TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
=====o0o=====
HOÀNG THỊ YẾN
VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ
TRONG DẠY HỌC MỘT SỐ NỘI DUNG TOÁN
CHO HỌC SINH LỚP 4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
Người hướng dẫn khoa học:
ThS. Nguyễn Thị Thanh Tuyên
HÀ NỘI, 2017
LỜI CẢM ƠN
Với những tình cảm chân thành và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin
trân trọng cảm ơn cô giáo hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Thanh Tuyên đã định
hướng đề tài và tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi nghiên cứu và hoàn thành
khóa luận.
Trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận, tôi đã nhận được sự
giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo, bạn bè và người thân. Tôi xin trân
trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Giáo dục Tiểu học Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2; Ban giám hiệu Trường Tiểu học Xuân Hòa - Thị xã Phúc
Yên - tỉnh Vĩnh Phúc.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các thầy cô giáo,
gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên, khuyến khích tôi trong quá trình học
tập và triển khai thực hiện đề tài.
1.1.2. Thuyết đa trí tuệ trong lịch sử các quan điểm về trí thông minh ..... 9
1.1.3. Một số vấn đề về ứng dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học ............. 12
1.1.4. Hướng tiếp cận thuyết đa trí tuệ với học sinh ................................ 21
1.2. Một số vấn đề về dạy học môn Toán lớp 4 .......................................... 25
1.2.1. Đặc trưng của môn toán lớp 4 ........................................................ 25
1.2.2. Mục tiêu dạy học và yêu cầu cần đạt được ở môn Toán lớp 4. ..... 27
1.2.3. Định hướng chung về phương pháp dạy học môn Toán lớp 4 ...... 29
1.3. Tìm hiểu việc vận dụng thuyết đa trí tuệ trong dạy học môn toán cho
học sinh lớp 4 ............................................................................................... 30
1.3.1. Tìm hiểu việc vận dụng thuyết đa trí tuệ trong giáo dục nói chung......30
1.3.2. Thực trạng việc vận dụng thuyết đa trí tuệ trong dạy học môn Toán 4 31
Kết luận chương 1 ........................................................................................ 32
Chương 2. VẬN DỤNG LÝ THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ VÀO DẠY HỌC MỘT
SỐ NỘI DUNG MÔN TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 4 ............................... 33
2.1. Định hướng vận dụng thuyết Đa trí tuệ trong dạy học một số nội dung
môn toán cho học sinh lớp 4 ........................................................................ 33
2.1.1. Tuân thủ các yêu cầu về phương pháp dạy học môn toán cho học
sinh lớp 4 .................................................................................................. 33
2.1.2. Phù hợp với định hướng đổi mới PPDH môn Toán ....................... 33
2.1.3. Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý học sinh lứa tuổi lớp 4 ............. 34
2.1.4. Đảm bảo tính khả khi ..................................................................... 34
2.2. Xây dựng chiến lược dạy học cho các loại hình trí thông minh ........... 35
2.2.1. Các chiến lược dạy học cho trí tuệ ngôn ngữ ................................. 35
2.2.2. Các chiến lược dạy học cho trí tuệ lôgic - toán học ....................... 36
2.2.3. Các chiến lược dạy học cho trí tuệ không gian .............................. 37
2.2.4. Các chiến lược dạy học cho trí tuệ giao tiếp .................................. 40
2.2.5. Các chiến lược dạy học cho trí tuệ nội tâm .................................... 42
2.2.6 Các chiến lược dạy học cho trí thông minh âm nhạc, trí thông minh
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
BĐTD
:
Bản đồ tư duy
CNTT
:
Công nghệ thông tin
ĐG
:
Đánh giá
HS
:
Học sinh
GV
:
Tiểu học
TN
:
Thực nghiệm
TNSP
:
Thực nghiệm sư phạm
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển của kinh tế xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa đặt ra
những yêu cầu mới về phẩm chất cũng như năng lực đối với người lao động.
