VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THÚY NGA
THỜI TRONG TIẾNG NHẬT
VÀ CÁC BIỂU HIỆN TƢƠNG ĐƢƠNG
TRONG TIẾNG VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI – năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THÚY NGA
THỜI TRONG TIẾNG NHẬT
VÀ CÁC BIỂU HIỆN TƢƠNG ĐƢƠNG
TRONG TIẾNG VIỆT
Ngành: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU
Mã số: 9 22 20 24
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TRẦN THỊ CHUNG TOÀN
PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU
..................................................................... 8
1.1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU........................................................ 8
1.1.1. Tình hình nghiên cứu thời trên thế giới nói chung ...................................................... 8
1.1.2. Tình hình nghiên cứu thời tại Nhật Bản..................................................................... 10
1.1.3. Tình hình nghiên cứu thời tại Việt Nam ..................................................................... 15
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN ................................ 18
1.2.1. Biểu hiện thời gian và phạm trù Thời ........................................................................ 18
1.2.2. Phạm trù thời nói chung và quan điểm làm việc của luận án .................................... 20
1.2.3. Phạm trù thời trong mối quan hệ với thể và tình thái ................................................ 22
1.2.4. Những vấn đề đối chiếu và dịch thuật liên quan đến đề tài nghiên cứu .................... 24
1.3. THỜI TRONG TIẾNG NHẬT...................................................................................... 27
1.3.1. Sự đối lập lưỡng phân và phạm vi biểu hiện thời trong tiếng Nhật ........................... 27
1.3.2. Thời tuyệt đối và thời tương đối ................................................................................. 28
1.4. TIỂU KẾT
................................................................................................................ 39
CHƢƠNG 2 PHÂN TÍCH BIỂU HIỆN CỦA THỜI TIẾNG NHẬT TỪ GÓC ĐỘ
HÌNH THÁI VÀ NGỮ NGHĨA
................................................................... 41
2.1. PHÂN TÍCH BIỂU HIỆN CỦA THỜI TIẾNG NHẬT TỪ GÓC ĐỘ HÌNH THÁI
CỦA VỊ TỪ
42
2.1.1. Biểu hiện của thời tuyệt đối ....................................................................................... 43
3.2.2. Xem xét các phát ngôn có chứa các yếu tố ngữ pháp biểu hiện thời gian (P) được
dịch sang tiếng Nhật .......................................................................................................... 114
3.3. TIỂU KẾT
.............................................................................................................. 123
CHƢƠNG 4 KHẢO SÁT CÁCH NẮM BẮT VÀ SỬ DỤNG THỜI TRONG
TIẾNG NHẬT CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM - ĐỀ XUẤT LƢU Ý TRONG DẠY
VÀ HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THỜI ................................................................. 126
4.1. XEM XÉT CÁCH NẮM BẮT VÀ SỬ DỤNG THỜI TIẾNG NHẬT QUA KHẢO
SÁT VĂN BẢN DỊCH CỦA SINH VIÊN ........................................................................ 126
4.1.1. Khảo sát lần thứ nhất ............................................................................................... 127
4.1.2. Phân tích kết quả khảo sát lần thứ nhất................................................................... 130
4.1.3. Khảo sát lần thứ hai ................................................................................................. 133
