Pháp luật về hộ kinh doanh ở việt nam hiện nay từ thực tiễn tại quận tân phú, thành phố hồ chí minh - Pdf 58

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ THẢO

PHÁP LUẬT VỀ HỘ KINH DOANH Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN TẠI QUẬN TÂN PHÚ,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

HÀ NỘI, NĂM 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ THẢO

PHÁP LUẬT VỀ HỘ KINH DOANH Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN TẠI QUẬN TÂN PHÚ,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS. NGUYỄN THANH BÌNH

HÀ NỘI, NĂM 2019


Quận Tân phú, TP.Hồ Chí Minh.................................................................. 45
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ KINH
DOANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN QUẬN TÂN PHÚ,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.................................................................... 56
3.1. Định hướng phát triển loại hình kinh tế hộ kinh doanh........................56
3.2. Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hộ kinh doanh trên địa bàn
quận Tân phú, TP.Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay........................... 58
KẾT LUẬN....................................................................................................73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ATXH

:An toàn xã hội

BHXH

:Bảo hiểm xã hội

BHYT

:Bảo hiểm y tế

BHTN

:Bảo hiểm thất nghiệp

BVTN-MT


LĐT

:Luật đầu tư

LDN

:Luật doanh nghiệp

NLĐ

:Người lao động



:Nghị định

NSNN

:Ngân sách nhà nước

TPHCM

:Thành phố Hồ Chí Minh

TNDN

:Thu nhập doanh nghiệp

TTĐB

công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, tăng thêm số lượng công nhân, lao động và doanh nhân Việt
Nam, thực hiện các chủ trương xã hội hóa y tế, văn hóa, giáo dục…”
Nhờ vậy, trong những năm qua, bộ phận kinh tế này ở nước ta đã phát
triển nhanh chóng và ngày càng khẳng định là một bộ phận không thể thiếu
được của nền kinh tế quốc dân.
1


Theo số liệu thống kê của Phòng Kinh tế - Ủy ban nhân dân quận Tân
Phú, tính đến giữa năm 2018, tổng số hộ kinh doanh trên địa bàn quận là
14.812 hộ; trong đó cấp mới năm 2018 là 3.035 Giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh.
Việc ban hành Luật doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản hướng dẫn
thi hành đã tạo điều kiện thông thoáng cho người đăng ký kinh doanh được
cấp Giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh nhanh nhất để gia nhập thị trường
bằng việc quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục được đơn giản hóa, thông tin trong
hồ sơ do hộ kinh doanh tự kê khai và tự chịu trách nhiệm, thời gian giải quyết
thủ tục được rút gọn.
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số trường hợp cá nhân muốn kinh
doanh dưới hình thức hộ kinh doanh nhưng không được phép cấp Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh…
Vấn đề đặt ra là tìm giải pháp điều chỉnh pháp lý về đăng ký hộ kinh
doanh như thế nào cho phù hợp với điều kiện của hộ kinh doanh trên địa bàn
quận Tân Phú nói riêng và nền kinh tế thị trường của nước ta nói chung.
Xuất phát từ những vấn đề đặt ra từ những bất cập thực tế trên địa bàn
quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh đã khuyến khích tác giả mạnh dạn lựa
chọn đề tài “Pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam hiện nay từ thực tiễn
tại quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh” để làm luận văn tốt nghiệp
Thạc sĩ luật học của mình.

PGS.TS Đào Trí Úc (1997), Đại hội VIII Đảng Cộng sản Việt Nam và những
vấn đề cấp bách của khoa học về Nhà nước và pháp luật, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, GS.TS Hồ Văn Vĩnh (2003), Kinh tế tư nhân và quản lý nhà
nước đối với kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội…
3