Đáp ứng yêu cầu trên của xã hội, trong những năm gần đây, nền giáo dục
nước ta đã có những thay đổi đáng kể đặc biệt là trong đổi mới PPDH. Định
hướng chung về đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay đó là tích cực hóa
hoạt động học tập của HS, lấy người học làm trung tâm. Mới đây nhất, trong
nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo đã nêu mục tiêu đối với giáo dục phổ thông là:“Tập
trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân,
phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho HS. Nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền
thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành,
vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học,
Môn toán giai đoạn lớp 4 là thời điểm cần được chú ý nhất đối với bậc
học Tiểu học. Bởi kiến thức môn toán lớp 4 có nhiều mắt xích chuyển tiếp.
Từ việc mở rộng vòng số dẫn đến mở rộng kiến thức hình học, giải toán và
các yếu tố thống kê. Đặc biệt nội dung môn toán lớp 4 có nhiều kiến thức mới
trừu tượng, logic, là nền tảng kiến thức toán học cho các cấp học tiếp theo. Vì
thế, việc dạy học toán ở TH cần đặc biệt phải chú trọng trong giai đoạn lớp 4
Với những lí do trên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Vận dụng thuyết
đa trí tuệ trong dạy học một số nội dung toán cho học sinh lớp 4”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu việc vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học một số nội dung
môn Toán cho học sinh lớp 4 nhằm phát huy tối đa khả năng nổi trội ở mỗi
HS, kích thích hứng thú học tập, góp phần phát triển toàn diện năng lực cho
HS từ đó nâng cao hiệu quả dạy học.
2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề về đổi mới PPDH hiện nay và các biện pháp để
thực hiện;
- Nghiên cứu lý thuyết đa trí tuệ;
- Nghiên cứu, đề xuất một số chiến lược dạy học phù hợp với từng dạng
trí thông minh theo thuyết đa trí tuệ;
- Nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp vận dụng thuyết đa trí tuệ vào
dạy học chương trình môn Toán lớp 4;
- TN sư phạm để bước đầu ĐG tính khả thi của biện pháp đề xuất.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu quá trình dạy học môn Toán theo
hướng phát huy tính đa trí tuệ của HS.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học môn Toán lớp 4
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
4
NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Nghiên cứu về thuyết đa trí tuệ
1.1.1. Giới thiệu về thuyết đa trí tuệ
Năm 1983, sau một thời gian nghiên cứu trên nhiều mặt về trí tuệ
Howard Gadner đã đưa ra một lý thuyết tâm lý học mới, đó là lý thuyết về
nhiều dạng trí thông minh mà ông gọi tắt là MI “Theory of Multipe
intelligences”. Lý thuyết này được công bố chính thức năm 1983, khi ông
xuất bản cuốn sách “Frames of Mind: The Theory of Multiple Intelligences”.
Cốt lõi của lý thuyết tâm lý học MI là sự thừa nhận nhiều thành phần của trí
thông minh trong một hoặc những năng lực người. Ông đưa ra tám dạng trí
thông minh khác nhau đó là: trí thông minh ngôn ngữ, trí thông minh âm
nhạc, trí thông minh lôgic - toán, trí thông minh không gian, trí thông minh cơ
thể - vận động, trí thông minh cá nhân nội tâm, trí thông minh về tự nhiên.
Nội dung của tám loại hình trí thông minh như sau:
i) Trí thông minh ngôn ngữ: Bao gồm sự khả năng nói và viết, khả năng
học ngôn ngữ và khả năng sử dụng một cách có hiệu quả các từ ngữ, hoặc
bằng lời nói, hoặc bằng chữ viết để đạt được mục tiêu. Dạng trí tuệ này bao
gồm khả năng xử lý cấu trúc ngôn ngữ, âm thanh của ngôn ngữ, nghĩa của
ngôn ngữ và việc sử dụng ngôn ngữ trong thực tiễn. Một số ứng dụng thực tế
như thuật hùng biện (dùng lời để thuyêt phục người khác), thuật gợi nhớ
(mượn ngôn ngữ để hồi tưởng các thông tin), thuật giải thích (dụng lời để nói
cho người khác hiểu), thuật siêu ngôn ngữ (dùng ngôn ngữ để nói về ngôn
hợp cử động, khả năng giữ thang bằng, sự khéo tay, sức mạnh cơ bắp, sự
mềm dẻo và tốc độ cũng như các năng khiếu tự cảm, sờ mó, chẩn đoán bằng
tay. Những người có trí thông minh cơ thể vận động tốt là những người thực
hành, nhạy cảm, thường xuyên muốn vận động cơ thể và có “phản ứng bản
năng” với các tình huống, sự vật.