4.1.4. Phân tích kết quả khảo sát lần thứ hai..................................................................... 138
4.2. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ LƢU Ý TRONG DẠY - HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THỜI . 141
4.2.1. Thực trạng công tác giảng dạy tiếng Nhật có liên quan đến thời ............................ 142
4.2.2. Một số lưu ý trong dạy - học liên quan đến thời cho sinh viên Việt Nam ................ 143
KẾT LUẬN
................................................................. 148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
CỦA TÁC GIẢ
................................................................. 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................................. 152
Động từ
Mệnh đề chính
Mệnh đề phụ
Phi quá khứ
Phi quá khứ tuyệt đối
Phi quá khứ tƣơng đối
Quá khứ
Quá khứ tuyệt đối
Quá khứ tƣơng đối
Thời tuyệt đối
Thời tƣơng đối
Tính từ
Vị ngữ động từ
Vị ngữ tính từ
DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT NGUỒN NGỮ LIỆU KHẢO SÁT
Ký hiệu
Tên ngữ liệu
C
Tác phẩm tiếng Nhật 『コインロッカー・ベイビーズ』―Những
đứa trẻ bị bỏ rơi trong tủ gửi đồ‖
Tác phẩm tiếng Nhật 『注文の多い料理店』―Quán ăn mè nheo
lắm chuyện‖
Tác phẩm tiếng Việt ―Dây neo trần gian‖『この世との絆』
Tác phẩm tiếng Việt ―Gió lạnh đầu mùa‖ 『季節初めの北風』
Bản tin tiếng Nhật 3『TPP ロシアは米中心の経済圏に警戒
感』 ―TPP Nga cảnh báo vùng kinh tế với trung tâm là Hoa Kì‖
Bản tin tiếng Nhật 4『村上春樹さんのファンが集まり発表を待
つ』 ―Người hâm mộ nhà văn Mưrakami Haruki tập trung chờ
công bố giải thưởng của tác giả‖
Bản tin tiếng Nhật 5『JICA新理事長「ODA 柔軟化する
」』 ―Chủ tịch Jica「 Cần linh hoạt với nguồn vốn ODA」‖
Chuyên luận tiếng Nhật『知らなきゃ恥ずかしい日本文化』
―Văn hóa Nhật – Những điều không thể không biết‖
Tác phẩm tiếng Nhật『藪の中』―Bốn bề bờ bụi‖
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN
Bảng
Tên bảng
Trang
1.1
Dạng thức biến đổi vĩ tố trong tiếng Nhật (theo chức năng
29
biểu đạt)
1.2
Dạng ―ru‖ và dạng ―ta‖ ở thời tuyệt đối
42
ngữ liệu
2.3
Tỉ lệ thời tuyệt đối, thời tƣơng đối trong ngữ liệu
43
2.4
Vị ngữ biểu hiện thời trong câu đơn/ câu ghép không có (T)
65
và có (T)
3.1
Biểu hiện thời tuyệt đối không có (T) dịch sang tiếng Việt
92
3.2
Biểu hiện thời tuyệt đối có (T) dịch sang tiếng Việt
100
3.3
trong tiếng Nhật
3.8
Biểu hiện đối ứng giữa ―sẽ, sắp‖ với các cấu trúc ngữ pháp
trong tiếng Nhật
122
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
Biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
3.1
Tỉ lệ thời tuyệt đối không có (T) trong tiếng Nhật dịch sang
91
tiếng Việt
3.2
Tỉ lệ thời tuyệt đối có (T) trong tiếng Nhật dịch sang tiếng
100
Nhật và tiếng Việt đƣợc thực hiện.
Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, một loại hình ngôn ngữ không sử
dụng thời nhƣ một ngữ pháp bắt buộc. Do đó, với ngƣời Việt, việc hiểu và sử dụng tốt
thời trong tiếng Nhật - một loại hình ngôn ngữ chắp dính hoàn toàn khác biệt là một
khó khăn không hề nhỏ. Để giúp ngƣời Việt có thể hiểu và vận dụng đúng thời tiếng
Nhật hay giúp ngƣời Nhật nắm bắt đƣợc các biểu đạt thời gian trong ngôn ngữ không
bị ngữ pháp hóa về thời nhƣ tiếng Việt đòi hỏi cần có những nghiên cứu về mặt lý
1
luận và đối chiếu của các nhà nghiên cứu, giảng dạy ở cả hai ngôn ngữ tiếng Nhật và
tiếng Việt.
Với những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đối chiếu ―Thời trong tiếng Nhật
và các biểu hiện tương đương trong tiếng Việt‖ làm đề tài nghiên cứu của luận án.
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu
Luận án đƣợc thực hiện với các mục đích sau:
- Nắm rõ cơ chế hoạt động của thời trong tiếng Nhật từ góc độ lí luận với tƣ cách là
một phạm trù ngữ pháp thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính khác biệt với tiếng Việt.