Tóm lại, dù có phương pháp nghiên cứu, góc nhìn, phân tích đánh giá
khác nhau, nhưng tựu chung lại các tác giả đã chỉ ra đặc tính, biểu hiện, bản
chất, vị trí, vai trò của thành phần kinh tế hộ kinh doanh trong tổng quan nền
kinh tế của Việt Nam qua các thời kỳ; qua đó làm rõ các hạn chế, khuyết điểm
đề ra các giải pháp hoàn thiện.
Tuy nhiên, người viết đề tài vẫn tâm đắc với đề tài: “Pháp luật về hộ
kinh doanh của Việt Nam từ thực tiễn tại quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí
Minh”. Bởi vì, quận Tân Phú đang trong quá trình đô thị hóa cao, dân số
thuộc nhóm đứng đầu thành phố, đa số là dân nhập cư, việc kinh doanh buôn
bán diễn ra hết sức phức tạp. Do vậy người viết đề tài mong muốn qua nghiên
cứu sẽ kiến nghị UBND quận Tân Phú triển khai thực hiện pháp luật kinh
doanh tốt hơn, chặt chẽ hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- So sánh tổng quan các quy định pháp luật có liên quan đến hộ kinh
doanh ở Việt Nam hiện nay làm cơ sở lý luận cho đề tài.
- Phân tích thực tiễn áp dụng các vấn đề pháp lý hiện hành điều chỉnh
hoạt động hộ kinh doanh để tìm ra những bất cập cần hoàn thiện;
- Đề xuất những phương hướng, giải pháp cho việc hoàn thiện hệ
thống pháp luật về hộ kinh doanh qua thực tiễn ở Quận Tân Phú trong điều
kiện kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là pháp luật hộ kinh doanh thông

Qua đề tài người viết cũng mong rằng Quý lãnh đạo của quận Tân Phú
dành ít thời gian để đánh giá mức độ hiệu quả, nhằm áp dụng các giải pháp để
giải quyết các vấn đề thực tại.
5


7. Kết cấu của luận văn
Luận văn nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt nam
hiện nay từ thực tiễn tại quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh” bao gồm:
Phần mở đầu
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hộ kinh doanh.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam hiện nay,
thực tiễn tại quận Tân phú, TP.Hồ Chí Minh.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam
hiện nay từ thực tiễn tại quận Tân phú, TP.Hồ Chí Minh.
Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘ KINH DOANH
1.1. Khái niệm và đặc điểm của hộ kinh doanh
1.1.1 Khái niệm
Hiện nay khó có thể đưa ra một định nghĩa thỏa đáng về hộ kinh doanh,
và khó có thể nói hộ kinh doanh mang bản chất là cá nhân kinh doanh, thương
nhân đơn lẻ hay thương nhân thể nhân.
Theo quy định tại Nghị định 78/2015/NĐ-CP thì hộ kinh doanh được
định nghĩa :
“Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá

hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập,
thực hiện giao dịch dân sự. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác. Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải
thông báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết.
Trường hợp thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không
có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự không được các thành viên
khác ủy quyền làm người đại diện thì thành viên đó là chủ thể của quan hệ
dân sự do mình xác lập, thực hiện. [7].
Từ việc quy định hộ kinh doanh do một hộ gia đình làm chủ làm nảy
sinh nhiều khía cạnh pháp lý về chủ thể này mà chúng ta cần nghiên cứu để
làm sáng tỏ.
Hộ gia đình là một chủ thể đặc biệt của pháp luật Việt Nam vì hộ gia
đình không phải là cá nhân và cũng không phải là pháp nhân mà tập hợp các
thành viên có tài sản chung. Do đó hộ kinh doanh không hoàn toàn là thương
nhân thể nhân.
8


Dù Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định cụ thể và dễ dàng nhận biết thế
nào là hộ gia đình. Tuy nhiên hộ gia đình theo pháp luật dân sự khác với chủ
thể hộ kinh doanh cá thể dẫn đến khó xác định đối tượng sẽ bị ràng buộc pháp
lý khi xảy ra tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện.
Điển hình: việc thành lập hộ kinh doanh không đòi hỏi, phải chứng
minh quan hệ hôn nhân, huyết thống,…của các thành viên dẫn đến trường
hợp hai hoặc ba thành viên sáng lập hộ kinh doanh là những người bạn thân
có mối quan hệ bạn bè hàng xóm, bạn bè học đại học với nhau.
Trong thực tiễn các cơ quan hành pháp và tư pháp thường xác định tập
hợp các thành viên hộ gia đình thông qua sổ hộ khẩu và nếu có bất kỳ giao
dịch dân sự nào liên quan đến hộ gia đình thì cơ quan quản lý nhà nước cũng
như người dân luôn yêu cầu người đại diện phải là chủ hộ trong sổ hộ khẩu

thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức không có tư cách pháp nhân
hoặc là người đại diện theo uỷ quyền. Quy định này phù hợp với tinh thần
chung của BLDS năm 2015, đó là chỉ có cá nhân hoặc pháp nhân mới là chủ
thể của quan hệ pháp luật dân sự. Đây là một bước tiến mới của BLDS năm
2015 nhằm phân định rõ trách nhiệm dân sự của các chủ thể khi tham gia vào
quan hệ dân sự.
Tuy nhiên, khoản 1 Điều 101 ở đoạn thứ hai lại quy định thêm nếu
thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp
nhân tham gia quan hệ dân sự không được các thành viên khác ủy quyền làm
người đại diện thì thành viên đó là chủ thể của quan hệ dân sự do mình xác
lập, thực hiện. Nói theo một cách khác, quy định này đòi hỏi phải có sự uỷ
quyền của các thành viên khác thì thành viên được uỷ quyền mới có thể trở
thành chủ thể quan hệ dân sự của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức không có tư
10


cách pháp nhân. Theo chúng tôi, quy định này vô hình chung đã tạo nên sự
mâu thuẫn và làm vô hiệu hoá quy định tại đoạn thứ nhất. Vậy câu hỏi đặt ra
là có hay không cho phép thành viên là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện
giao dịch dân sự của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách
pháp nhân khi không có sự uỷ quyền từ các thành viên khác? Thiết nghĩ, cần
phải có hướng dẫn cụ thể cho nội dung này để tránh nhiều cách hiểu trái
chiều.
Về trách nhiệm dân sự, việc xác định quan hệ dân sự của hộ gia đình, tổ
hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân giúp làm rõ trách nhiệm
dân sự của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư
cách pháp nhân trong quan hệ dân sự đó. Cụ thể là nghĩa vụ dân sự phát sinh
từ việc tham gia quan hệ dân sự của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác
không có tư cách pháp nhân được bảo đảm thực hiện bằng tài sản chung của
các thành viên. Trường hợp các thành viên không có hoặc không đủ tài sản

thành viên trong một nhóm nhưng nếu sử dụng hơn mười lao động thì hộ kinh
doanh phải đăng ký kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp. Như vậy có thể
hiểu, “hộ kinh doanh và các hình thức công ty không khác gì nhau về hình
thức kết cấu mà chỉ khác nhau về quy mô kinh doanh” .
1.1.2. Đặc điểm pháp lý của hộ kinh doanh
1.1.2.1. Hộ kinh doanh không phải là pháp nhân
Hộ kinh doanh do một cá nhân thành lập nhằm mục đích kinh doanh,
buôn bán nhỏ lẻ, trong một vị trí địa lý nhất định thuuwongf là trong phạm vi
nhỏ; kiểu kinh doanh này thông thường các hộ dùng vốn tự có và thu nhập từ
kết quả kinh doanh sau khi thực hiện xong nghĩa vụ thuế theo quy định.
Loại hình kinh doanh này có thể chịu thiệt thòi, trong hậu quả pháp lý
về tài chính, nhất là bồi thường thiệt hại trong quá trình kinh doanh, vấn đề
này là khác biệt rất lớn so với mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn, người
12


