SANG KIEN KINH NGHIEM Một số biện pháp nâng cao tỷ lệ chuyên cần cho trẻ mầm non vùng dân tộc thieur số - Pdf 58

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trẻ em – những chủ nhân tương lai của đất nước, là nguồn hạnh phúc lớn
lao của mỗi gia đình. Muốn có những chủ nhân, niềm hạnh phúc vẹn toàn về tài
và đức thì cần giáo dục trẻ ngay từ khi trẻ bắt đầu đến trường mầm non.
“ Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn, ngủ, học hành là ngoan “
Xuất phát từ những quan điểm trên, hiện nay trẻ em đã và đang được xã
hội quan tâm, đặc biệt về chất lượng chăm sóc và giáo dục. Như vậy muốn công
tác chăm sóc giáo dục đạt hiệu quả thì trước hết phải chú ý đến tỷ lệ chuyên cần
của trẻ vì trẻ có ra lớp đều thì việc tiếp thu bài mới tốt, mới hệ thống được kiến
thức liền mạch. Đó chính là nền tảng giúp trẻ lĩnh hội những kiến thức một cách
đầy đủ nhất. Xong thực tế giáo dục ở các bậc học vùng cao nói chung đặc biệt là
giáo dục mầm non nói riêng còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc duy trì và
đảm bảo sĩ số.
Năm học 2015-2016 tôi được Ban giám hiệu nhà trường phân công chủ
nhiệm lớp Mẫu giáo lớn A2, đó là điểm phân hiệu của trường Mầm non Văn
Sơn, nằm tại thôn Văn Tiến là một thôn nghèo của xã Văn Sơn, huyện Văn Bàn.
Địa bàn hiểm trở, điểm trường được xây dựng trên đỉnh của một ngọn đồi,
đường đi nhiều dốc ngoằn ngoèo. Vào ngày nắng đã vậy ngày mưa khó khăn lại
tăng hơn gấp nhiều lần, chỉ còn cách đi bộ leo dốc mới có thể lên đến lớp.

Hình ảnh: Đường lên điểm trường phân hiệu Văn Tiến ngày mưa.
100% đồng bào nơi đây là người dân tộc thiểu số, nhận thức còn hạn chế,
đặc biệt là việc cho trẻ em đến trường, kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào trồng lúa,
trồng ngô, trồng sắn do địa bàn núi non hiểm trở nên đến mùa thu hoạch những
sản phẩm cũng không đáng là bao nhiêu vì vậy kinh tế nơi đây còn rất khó khăn,
những bữa cơm độn sắn đã quá quen thuộc với bà con cũng như các em học sinh
nơi đây.
Để khỏi bỡ ngỡ tôi đã hỏi từ những đồng nghiệp đi trước để lấy kinh
nghiệm thì nhận được lời chia sẻ hóm hỉnh như sau “ Muốn có học sinh để dạy
thì em phải mang thật nhiều kẹo và mua dép tàu mà đi “ Nhưng lúc đó tôi mới

điều đó có vị trí, chức năng, nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong việc hình thành
nhân cách cho trẻ em, bởi trường học Mầm non chính là nơi tổ chức một cách
tự giác quá trình phát triển đúng đắn, lâu dài về tình cảm, trí tuệ, thể chất và các
kỹ năng học tập, rèn luyện của trẻ. Mục tiêu, nhiệm vụ của trường Mầm non là
đem đến cho trẻ em hạnh phúc được học tập, là làm cho trẻ em được hưởng thụ
một nền giáo dục tốt đẹp nhất ở trường Mầm non.
Việc duy trì sĩ số, nâng cao tỷ lệ chuyên cần trong các trường học, là một
chủ trương lớn của ngành giáo dục nhằm cụ thể hoá Nghị quyết của Đảng các
cấp, đây là giải pháp có tính chiến lược nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và
bồi dưỡng những tài năng của đất nước. Đảng ta đã có quan điểm chỉ đạo tại văn
kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX: “ Tạo điều kiện cho mọi người ở mọi
lứa tuổi được học tập thường xuyên suốt đời “. Điều này nhằm ngăn chặn việc
học sinh bỏ học cũng như ra lớp không đúng độ tuổi ở các cấp học. Vì vậy, Bộ
trưởng Bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành Quyết định số 329/QĐ-BGD&ĐT
ngày 31/3/1990 đã khẳng định điều quan trọng cần làm trong công tác duy trì sĩ
số học sinh: “ Duy trì sĩ số học sinh đang học, hạn chế đến mức thấp nhất học
sinh đang học tại lớp bỏ học “.
2