- Từ góc nhìn của ngƣời Việt, thông qua kết quả dịch thuật các văn bản gốc tiếng
Nhật và tiếng Việt nhằm xác định lại những đặc thù khác biệt của tiếng Nhật khi biểu
đạt thời trong so sánh với cách biểu đạt thời gian của ngƣời Việt.
- Cung cấp thêm nguồn tƣ liệu thực chứng về hoạt động của phạm trù thời trong tiếng Nhật
thông qua việc xem xét các biểu hiện hoạt động của phạm trù này trong khối ngữ liệu thực
tế để phục vụ cho công tác nghiên cứu về thời nói chung và tại Việt Nam nói riêng.
- Bƣớc đầu đƣa ra một số đề xuất mang tính định hƣớng nhằm nâng cao hiệu quả việc
giảng dạy thời cho sinh viên Việt Nam trƣớc mắt cũng nhƣ lâu dài.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc các mục đích nêu trên, luận án giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
thấy không thật sự cần thiết cho nội dung nghiên cứu của luận án.
Về ngữ liệu khảo sát, trong công trình này, do hạn chế về thời gian nghiên cứu và
dung lƣợng của luận án, chúng tôi tập trung khảo sát các văn bản viết, tạm thời chƣa
khảo sát nguồn ngữ liệu là khẩu ngữ của ngƣời Nhật với lí do khẩu ngữ của các đoạn
thoại thƣờng đƣợc gắn kết với dụng ý của ngƣời phát ngôn, một nội dung liên quan
đến hoạt động ngữ dụng và là nội dung nằm ngoài nhiệm vụ nghiên cứu của luận án.
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, luận án sử dụng các phƣơng pháp,
thủ pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp miêu tả: Phƣơng pháp miêu tả đƣợc sử dụng xuyên suốt trong các
chƣơng của luận án, đặc biệt khi miêu tả đặc trƣng biểu hiện thời của tiếng Nhật về
mặt hình thái, cấu trúc ngữ pháp và chức năng biểu hiện trong các phát ngôn.
Phương pháp phân tích ngữ pháp: Phƣơng pháp phân tích ngữ pháp đƣợc sử dụng
chủ yếu ở nội dung của chƣơng 2 khi phân tích hoạt động của thời tiếng Nhật trong
các ngữ cảnh sử dụng. Các ngữ cảnh này đƣợc phân tích từ bình diện kết học đến
3
nghĩa học, theo các cấp độ: 1) riêng biệt trong phạm vi của vị từ, tạm thời tách
hoạt động của vị từ ra khỏi cấu trúc chung của toàn phát ngôn, chƣa xem xét đến
sự có mặt của các trạng từ chỉ thời gian (T) và các yếu tố phó từ chỉ mức độ, tần
suất (Pht) đi cùng với các yếu tố vị từ làm vị ngữ; 2) cấp độ các phát ngôn trong
các cấu trúc câu có thêm các yếu tố (T) và (Pht) làm thành phần trạng ngữ của các
mệnh đề; các yếu tố (T) và (Pht) này đƣợc xem xét trong hoạt động tƣơng tác với
nhau và trong tƣơng tác với vị ngữ đứng cuối của phát ngôn, tức vị ngữ đứng cuối
trong câu đơn, trong các mệnh đề đẳng lập hay vị ngữ đứng cuối cùng trong chuỗi
các vị ngữ của các câu ghép.
Phương pháp đối chiếu: Phƣơng pháp đối chiếu chủ yếu đƣợc sử dụng trong nội
dung của chƣơng 3. Tại chƣơng này, luận án triển khai theo hƣớng đối chiếu đặc
-
―Văn hoá Nhật - Những điều không thể không biết‖1 của Shirahata Yozaburo;
- ―Bốn bề bờ bụi‖2 của Akutagawa Ryunosuke;
- ―Quán ăn mè nheo lắm chuyện‖3 của Miyazawa Kenji;
- ―Những đứa trẻ bị bỏ rơi trong tủ gửi đồ‖4 của Murakami Ryu;
- Tin tức thời sự5 liên quan đến kinh tế, văn hóa, xã hội v.v...;
- Bài báo nghiên cứu khoa học6.