6
v) Trí thông minh về không gian: Đó là khả năng liên quan đến suy nghĩ
bằng hình ảnh, hình tượng, khả năng cảm nhận, chuyển đổi, và khả năng tái
tạo lại những góc độ khác nhau của thế giới không gian trực quan. Dạng trí
tuệ này liên hệ chặt chẽ với tính nhạy cảm về màu sắc, đường nét, hình dạng,
và các tương quan vốn có giữa những yếu tố đó. Những người sở hữu loại trí
thông minh về không gian ở mức độ cao thường hình dung được một cách
sống động, vẽ ra hay phác họa những ý tưởng của họ dưới dạng hình ảnh, đồ
hoạ, cũng như họ có khả năng tự định hướng bản thân trong không gian 3
chiều một cách dễ dàng. Ví dụ Một người đi săn, một người dẫn đường, nhà
trang trí nội thất, kiến trúc sư, một nhà phát minh…
vi) Trí thông minh giao tiếp: Đó là khả năng cảm nhận và phân biệt giữa
các tâm trạng, ý đồ, động cơ và cảm nghĩ của người khác. Dạng trí tuệ này
được thể hiện qua việc nắm bắt được những thay đổi về nét mặt, giọng nói,
động tác, tư thế của đối phương khi giao tiếp từ đó đáp ứng lại các biểu hiện
của đối phương một cách thích hợp thiết thực (tức là dễ chia sẻ với tâm trạng,
tính cách, ý định và mong muốn của những người khác). Một cá nhân có trí
thông minh về giao tiếp có thể rất giàu lòng trắc ẩn và đầy tinh thần trách
nhiệm đối với xã hội, hoặc là người có sức lôi với mọi người và tập thể, họ
còn có khả năng thấu hiểu những người khác và từ đó nhìn ra viễn cảnh của
thế giới bên ngoài bằng chính cặp mắt của những con người đó. Trong thực
tế, họ rất tuyệt vời với vai trò của người môi giới, người hoà giải hoặc là thầy
Trong phần lớn lịch sử loài người, đã không có định nghĩa mang tính
khoa học nào về trí thông minh. Hiển nhiên người ta vẫn thường xuyên nói về
khái niệm trí thông minh và gán cho người khác ít nhiều như là “sang dạ”,
“đần”, “lanh lợi”, hoặc “thông minh”. Tất cả những nhân vật nổi tiếng theo
những cách khác nhau đều có thể được gọi là “tài giỏi”. Sự tranh luận không
chính thức như vậy bằng ngôn ngữ thông thường đã đáp ứng đầy đủ, nhưng
điều chủ yếu là bởi vì người ta hiếm khi thách thức lẫn nhau về điều đơn giản
sau: “thông minh” nghĩa là gì. Dù như vậy nhưng trí thông minh luôn được đề
cao, ít nhất là từ khi xuất hiện thành bang Hy Lạp “Tác giả quan trọng nhất và
động lực đầu tiên của vũ trụ là trí thông minh. Do đó, nguyên nhân cuối cùng
của vũ trụ ắt phải là lợi ích của trí thông minh, và trí thông minh là chân lý…
Trong tất cả nhưng điều con người theo đuổi thì theo đuổi sự thông thái là
điều hoàn hảo nhất, là điều cao cả nhất, điều hữu ích nhất, và thú vị nhất…”
theo Augustine of Hippo (354 - 430). Và trong giai đoạn này đã xuất hiện một
số quan điểm về nguồn gốc cơ thể của các chức năng trí tuệ, người Ai Cập đã
định vị trí tuệ là ở quả tim, Pythagoras và Plato cho rằng trí tuệ trong bộ não.