Vì chỉ trên cơ sở của sự phát triển phong phú, hài hoà có tính toàn diện
của nhân cách thì tài năng con người mới có điều kiện nảy nở và phát triển một
cách cơ bản và bền vững. Ở những trường mầm non việc duy trì tốt sĩ số học
sinh, học sinh được giáo dục toàn diện, được học đủ các môn học theo quy định,
được thực hiện các hoạt động khác. Trong điều kiện đó, mỗi học sinh sẽ được
phát triển theo khả năng của mình để đạt chất lượng cao. Điều này thực sự quan
trọng và mang lại lợi ích sau này cho trẻ ở những lớp mẫu giáo kế tiếp đặc biệt
là sự chuyển biến lên cấp học tiểu học. Vì vậy nếu trẻ đi học đều, thường xuyên
không chỉ giúp trẻ hệ thống được kiến thức một cách liền mạch mà còn giúp trẻ
mạnh dạn tự tin hơn khi giao tiếp cùng cô, các bạn và mọi người xung quanh….

trồng cây xanh ảnh hưởng không nhỏ đến việc thi đua xây dựng phong trào
“Xây dựng trường sạch – xanh – đẹp ”.
Các bậc phụ huynh ở đây còn chịu ảnh hưởng nhiều bởi các phong tục tập
quán lạc hậu của đồng bào vùng dân tộc thiểu số: Vào những ngày kiêng của
dân tộc Dao thì các bậc phụ huynh không cho trẻ đến trường…, trình độ dân trí
3


còn thấp có những gia đình bắt trẻ nghỉ học để chăn trâu, tra ngô… vì hầu hết bà
con chỉ sống dựa vào nông nghiệp, nương rẫy nên kinh tế khá hạn hẹp, Chính vì
vậy các bậc phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc cần thiết cho trẻ đến
trường, đặc biệt là độ tuổi mầm non vì vậy đã gây nhiều trở ngại cho giáo viên
trong công tác vận động đưa trẻ đến trường cũng như duy trì tỷ lệ chuyên cần
cho trẻ.
Học sinh đa số dùng tiếng mẹ đẻ, ít được giao tiếp bằng tiếng kinh. Các
trẻ ngại ngần, sợ sệt và ít giao tiếp khi gặp cô giáo. Dẫn đến tình trạng bất đồng
ngôn ngữ, cô không hiểu trẻ và trẻ cũng không hiểu lời cô nói. Trẻ ít được quan
tâm đến vấn để giữ gìn vệ sinh cơ thể cũng như ăn uống cho trẻ.
Giáo viên còn trẻ, ít kinh nghiệm trong công tác chăm sóc giáo dục. Là
một giáo viên vùng thấp lên vùng cao còn bỡ ngỡ nhiều về phong tục tập quan
của đồng bào nơi công tác.
3. Khảo sát đầu năm
Từ thực tế trên tôi đã tiến hành khảo sát tỉ lệ chuyên cần của trẻ tại nhóm
lớp Mẫu giáo lớn A2, điểm trường phân hiệu và khảo sát ý kiến các bậc phụ
huynh về nhận thức cho con ra lớp.
Tổng số học sinh: 13 trẻ ( trong đó trẻ 5 tuổi : 6 cháu; trẻ 4 tuổi : 3 cháu;
trẻ 3 tuổi : 4 cháu )
Qua việc khảo sát đầu năm học tôi thu được kết quả sau:
Bảng 1: Khảo sát về tỉ lệ chuyên cần của học sinh tại nhóm/lớp:
Nội dung khảo sát

con ra lớp (Tổng số phụ huynh được khảo sát: 13/13 phụ huynh )
Phụ huynh tán thành