Với các tƣ liệu tiếng Việt, chúng tôi lựa chọn một số truyện ngắn của các tác giả
có tên tuổi trong làng Văn học Việt Nam nhƣ: Thạch Lam, Võ Thị Hảo. Các ấn phẩm
này cũng đã đƣợc các dịch giả Nhật Bản dịch sang tiếng Nhật nhƣ:
-
―Hai đứa trẻ‖; ―Gió lạnh đầu mùa‖; ―Nắng trong vƣờn‖; ―Ngƣời đầm‖7 của Thạch
Lam;
-
―Dây neo trần gian‖8 của Võ Thị Hảo.
Luận án có sử dụng một phần trong các ngữ liệu trên để khảo sát cách dịch thời
(của sinh viên Việt Nam) từ tiếng Nhật sang tiếng Việt và ngƣợc lại, qua đó, tìm hiểu khả
1
白幡洋三郎(2003)『知らなきゃ恥ずかしい日本文化』、ワニブックス、東京。
芥川龍之介(1992)『藪の中』、「新潮」1 月号。.
trong tiếng Việt có ý nghĩa tƣơng đƣơng thời trong tiếng Nhật cũng đƣợc huy động sử
dụng với tỉ lệ đáng kể nhƣng không phải là sự đối ứng một - một mang tính bắt buộc
cho mọi trƣờng hợp. Điều này là do cách tri nhận thời gian và biểu đạt của ngƣời Việt
không cùng chung một bình diện là thuần tuý phạm trù ngữ pháp nhƣ tiếng Nhật mà
thuộc một bình diện khác, đó là phạm trù ―từ vựng - ngữ pháp‖ nhƣ nghiên cứu của
luận án đã chỉ ra.
7. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Ý nghĩa lý luận
Luận án tổng quan các quan điểm, khái niệm về thời trong các ngôn ngữ, qua đó
bổ sung thêm những nhận định về khái niệm thời trong tiếng Nhật vào khái niệm thời
trong tƣ liệu ngôn ngữ học phổ quát liên quan đến thời tại Việt Nam.
Hệ thống các cách biểu đạt thời trong tiếng Nhật, qua đó rút ra những đặc thù
trong phƣơng thức biểu hiện thời của tiếng Nhật từ góc độ ngôn ngữ học đối chiếu.
Thông qua đối chiếu giữa hai ngôn ngữ Nhật - Việt, làm rõ những nét tƣơng đồng
và khác biệt trong cách biểu hiện thời giữa hai loại hình ngôn ngữ khác biệt là ngôn
ngữ chắp dính và ngôn ngữ đơn lập và tìm ra những điểm khác biệt mang tính đặc
6
trƣng liên quan đến biểu đạt thời gian trong ngôn ngữ của hai dân tộc Việt Nam - Nhật
Bản.
Ý nghĩa thực tiễn:
Luận án đóng góp những tƣ liệu thực tế liên quan đến thời trong tiếng Nhật, bổ
sung nguồn ngữ liệu xác thực về thời trong khối ngữ liệu có liên quan đến biểu hiện
thời gian và phạm trù thời của các ngôn ngữ nói chung.
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ giúp ngƣời dạy và ngƣời học tiếng Nhật nắm
đƣợc những kiến thức cơ bản và có ý thức thƣờng xuyên hơn về biểu đạt thời trong
tiếng Nhật cũng nhƣ ý thức hơn các biểu hiện thời gian tƣơng đƣơng giữa tiếng Việt
và tiếng Nhật trong quá trình dạy và học tiếng Nhật.
bằng các đối lập ngữ pháp có hệ thống của động từ. Các nhà ngữ pháp truyền thống
khi phân tích tiếng Hy Lạp và tiếng Latinh đã thừa nhận ba đối lập: quá khứ, hiện tại
và tƣơng lai.
Tuy xuất phát từ các cứ liệu của ngôn ngữ học truyền thống, nhƣng có thể nói, cho
đến nay, với rất nhiều ngữ liệu mới đƣợc cập nhật, sự đối lập 3 vế về thời này vẫn
đƣợc coi là đặc điểm phổ quát cho nhiều ngôn ngữ trên thế giới.