- Giai đoạn của phương pháp đo nghiệm tâm lý tiêu chuẩn.
Vào Thế kỉ 19 các nhà tâm lý học đã có những nỗ lực đầu tiên nhằm
định nghĩa khái niệm trí thông minh theo cách chuyên môn và nghĩ ra các test
để đo nghiệm trí thông minh. Trên nhiều phương diện, những lỗ lực này là
một tiến bộ và là một sự thành công đặc biệt đối với tâm lý học xét như là một
khoa học. Những test đo nghiệm trí thông minh đầu tiên đã ra đời vào đầu thế
kỉ 20 nhằm lọc ra các trẻ em chậm phát triển và đưa những em còn lại vào lớp
học đúng trình độ. Ngay sau đó các bài tập và các test đo nghiệm đã ra đời để
sử dụng rộng rãi đặc biệt là trào lưu trắc nghiệm IQ. Chỉ số thông minh,
9
hay IQ (viết tắt của intelligence quotient trong tiếng Anh) là một khái niệm
Ngoài ra các bài tập được ra trong bộ đo trắc nghiệm IQ tỏ ra rõ ràng là mang
tính vi mô, thường không có liên hệ với nhau và dường như là tiến hành theo
phương pháp “thi bắn súng” để ĐG trí tuệ người. Các bài tập trong đó nhiều
trường hợp là xa vời với đời sống thường nhật nên ít có khả năng dự đoán về
thành công bên ngoài nhà trường. Như vậy nếu xét những nhân tố về phương
pháp đo nghiệm tâm lý tiêu chuẩn, thì đã có sự lạm dụng đáng kể sự “đo nghiệm
IQ” một cách dễ dãi và không có mấy tiến bộ về lý thuyết. Gần đây cũng xuất
hiện một phương pháp đo nghiệm mới nữa, phương pháp tiếp cận xử lý thông
tin. Khác với đo nghiệm IQ, phương pháp này tập trung vào mô tả chi tiết quá
trình xử lý thông tin của mỗi người. Mục đích cuối cùng là có thể mô tả trên máy
tính đầy đủ và tỉ mỉ quá trình thực hiện cuả một cá nhân.
- Giai đoạn của quan niệm đa nguyên và sự phân loại thứ bậc các dạng
trí thông minh.
Thế hệ đầu tiên của các nhà tâm lý học về trí thông minh như Charles
Spearman (1927) và Lewis Terman (1975) có khuynh hướng tin rằng trí thông
minh là một khả năng đơn nhất mang tính tổng hợp. Họ tìm cách chứng minh
rằng một tập hợp những điểm số trong các trắc nghiệm phản ánh một nhân tố
nền tảng đơn nhất của “trí thông minh tổng quát”. Luận điểm này không tránh
khỏi bị phản đối, qua nhiều năm, những nhà tâm lý học như T. T. Thurstone
(1960) và J. P. Guilford (1967) đã đưa ra lý lẽ ủng hộ sự tồn tại của một số
những nhân tố hoặc thành phần của trí thông minh. Sau khi xác định được
một số thành phần của trí thông minh thì vấn đề đặt ra là chúng có quan hệ
với nhau như thế nào và liệu chúng có liên hệ với nhau không. Đã có hai lý lẽ
được đưa ra: Một là ủng hộ mối quan hệ thứ bậc giữa các nhân tố, coi trí
thông minh tổng quát, trí thông minh ngôn ngữ hoặc trí thông minh về con số
như là cái điều khiển những trí thông minh khác. Hai là cho rằng mỗi trí thông
minh đều là thành viên bình đẳng của cấu trúc trí thông minh.