Phụ huynh chưa tán
thành

Tổng số

Tỷ lệ %

Tổng số

Tỷ lệ %

9

69.3

4

30.7

10

77

3

23


tập trung học sinh, tôi đã đến nhà trưởng thôn với danh sách trích ngang ghi rõ
họ tên, nghề nghiệp cha mẹ, hoàn cảnh sinh sống của gia đình: tìm hiểu về hoàn
cảnh của từng gia đình ? bao nhiêu em nằm trong hộ khó khăn? bao nhiêu em có
sổ hộ nghèo, cận nghèo? Công việc thường ngày của trẻ ở nhà và là đứa con thứ
mấy ?. thông qua việc trò truyện với cha mẹ trẻ và những đồ dùng vật dụng
trong gia đình trẻ tôi đã phần nào nhận thấy được các trẻ của lớp mình đang
được sống trong hoàn cảnh như thế nào.
Thông qua các buổi họp phụ huynh đầu năm được tôi ghi chép tỉ mỉ những
phụ huynh nào tham gia họp và không họp. Trao đổi với phụ huynh về hoàn
cảnh của từng trẻ. Thăm dò ý kiến của phụ huynh này về phụ huynh khác để có
cái nhìn chính xác nhất về từng phụ huynh của lớp mình. Từ đó các phụ huynh
nêu ra, gia đình này hay cho con nghỉ học, gia đình kia còn khó khăn nên không
muốn cho con đi học … các ý kiến được tôi ghi chép kỹ càng để tìm hướng giải
quyết và biện pháp khắc phục.
Với sự giúp đỡ tận tình của trưởng thôn, người có kinh nghiệm và gần gũi
với dân bản nơi đây nhất, tôi cũng đã lấy được những thông tin về tính tình, về
kinh tế cũng như điều kiện sống của từng hộ gia đình có trẻ ở lớp.
Ngoài ra, tôi còn trao đổi với giáo viên chủ nhiệm của lớp năm trước để
nắm rõ hơn về hoàn cảnh gia đình và tính cách của từng trẻ. Sau đó tôi tập hợp
thành một quyển sổ theo dõi, phân loại đối tượng trẻ, đặc biệt trẻ có hoàn cảnh
khó khăn. Việc làm này giúp tôi nắm rõ hơn hoàn cảnh từng em để có biện pháp
giáo dục thích hợp. Sau đó tôi theo dõi sĩ số học sinh hằng ngày, đặc biệt là
những em hay nghỉ học không có lý do.
Tìm hiểu hoàn cảnh học sinh trực tiếp bằng cách: đến tại gia đình các em ,
tiếp xúc với bố mẹ các em để biết cụ thể hoàn cảnh của những học sinh này và
trao đổi tình hình học tập cũng như tầm quan trọng của việc cho trẻ đến trường.
Tìm hiểu tính cách các em qua việc quan sát, trò chuyện cùng trẻ trên lớp,
để hiểu rõ hơn tính tình cũng như nhận thức của trẻ.
Tôi lập kế hoạch đến thăm gặp từng gia đình trẻ làm thành một thời gian
biểu những việc cần làm của bản thân. Ngoài ra khi theo dõi, thấy những học

vậy nên mỗi khi trẻ đến lớp tôi luôn nhẹ nhàng, gần gũi hỏi han trẻ để trẻ không
còn lo sợ hay tự ti mỗi khi gần người lạ. Trong mỗi cử chỉ, hành động tôi luôn
ân cần thực hiện cùng trẻ như : Sửa lại quai dép giúp trẻ, buộc tóc cho trẻ và gội
đầu cho trẻ … Cứ như vậy lâu dần trẻ chủ động giao tiếp với tôi, gần gũi tôi hơn
mà không hề e ngại.