Guillaume (1929) đã phân biệt Thời thành Thời bao hàm và Thời hiện lộ. Thời bao
hàm là Thời gắn liền với động từ ở chính trong động từ. Thời hiện lộ là Thời mà phát
ngôn gắn cho nó dƣới dạng quá khứ, hiện tại hoặc tƣơng lai. Guillaume cũng cho rằng
Thời bao hàm là thể (aspect), Thời hiện lộ là thời của sự tình (tens) đƣợc thực hiện
bằng các yếu tố hình thái đơn thuần nhƣ việc sử dụng một hệ thống biến tố nên trong
những ngôn ngữ biến hình nhƣ tiếng Anh và tiếng Pháp thời thƣờng che lấp thể
[78.].
Các khái niệm thời bao hàm và thời hiện lộ này hiện nay hầu nhƣ không đƣợc
viện dẫn đến trong các nghiên cứu về thời.
Khi nghiên cứu cơ chế ngữ nghĩa của biểu đạt thời, Reichenbach H. (1947) đã chỉ
ra các tham tố chỉ xuất thời gian bao gồm: thời điểm nói S (point of speech); thời điểm
8
chiếu vật R (point of reference); thời điểm của sự kiện E (event frame); hƣớng (đi
trƣớc, trùng hợp, đi sau); khoảng cách (xa, gần) [74.]. Cũng trong cách nhìn nhận
này, W.Frawley (1992) nêu cách biểu hiện ý nghĩa thời trong ngôn ngữ là cách biểu
hiện trực chỉ: ―Thời thực hiện việc định vị một sự tình so với một điểm qui chiếu được
coi là cố định trong thời gian rồi nêu rõ mối quan hệ giữa sự tình và cái trung tâm
điểm thời gian đó bằng cách chỉ ra một cái hướng và một khoảng cách nào đó‖ [71.].
Nửa sau thế kỷ 20, xuất hiện rất nhiều công trình nghiên cứu về thời, thể của các
học giả tên tuổi trên thế giới nhƣ Benveniste E. (1966), Comrie B. (1978, 1985),
Lyons J. (1996), Panfilov V.S (2002) v.v… Cùng với sự phát triển của ngành ngữ
hành động với thời điểm nói. Các mối tƣơng quan đó có thể là đồng thời với thời điểm
nói, trƣớc thời điểm nói hay sau thời điểm nói. Còn thời tƣơng đối thì phản ánh mối
quan hệ của hành động với một thời điểm khác nào đấy, thƣờng là với thời gian diễn
tiến của một hành động khác [29.].
Trong liên quan đến thời gian và các biểu đạt thời trong ngôn ngữ, kết quả nghiên
cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học cho thấy có sự biểu đạt tƣơng ứng theo thế tam phân
giữa thời với thời gian bên ngoài thành thời quá khứ, thời hiện tại, thời tương lai nhƣ
các ngôn ngữ Ấn Âu, nhƣng cũng có những nghiên cứu chỉ ra rằng trong một số ngôn
ngữ nhƣ tiếng Nhật chỉ có sự đối lập lƣỡng phân của thời quá khứ và thời phi quá khứ
mà thôi.
Ngoài ra, mối liên quan giữa thời, thể, tình thái cũng đƣợc nhiều nhà nghiên cứu
đề cập đến. Hiện nay TAM (Tense/ Aspect/ Modality) đã và đang trở thành một khái
niệm phổ biến trong nghiên cứu các phạm trù ngữ pháp của động từ (nói riêng) và vị
từ (nói chung).
Có thể thấy, có rất nhiều quan điểm của các học giả về phạm trù thời, phản ánh
cách nhìn nhận về vấn đề này từ nhiều góc độ khác nhau, nhƣng có thể khẳng định,
―thời‖ trƣớc hết là một phạm trù ngữ pháp đƣợc khái quát hóa lên từ các biểu hiện
thời gian trong các ngôn ngữ biến hình, phản ánh cách phân chia sự tình trên trục thời
gian đó. Cùng với thời gian, nhiều kết quả nghiên cứu về thời trong các ngôn ngữ nhƣ
tiếng Nhật, tiếng Việt, tiếng Trung cũng đã và đang đƣợc công bố, tạo ra những cách
nhìn nhận mới, cung cấp thêm những cứ liệu thực chứng mới để các nghiên cứu về
thời trong ngôn ngữ học và phổ quát ngôn ngữ đƣợc trở nên linh hoạt hơn, toàn diện
và sâu sắc hơn.