11
lôgic-toán học. Trong lớp học đa trí tuệ, GV phải linh hoạt thay đổi phương
pháp và khéo léo chuyển từ lối dạy ngôn ngữ sang lối dạy không gian rồi lối
dạy âm nhạc hay vận động, giao tiếp,…
Qua nghiên cứu và thực nghiệm cho thấy, việc tổ chức dạy học bằng áp
dụng linh hoạt, tổng hợp các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực mà Bộ
Giáo dục và Đào tạo đang tích cực triển khai gần đây như đẩy mạnh ứng dụng
công nghệ thông tin, bàn tay nặn bột, bản đồ tư duy,… sẽ tạo ra môi trường
học tập đa trí tuệ rất hiệu quả. Trong đó, phương pháp dạy học bản đồ tư duy
huy động nhiều trí thông minh ở HS, góp phần phát triển toàn diện cho học
sinh. Theo định hướng này, tổ chức dạy học bằng bản đồ tư duy thông qua các
hoạt động:
Hoạt động 1: HS nghiên cứu tài liệu, đọc thầm SGK, tìm từ khóa (phát
huy trí thông minh nội tâm, ngôn ngữ);
Hoạt động 2: HS thảo luận nhóm, lớp về nội dung, dưới sự dẫn dắt gợi ý
của GV (phát huy trí thông minh giao tiếp);
Hoạt động 3: HS thiết lập bản đồ tư duy về bài học (phát huy trí thông
minh ngôn ngữ, lôgic, không gian) vì bản đồ tư duy là sự kết hợp cả đường
nét, màu sắc, chữ viết và có thể vẽ thêm các hình ảnh liên tưởng trong thực tế
cuộc sống, trong thiên nhiên vào bản đồ tư duy (trí thông minh tự nhiên học).
Hoạt động 4: HS thuyết trình về bản đồ tư duy trước nhóm, lớp. Việc
thuyết trình cần cả ngữ điệu, âm điệu, điệu bộ cơ thể (phát huy trí thông minh
giao tiếp, hình thể động năng, âm nhạc).
1.1.3.2. Về môi trường lớp học đa trí tuệ
Môi trường lớp học đa trí tuệ cần phải được thiết kế, bố trí, sắp xếp để
phù hợp với nhu cầu của nhiều loại trí tuệ khác nhau ở HS. Ứng với mỗi loại
trí tuệ, cần đặt một số câu hỏi theo gợi ý sau: Từ ngữ dùng trong lớp học đã
phù hợp với HS chưa? HS được tiếp xúc với chữ viết như thế nào? (Ngôn
14
Vận dụng thuyết đa trí tuệ cũng giúp cha mẹ HS tránh áp lực về điểm số,
chú ý tới giáo dục toàn diện và khích lệ con em mình trong học tập, rèn luyện
và định hướng lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai phù hợp với sở trường,
khả năng của mỗi em. Hàng ngày mỗi chúng ta đều sử dụng tám loại hình
thông minh nhưng cách thể hiện hoàn toàn khác nhau. Mỗi chúng ta là một
bài hát được viết nên từ tám nốt nhạc Đồ, Rê, Mi, Fa, Son, La, Si, Đô. Cách
chúng ta kết nối cácnốt nhạc ấy rất khác biệt nên không có bài hát nào giống
nhau hoàn toàn. Vì vậy khi sử dụng tất cả các loại hình trí thông minh theo
cách của riêng mình, mỗi người sẽ góp vào thế giới một giai điệu riêng biệt
mà không ai có thể tạo ra. Mỗi cá nhân đều có cách học tập riêng biệt nhằm
tiếp thu kiến thức một cách tốt nhất. Cách học tập có ảnh hưởng đến hiệu quả
học tập và sự thành công của mỗi cá nhân. Khi hiểu rõ hơn về cách học của
người học, người dạy có thể điều chỉnh phương pháp giảng dạy nhằm tận
dụng tốt nhất tình huống đang diễn ra để giúp người học tiếp nhận thông tin,
kiến thức mới một cách dễ dàng hơn.