Hình ảnh: Trao thưởng cho học sinh chăm học
6


Để thu hút trẻ đi học đều, thường xuyên tôi tạo sự hứng thú cho trẻ bằng
nhiều hình thức như: tăng cường trang trí lớp với những hình ảnh ngộ nghĩnh,
bắt mắt theo từng chủ đề nhằm thu hút trẻ ngay từ cái nhìn đầu tiên. Với những
trẻ đó tôi luôn quan tâm nhiều đến cảm xúc hành vi, thái độ trong ngày của
trẻkhi ở lớp.
Để tạo sự hào hứng đến lớp tôi đã hướng trẻ cùng làm với mình bảng
chuyên cần, với mỗi biểu tượng gắn cho từng trẻ và ra một thông điệp thi đua
nhau xem ống cờ của bạn nào có nhiều lá cờ nhất, mỗi ngày đi học là được một
lá cờ cắm vào ống cờ của mình. Cuối tuần tôi và trẻ cùng kiểm tra số cờ trong
mỗi biểu tượng của mình, bạn nào có nhiều lá cờ nhất sẽ nhận được phần thưởng
của cô, phần thưởng đôi khi chỉ là cây bút, thẻ chữ, bút màu hay chỉ là vài chiếc
kẹo để động viên trẻ.
Tôi đã khuyến khích trẻ của mình đến lớp bằng các phong trào thi đua có
khen và có thưởng. Từ những việc làm đó tôi thấy trẻ của mình thích thú đến lớp
hơn, tranh luận với nhau nhiều hơn về ống cờ của mình, điều này không những
thu hút được trẻ ham đến lớp mà còn khuyến khích được trẻ giao tiếp được tốt
làm tiền đề để phát triển hơn ở các lĩnh vực khác.
4. Tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục theo hướng tích hợp
“Học mà chơi - chơi mà học”:
Công tác chăm sóc trẻ

Việt bằng cách sử dụng những câu hỏi đơn giản, dễ hiểu để khuyến khích trẻ trả
lời được các câu hỏi của cô thông qua các hoạt động như trò chuyện sáng, tăng
cường tiếng việt. Tôi luôn tìm tòi những hình thức dạy học sôi động và thu hút
trẻ tham gia cùng mình, tạo sự hấp dẫn trẻ với mỗi môn học.
Trong quá trình giảng bài bản thân tôi luôn nghiên cứu kỹ và truyền đạt đến
trẻ một cách ngắn gọn, chi tiết và dễ hiểu nhất. Tôi thường tổ chức nhiều hoạt
động học tập trên lớp và ngoài giờ để thu hút trẻ đến trường: Ví dụ: Trong chủ
điểm “ Một số nghề phổ biến “ tôi khích lệ học sinh đến thăm quan gia đình một
trẻ trong lớp với thời lượng thời gian cân chỉnh hợp lý … tạo sự hứng khởi và
mong muốn được trải nghiệm, trẻ của tôi rất hào hứng với mỗi ngày đến lớp.
Ngoài ra tôi luôn khích lệ trẻ bằng những món quà nhỏ để trẻ hứng thú tiếp
thu bài hơn và mong chờ đến hôm sau để được học và được nhận quà.
Từ những công tác chăm sóc và giáo dục đó tôi đã nhận được nhiều sự ủng
hộ từ phụ huynh, trẻ thì yêu quý trường lớp, thích đi học, phụ huynh tin tưởng.
5. Làm tốt công tác tuyên truyền mọi lúc mọi nơi, tham mưu phối kết
hợp.
Tuyên truyền với phụ huynh học sinh:
Khi trẻ tiếp thu được các kiến thức cơ bản, tôi sử dụng hình thức tích hợp
tuyên truyền tới các bậc phụ huynh qua chính con em của mình bằng cách trước
khi trẻ đi học về tôi dặn dò trẻ về nhà múa hát, đọc thơ…. cho ông bà, bố mẹ
cùng nghe. Qua việc làm đơn giản trên tôi thấy phụ huynh rất vui vẻ và yên tâm
với công tác chăm sóc giáo dục của tôi, thường xuyên cho con đi học.
Phổ biến nội quy. Gặp gỡ những gia đình học sinh tự ý bỏ học. Ở tuần đầu
tiên, tôi tổ chức họp lớp và phụ huynh trong lớp tôi nói rất kĩ về nội quy nhà
trường, lớp về thời gian đón trẻ và trả trẻ theo mùa, trong đó có phần quy định: “
Học sinh phải đi học đều và đúng giờ, nghỉ học phải có lí do và được cha mẹ
xin phép” và nhờ phụ huynh hàng ngày theo dõi, nhắc nhở. Đồng thời tuyên
truyền về tầm quan trọng của việc cho con em ra lớp đều, đúng độ tuổi. Tầm
quan trọng của việc duy trì và đảm bảo tỷ lệ chuyên cần. Cùng phụ huynh trao
đổi và thảo luận về một số cách thức vệ sinh, phòng chống rét, bệnh tật…