chủ doanh nghiệp (người kinh doanh) chỉ chịu trách nhiệm về tài chính tương
ứng với phần vốn góp khi thành lập doanh nghiệp.
Nói như thế để nói rằng loại hình hộ kinh doanh tuy có vị trí nhất định
trong vấn đề an sinh xã hội trong nền kinh tế Việt Nam nhưng chưa được Nhà
nước quan tâm đúng mức; tức là phải có giải pháp, biện pháp kiến thiết nhóm
hộ kinh doanh cá thể hoạt động theo khuôn khổ pháp luật (Luật, Bộ Luật),
mục đích tránh thất thu thuế cho Nhà nước, cũng như bảo đảm quyền lợi (chịu
trách nhiệm về tài chính) như mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn.
Xuất phát từ thực tiễn cho nên Quốc hội và Chính phủ đã quan tâm vận
động hộ kinh doanh cá thể chuyển dần cơ cấu sang thành mô hình công ty.
Từ phân tích ở trên, bản thân người viết đề tài nhận thấy: dù chủ trương
của Nhà nước hướng hộ kinh doanh đến việc thành lập doanh nghiệp mà
không có cơ chế, chế tài đúng đắn thì vấn nạn thất thu thuế nhà nước, quyền
về pháp lý đối với tài chính của hộ kinh doanh sẽ luôn tồn tại, hiện hữu trong


rắc

rối

cần

lưu

ý

rằng:

Người

đứng ra đăng ký kinh doanh có được xem là người đại diện đương nhiên
cho nhóm tạo lập ra hộ kinh doanh hay không, hay chỉ là người đại diện cho
nhóm để đăng ký kinh doanh? Câu trả lời

ý nghĩa quan trọng đối
với chế độ chịu trách
tư cách

nhiệm về các khoản nợ của hộ kinh doanh, vấn đề

tham gia tố tụng và vấn đề quản trị hộ kinh doanh. Câu trả lời phụ

thuộc phần nào

vào việc giải thích

mình đối với hoạt động kinh doanh”.
Đồng thời, điều 101 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Trường hợp hộ gia
đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ
dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có
tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự
hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân
sự”.
Theo đó, hộ kinh doanh không phải là một chủ thể pháp lý. Các thành
viên là cá nhân tham gia hộ kinh doanh đó mới là chủ thể pháp lý. Hộ kinh
doanh chỉ là cách gọi chung cho những nhóm cá nhân kinh doanh với trách
nhiệm vô hạn (“chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt
động kinh doanh”).
Vì tất cả những điều đó, cá nhân kinh doanh là một chủ thể khác với
công ty kinh doanh, dù trong khái niệm kinh tế thì hai chủ thể đều là doanh
15


nghiệp, nhưng trong khái niệm pháp lý, những cơ chế và yêu cầu pháp lý đối
với hai chủ thể này là khác hẳn. Có thể ví von hai loại hình kinh doanh này
giống như gạo nếp, gạo tẻ, tuy cùng là gạo nhưng không thể cho chung vào
nấu trong một nồi, vì mỗi loại có chức năng và lý do tồn tại riêng.
Hộ kinh doanh như một chủ thể doanh nghiệp không tồn tại trong Luật
doanh nghiệp hiện hành, nhưng hộ kinh doanh thực chất đã có tư cách pháp lý
trong rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật từ rất lâu rồi, nổi bật là trong Bộ
luật dân sự. Cũng cần tính đến thực tế hộ kinh doanh là khái niệm sinh ra từ
thực tiễn mang tính truyền thống và văn hóa của Việt Nam, bắt đầu từ “hộ gia
đình”.
1.1.2.3. Chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản
nợ của hộ kinh doanh
Theo quy định tại Nghị định 78/2015/NĐ-CP thì hộ kinh doanh là do

kinh doanh thời gian gần đây, bài viết đề xuất một số giải pháp thúc đẩy kinh
tế hộ phát triển theo hướng hiệu quả, bền vững.
Thuật ngữ “hộ kinh doanh (HKD)” chính thức được sử dụng tại các văn
bản quy phạm pháp luật Việt Nam từ năm 2006. Trước đây, tùy theo điều kiện
kinh tế - xã hội (KT-XH), HKD tại Việt Nam được gọi dưới các tên gọi khác
nhau như “tổ chức tiểu sản xuất hàng hóa”; “hộ cá thể”, “hộ tiểu công
nghiệp”; “HKD cá thể”…
Tên gọi “tổ chức tiểu sản xuất hàng” đượchoá sử dụng trong giai đoạn
trước“đổi mới” (năm 1986) như: Thợ thủ công, nông dân cá thể, người làm
dịch vụ nhỏ được phép kinh doanh sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cấp Giấy môn bài. Tuy nhiên, do thực hiện chủ trương coi thành phần
kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo nên khu vực kinh tế tiểu sản xuất hàng
hóa thời kỳ này chiếm tỷ lệ khá khiêm tốn.
17