1.1.3.3. Tìm hiểu về đa trí tuệ của học sinh để vận dụng vào dạy học
Để vận dụng thuyết đa trí tuệ vào day học hiệu quả thì trước tiên người
GV phải hiểu thật rõ và phân loại được một cách tương đối về trí thông minh
của mỗi HS. Tuy rằng, mỗi em đều có đủ 8 dạng trí thông minh và phát triển
chúng tới mức độ hợp lý, nhưng HS thường hay bộc lộ những “thiên hướng”
(sở trường) phát triển các trí tuệ đặc trưng nào đó. Nhưng trong thực tế, không
có “đại chắc nghiệm nào” để lập một bảng đầy đủ về các dạng trí tuệ của HS
mà GV có thể sử dụng nó để đo lường mức độ của mỗi loại trí thông minh của
HS. Để tìm hiểu về trí thông minh của mỗi HS, GV cần kết hợp nhiều cách
khác nhau. Có thể kể đến như sau:
- Phương pháp quan sát: Công cụ tốt nhất để ĐG các trí thông minh của
cần bổ sung thêm những tư liệu minh chứng cụ thể hơn như chụp ảnh, ghi âm,
quay phim ghi lại những cảnh hoặc những sản phẩm mà HS biểu lộ rõ về một
16
dạng trí tuệ nào đó. Nếu HS biểu lộ năng khiếu kể chuyện hay ca hát, hãy ghi
âm lại làm dẫn chứng. Nếu HS có trí tuệ không gian như vẽ tranh hoặc sáng
tác một bức họa, hãy lưu lại các tác phẩm đó. Nếu HS biểu lộ tài năng trong
một trận bóng đá hoặc trồng một cây hoa, hãy quay lại video cảnh đó.Với
những tư liệu này thì sự ĐG đa trí tuệ của HS sẽ được minh chứng dưới nhiều
hình thức, phong phú và xác đáng hơn.
- Tra cứu học bạ hoặc sổ điểm: Dù chỉ là sản phẩm trên giấy, tẻ nhạt và
đôi khi chưa hoàn toàn chuẩn xác, nhưng các tư liệu tổng hợp về một HS có
thể chứa đựng một số thông tin quan trọng về các trí thông minh của HS đó.
Hãy xem các sổ điểm của HS qua nhiều năm. Nếu điểm các môn Toán và
khoa học tự nhiên luôn cao hơn hẳn các điểm môn Văn và khoa học xã hội thì
ở em HS này trí thông minh lôgic - toán học phát triển hơn hẳn trí tuệ ngôn
ngữ. Nếu điểm các môn Nhạc hoặc Mỹ thuật hoặc Thể dục cao thì ở em HS
này có thiên hướng trội về trí thông minh về âm nhạc hoặc không gian hoặc
vận động cơ thể… Ngoài ra, trong học bạ cũng lưu giữ lại những nhận xét rất
hữu ích của những GV trước về các HS.
- Trao đổi với các GV khác: Thông thường mỗi GV chỉ dạy một đến hai
bộ môn, chính vì vậy sẽ không có điều kiện để quan sát HS biểu lộ trí thông
minh ở những bộ môn khác. Vì vậy, nên xem các GV đồng nghiệp là những
người cung cấp nguồn thông tin ĐG vừa đáng quý, vừa đáng tin cậy về các trí
thông minh của HS. Ví dụ GV môn Văn sẽ là người hiểu sâu nhất về trí tuệ
ngôn ngữ của HS, GV môn Giáo dục công dân thì hiểu rõ về trí thông minh
giao tiếp của HS hơn… Nên trao đổi một cách đều đặn để đối chiếu các nhận
xét về HS, có thể chúng ta sẽ phát hiện được một HS tưởng là kém cỏi về môn
Đặc điểm, biểu hiện
Trí thông minh
- Viết lách tốt hơn HS trung bình cùng lứa tuổi.
Ngôn ngữ
- Có trí nhớ tốt với từ ngữ khi được đọc, nghe hoặc viết.
- Dễ dàng bộc lộ suy nghĩ của mình thông qua nói chuyện
cũng như viết lách.
18