bắt được kiến thức cơ bản trong chủ đề, lình hội được những kiến thức mà tôi
cần trẻ đạt được…
Tuyên truyền Giáo dục duy trì tỷ lệ chuyên cần ở mọi lúc mọi nơi.
Với trẻ : Trong những giờ trên lớp và trong các hoạt động hàng ngày của
trẻ trên lớp, tôi luôn lồng ghép đan xen giáo dục vào các môn học về chuyên
cần, giúp trẻ nhớ lâu và ý thức thấm dần.
Ví dụ: Trong giờ đón trẻ: Tôi hướng dẫn trẻ cách chào hỏi, cất đồ dùng và
không quên khen trẻ đi học đều, đi học đúng giờ, cho trẻ lấy cờ … để tạo cảm
giác thoải mái phấn chấn khi trẻ tới lớp.
Trong giờ học: Với chủ điểm trường mầm non, tôi giới thiệu những điều
trẻ được học, được làm tại trường như: được chơi đồ chơi, được hoạt động trải
nghiệm cùng tưới nước cho hoa, chăm sóc hoa… và khơi gợi trí tò mò của trẻ
theo mỗi chủ điểm, tạo cho trẻ cảm giác mong chờ tìm hiểu.
Cuối ngày: tôi cùng trẻ đánh giá lại hoạt động của một ngày
Với phụ huynh: Ngoài trong các buổi họp thì tôi luôn tranh thủ thời gian
lúc đến thăm gặp gia đình, trong các buổi lao động, các buổi họp thôn có mặt
của trưởng thôn, hay chỉ là những cuộc gặp gỡ ở dọc đường tôi đã trao đổi và
động viên các gia đình cho trẻ đi học đều và tầm quan trọng của việc cho trẻ đến
trường.

9


6. Thực hiện tốt công tác xã hội hóa.
Nhằm mục đích xây dựng cơ sở vật chất và cảnh quan trường học cho trẻ
vì trẻ ở vùng dân tộc thiểu số đã khó khăn điều kiện kinh tế không có, những đồ
dùng, đồ chơi ngoài trời của trẻ còn sơ sài và thiếu thốn. Tôi đã họp phụ huynh
bày tỏ quan điểm về sự thiếu thốn và kêu gọi sự ủng hộ ngày công và góp vật
liệu của các bậc phụ huynh để tự làm nên những đồ dùng, đồ chơi cho trẻ. Nói đi
đôi với làm và làm cùng phụ huynh nên chúng tôi đã có những sản phẩm như:

viên thanh niên trong thôn và bà con thôn bản góp công sức để cùng san đất,
trộn bê tông và đổ sân trường cho trẻ. Mỗi hoạt động như vậy tôi có cơ hội gần
gũi và hòa nhập hơn với bà con nơi mình công tác.
10


Chăm lo đến đời sống của trẻ một cách thật tâm nhất. Trẻ rét thì tôi đi xin
chăn, xin dép, xin tất… trẻ bẩn thì tôi gội đầu tắm rửa cho trẻ và chỉ dẫn trẻ thực
hiện một số thao tác tự vệ sinh, giũ gìn vệ sinh. Để tạo sự tin tưởng, yên tâm của
bà con khi giao con mình cho cô giáo.