Từ sau đổi mới (năm 1986), cùng với chủ trương, chính sách phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần, HKD đã chính thức được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự
chủ, là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, từ đó khu vực có sự phát triển
mạnhmẽ.
Trước khi Luật Doanh nghiệp (DN) tư nhân và Luật Công ty ra đời (năm 1990),
HKD tồn tại dưới hình thức hộ cá thể, hộ tiểu công nghiệp và lự lượng này chính thức
được công nhận bằng Nghị định-HĐBTsố27 của Hội đồng Bộ ưởngtr (nay là Chính
phủ). Trong giai đoạn này, do điều kiện lịch sử và bối cảnh kinh tế - xã hội, hạn chế bởi
danh mục cấm kinh doanh hoặc kinh
doanh có điều kiện, nên sự phát triển của hộ cá thể, hộ tiểu công nghiệp còn
chậm.
Giai đoạn từ khi ban ành Luật DN tư nhân và Luật Công ty được ban hành
cho đến trước khi ban hành Luật DN năm 1999 (1990-1999) ra đời,
HKD tồn tại dưới hình thức người kinh doanh, gồm: Các cá nhân, nhóm người kinh

những vùng chiếm tỷ trọng cao nhất, lần lượt là 25,86%; 23,03%; 19,34% và
17,52% (2017). Trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên chiếm tỷ trọng
thấp nhất, lần lượt là 9,47% 4,78% tổng số HKD. Trên cơ sở phân bổ dân cư,
tỷ trọng HKD giữa các vùng không có sự biến động đáng kể trong nhiều năm
qua.
Theo ngành nghề kinh doanh, tỷ trọng HKD trong ngành Thương mại dịch vụ chiếm khoảng 80%, 20% còn lại là trong ngành Công nghiệp - xây
dựng. Thống kê các năm cho thấy, tỷ trọng các hộ thương mại dịch vụ ngày
càng tăng: năm 2012 là 78,9%, năm 2014 là 80% và năm 2017 là 81,9%, cùng
với đó là tỷ trọng giảm đi trong ngành Công nghiệp - xây dựng. Tương ứng
với đó, năm 2017 số lao động tại các HKD trong lĩnh vực công nghiệp chiếm
trên 22%, gần 88% còn lại đến từ khu vực hộ trong lĩnh vực dịch vụ.
19


Nguyên nhân của tình trạng này có thể do yếu tố quy mô nên các hộ có
ngành nghề công nghiệp - xây dựng đã dần chuyển sang các hình thức DN
chính thống.
Thời gian qua, HKD đã có những đóng góp tích cực trong nền kinh tế, nổi bật
như:
Thứ nhất,khu vực HKD có đóng góp lớn trong tạo việc làm và giải quyết các
vấn đề xã hội. Theo Tổng cục Thống kê, số lao động làm việc trong khu vực HKD
tăng nhanh theo thời gian, từ trên 7,4 triệu người năm 2010 tăng lên gần 8,6 triệu
người năm 2017.
Số lượng lao động làm việc trong khu vực HKD giai đoạn 2010-2017
chiếm khoảng từ 59%-75% so với số lao động làm việc trong khu vực DN.
Nếu chỉ so với số lao động làm việc trong các DN thuộc khu vực tư nhân thì
số lao động làm việc trong khu vực HKD trong 2 năm gần đây là tương
đương. Trong giai đoạn trước đó, số lao động làm việc trong khu vực HKD
cao hơn tương đối so với số lao động làm việc trong các DN ngoài nhà nước,
khoảng từ 3%-24%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status