10
1.1.2. Tình hình nghiên cứu thời tại Nhật Bản
Ở Nhật Bản, những nghiên cứu về thời, thể đã đƣợc quan tâm từ thời kỳ trung thế9
nhƣng những nghiên cứu sớm nhất về thời trong tiếng Nhật hiện đại phải kể tới là của
11
từ tách rời khỏi cấu trúc tổng thể của động từ, trở thành một từ loại khác và không còn
đƣợc coi là một phạm trù ngữ pháp của động từ nữa [101.].
Nhận định ―suru‖ và ―shita‖ là những yếu tố thành phần của động từ, chúng có sự
đối lập về thời, tạo ra bƣớc ngoặt trong nghiên cứu về thời của tiếng Nhật hiện đại.
Nghiên cứu của Teramura (1984), Kato & Fukuchi (1989), Masuoka & Takubo
(1992), Nitta (2007) v.v… đều nhất trí cho rằng thời trong tiếng Nhật không chỉ biểu
hiện phạm trù ngữ pháp của động từ nhƣ trong ngôn ngữ Ấn - Âu mà biểu hiện ở cả vị
ngữ là tính từ và danh từ. Các học giả đã phân tích các cách sử dụng dạng ―ta‖ biểu
hiện thời Quá khứ và dạng ―ru‖ biểu hiện thời Phi quá khứ dựa trên 3 yếu tố: tính chất
của vị ngữ; tính kết nối trong câu; tâm lý của người nói.
Các nhà ngữ pháp đƣa ra khái niệm thời tuyệt đối, thời tƣơng đối và khái niệm
―giải phóng khỏi thời‖ cũng nhƣ bàn đến sự phân chia lƣỡng phân về thời Quá khứ
(thời QK)/ thời Phi quá khứ (thời PQK) qua các nghiên cứu sau:
Takahashi (1985) có quan điểm cho rằng, thời là phạm trù liên quan đến cách biểu
hiện vị trí thời gian của hành động, sự việc lấy thời điểm phát ngôn làm tọa độ qui
chiếu. Các trƣờng hợp giả định, biểu hiện quyết định, phát hiện, xác nhận, chợt nhớ ra
sự việc gì v.v… chỉ sử dụng đƣợc dạng quá khứ mà thôi. Điều này đƣợc cho là biến
đổi thời theo tình thái. Theo Takahashi, những động từ biểu thị thuộc tính ổn định và
động tác trong mệnh đề không có quan hệ thời gian sẽ đƣợc giải phóng khỏi thời nhƣ
ví dụ dƣới đây.
(1) 山がせまっている。Núi hẹp (Takahashi, 1985).
Iwazaki (1994) và Nitta Yoshio (2007) có chung quan điểm về biểu hiện thời trong
các tác phẩm văn học khi cho rằng, thông thƣờng trong các tiểu thuyết, khi lấy dạng
―ta‖ làm chủ đạo, ngƣời phát ngôn thể hiện quan điểm của ngƣời dẫn chuyện từ góc
độ quan sát và miêu tả ngôn ngữ hành động của nhân vật trong tác phẩm [88.; 119.
]. Trong các tác phẩm, việc sử dụng xen lẫn dạng ―ru‖ khi lẽ ra phải sử dụng dạng
―ta‖ đƣợc cho là mang lại hiệu quả tu từ. Chúng khiến ngƣời đọc có cảm giác nhƣ
Tại Nhật Bản, ngoài những nghiên cứu về mặt lý luận của các nhà Nhật ngữ đã
nêu trên, cũng có rất nhiều nghiên cứu đối chiếu giữa thời trong tiếng Nhật với thời
trong các ngôn ngữ khác. Có thể kể đến loạt công trình nghiên cứu đối chiếu của
Inoue Yu và các cộng sự khác nhƣ: đối chiếu thời trong tiếng Nhật với thời trong tiếng
10
(#) biểu hiện cách nói không tự nhiên trong tiếng Việt
13
Hàn (Inoue Yu & Ikukoshi Naoki, 1997), thời trong tiếng Nhật với biểu hiện thời gian
trong tiếng Trung (Inoue Yu & Ikukoshi Naoki & Kimura Hideki, 2002); đối chiếu
thời trong tiếng Nhật với thời trong tiếng Anh của Nishiyama Atsuko (2009) và một
số công trình nghiên cứu khác.
