sau đó suy giảm muộn hơn trong cuộc đời của con người. Nhìn vào
lịch sử của tư duy toán học, ta nhận thấy có một số khám phá lớn trong
toán học do những nhà bác học có tuổi đời ngoài 40 tuổi. Sự thực là, nhiều
khám phá quan trọng là của những người còn ở độ tuổi niên thiếu, chẳng
hạn như Blaise Pascal và Evaiste Galois. Thậm chí Albert Einstein đã đạt
được những hiểu biết sâu sắc ban đầu về thuyết tương đối khi ông mới 16
tuổi. Tương tự như vậy, mỗi loại trí thông minh có một mô hình tăng
trưởng, phát triển và suy giảm theo cách riêng của mình, trong vòng đời
của con người.
- Mỗi trí thông minh đều sẽ tổn thương và biến mất khi có các tác
động xâm phạm và gây hại đến những vùng đặc trưng riêng biệt của nó
trong bộ não người. Thuyết trí thông minh đa dạng tiên đoán rằng trong
thực tế, trí thông minh có thể bị cô lập khi bộ não bị tổn thương. Howard
Gadner đã đưa ra ý kiến là: nhằm mục đích được công nhận và có thể tồn

18
tại, bất kỳ một lý thuyết nào về trí thông minh đều phải dựa trên cơ sở sinh
học, nghĩa là được bắt nguồn từ cấu trúc vật chất của não bộ. Với vai trò là
một nhà tâm lý học thần kinh ở Ban quản lý cựu chiến binh Boston, ông đã
làm việc với những bệnh nhân bị tổn thương não, một phần nào đó trong 7
loại trí thông minh của họ bị ảnh hưởng, thí dụ như: Một người có thương
tích ở thuỳ trước trán trong bán cầu não trái thì không thể nói và viết bình
thường được nhưng vẫn có thể hát, vẽ, và nhảy múa không hề có một chút
khó khăn nào. Trong trường hợp này thì trí thông minh về ngôn ngữ của
anh ta đã bị suy giảm, hư hại một phần. Mặt khác, những người bị thương ở
thuỳ thái dương bên phải có thể khó khăn khi thực hiện những công việc
mang tính chất âm nhạc, nhưng anh ta có thể nói, đọc và viết một cách dễ
dàng. Những bệnh nhân bị thương ở thuỳ chẩm của bán cầu não bên phải
có thể bị suy giảm đáng kể những khả năng về nhận biết gương mặt, khả
năng quan sát hoặc nhận biết những chi tiết trực quan. Lý thuyết về trí

trong số 8 lĩnh vực. Ở một mức độ xa hơn nữa, thuyết trí thông minh đa
dạng tán thành và ca ngợi tính đa dạng trong cách mà trí thông minh được
thể hiện ở những nền văn hoá khác nhau. Trong biểu đồ về trí thông minh
này, các loại khả năng về trí tuệ của con người đều được ca ngợi và tôn
trọng như nhau. Bổ sung thêm vào các đặc điểm nội dung trên, thuyết còn
đưa ra ý kiến là mỗi loại thông minh có một quá trình xử lý nhận thức riêng
biệt của mình trong các hoạt động của trí nhớ, sự tập trung, tri giác và cách
gi ải quyết vấn đề. Thậm chí 8 loại trí thông minh còn có cả lịch sử tiến hoá
riêng của mỗi loại. Trí thông minh về âm nhạc có một phần hàm chứa tiếng
hót của chim muông, trong khi trí thông minh về vận động thân thể xuất
hiện từ những hoạt động săn bắn trong những giai đoạn sơ khai đầu tiên
của lịch sử loài người. Những ai muốn thấy các số liệu có thể định lượng
được về những vấn đề trên thì chính các kết quả kiểm tra tâm lý và nghiên
cứu thực nghiệm sẽ là một sự ủng hộ và khẳng định. Lý thuyết về trí thông
minh đa dạng không chỉ là một ý kiến đơn thuần. Nó được lập nên từ việc

Trích đoạn Cỏc chiến lược dạy học cho trớ tuệ nội tõm Cỏc chiến lược dạy học cho trớ thụng minh õm nhạc, trớ thụng minh Một số biện phỏp vận dụng thuyết đa trớ tuệ vào dạy học Biện phỏp 5: Sử dụng cỏc phương tiện dạy học đa dạng Kết luận chương 2
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status