Khi đối chiếu cách sử dụng dạng quá khứ tiếng Anh với tiếng Nhật, Nishiyama
Atsuko (2009) đã chỉ ra dạng ―ta‖ trong tiếng Nhật gần nhƣ tƣơng đƣơng với thời QK
trong tiếng Anh. Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra cách sử dụng dạng ―ta‖ trong tiếng Nhật
khác với tiếng Anh ở một số điểm sau: khi phát hiện ra đồ vật ở vị trí nào đó, tiếng
Nhật sử dụng thời QK mang tính ―phát hiện‖, trong khi tiếng Anh không sử dụng thời
QK mà sử dụng thời hiện tại [115.].
(5a) ここにあった。
Nó đã (#) ở đây.
(Tiếng Nhật)
(5b) It is/ was (#) here. Nó ở đây/ đã (#) ở đây. (Tiếng Anh)
Có thể thấy, cách sử dụng thời QK tiếng Nhật trong phát ngôn này là không phù
trạng thái này tách khỏi bất cứ trạng thái nào khác ở thời điểm nào khác, dù về
cơ bản ―trái đất màu xanh‖ và thực tế trong tiếng Nhật, khi biểu đạt hiện tƣợng
mang tính gần nhƣ bất biến này, ngƣời phát ngôn thƣờng sử dụng thời tuyệt đối.
Inoue & Ikukoshi (1997) khi đối chiếu tiếng Nhật với tiếng Hàn cũng chỉ ra rằng
cách sử dụng dạng ―ta‖ với nghĩa ―Phát hiện‖ trong tiếng Nhật cũng có sự khác biệt so
với tiếng Hàn.
Chẳng hạn thí dụ về trƣờng hợp sinh em bé, khi gọi điện báo về cho gia đình và
đƣợc hỏi về giới tính của bé, tiếng Nhật có thể sử dụng cả thời PQK và thời QK để trả
lời, trong khi đó, tiếng Hàn chỉ đƣợc phép sử dụng thời hiện tại mà thôi [84.].
(7a) 男だよ。/男だったよ。(Tiếng Nhật)
Là con trai/ đã (#) là con trai.
(7b) atul-ieyyo/ atul (#) – i-ess-eyo. (Tiếng Hàn)
Là con trai/ đã (#) là con trai.
Các tác giả giải thích cách sử dụng thời QK trong tiếng Nhật ở thí dụ (7a) là trần
thuật khoảnh khắc đầu tiên về trạng thái đƣợc tri nhận và đó là một tình huống độc lập
trong quá khứ.
Ngoài ra còn có nhiều nghiên cứu đối chiếu khác, tuy nhiên, đây không phải là một
nội dung cần đi sâu của luận án nên chúng tôi tạm thời chỉ điểm qua một số công trình
nghiên cứu lớn. Tình hình nghiên cứu về thời trong tiếng Nhật sẽ đƣợc chúng tôi bàn
đến kĩ hơn trong khi lồng ghép các kết quả nghiên cứu vào trong nội dung lý luận về
thời ở chƣơng tiếp theo.
1.1.3. Tình hình nghiên cứu thời tại Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề liên quan đến phạm trù thời, thể đƣợc bắt đầu xuất hiện trong
cuốn Từ điển Alexand de Rhodes năm 1651. Mặc dù vấn đề này đƣợc đặt ra muộn hơn
so với ở Châu Âu nhƣng cũng đã gây khá nhiều tranh luận và từ đó dẫn đến hai xu
hƣớng nghiên cứu đối lập nhau. Liên quan đến thời, có thể kể tới:
1) Khuynh hƣớng phủ nhận có thời trong tiếng Việt.
15