Hình ảnh: Tặng tất đeo chân cho học sinh mùa lạnh
Luôn công bằng đối với trẻ và có tình yêu thương trẻ, đánh giá trẻ một
cách công bằng nhất, không đối xử phân biệt, cách hình thức đánh giá luôn có
chiều hướng mở khuyến khích để trẻ cố gắng chứ không tạo áp lực khiến trẻ lo
sợ, tự ti.
Vui chơi, học tập cùng trẻ đặc biệt là tăng cường tiếng việt cho trẻ tạo cho
trẻ cảm giác an toàn thân thiết để trẻ không tự ti khi tiêp xúc với người lạ. Cùng
trẻ khám phá, tìm hiểu … giúp trẻ thoải mái và dễ dàng lĩnh hội kiến thức cũng
như mong muốn đến trường.
Chủ động học vốn từ cơ bản tiếng dân tộc của trẻ thông qua các phương
tiện thông tin đại chúng, qua sách báo và qua chính các trẻ để hiểu trẻ hơn, dễ
dàng tiếp xúc, giao tiếp và gần gũi trẻ hơn.
Tích cực học hỏi, tìm hiểu các biện pháp nâng cao tỉ lệ chuyên cần. Luôn
tích cực học hỏi các đồng nghiệp về các biện pháp nâng cao tỉ lệ chuyên cần cho
trẻ thông qua kinh nghiệm của các đồng nghiệp trước, qua các phương tiện
thông tin đại chúng, internet…
Tham gia nhiệt tình các phong trào, trải nghiệm các hoạt động thực tế về
việc huy động trẻ mầm non ra lớp.
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN

Nghỉ học không lý do

0

0

Tổng

13

100

Bảng 2: Khảo sát về nhận thức của các bậc phụ huynh trong việc cho
con ra lớp (Tổng số phụ huynh được khảo sát: 13/13 phụ huynh )
Phụ huynh tán thành

Phụ huynh
thành

chưa tán

Tổng số

%

Tổng số

%

7,7

rõ rệt, cụ thể, trẻ ra lớp đều dặn chỉ có 1 trẻ 3 tuổi do nhà xa, bố mẹ đi làm xa ở
nhà với bà nên đi học đôi khi còn chưa đều nhưng phụ huynh đều gọi điện xin
nghỉ chứ không nghỉ không lý do như trước đây. Nhiều phụ huynh còn mang
đóng góp cho nhà trường những nguyên vật liệu như tre, nứa, cát, sỏi và đến làm
các công trình giúp trường như làm sân chơi, vườn hoa, vườn rau cho trẻ.
C. KẾT LUẬN
1. Ý nghĩa - bài học kinh nghiệm:
a. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm:
Sáng kiến kinh nghiệm“Một số biện pháp nâng cao tỉ lệ chuyên cần cho
trẻ vùng dân tộc thiểu số” giúp giáo viên công tác tại vùng dân tộc thiểu số có
những định hướng phù hợp trong việc vận động và duy trì sĩ số lớp. Qua đó góp
phần nâng cao ý thức của phụ huynh học sinh trong việc cho con em đến trường
nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.
b, Bài học kinh nghiệm.
12


Qua nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm trên bản thân tôi đã đúc kết ra một
số kinh nghiệm sau:
Làm tốt công tác dân vận, xã hội hoá giáo dục.
Yêu nghề mến trẻ, tâm huyết với nghề và gắn bó với sự nghiệp giáo dục
vùng cao.
Tích cực học tiếng địa phương và tích cực tìm hiểu những phong tục tập
quán của dân tộc ở địa phương nơi công tác. Mặt khác không ngừng học tập để
nâng cao trình độ chuyên môn.
Tham mưu phối kết hợp với Ban giám hiệu nhà trường, cấp uỷ chính
quyền địa phương trong việc vận động nhân dân ủng hộ, thường xuyên tu bổ cơ
sở vật chất, đảm bảo công tác an ninh cho lớp học.
Chân thành cởi mở, hoà đồng với nhân dân và phụ huynh tại địa phương.
3. Ý kiến đề xuất:


1. Hướng dẫn thực hiện Chương trình chăm sóc giáo dục MN đổi mới dành cho
các độ tuổi - Tác giả: TS. Trần Thị Ngọc Trâm - TS. Lê Thu Hương - PGS.TS.
Lê Thị Ánh Tuyết - NXB Giáo dục Việt Nam, năm 2012.
2. Giáo dục học mầm non -Tác giả Phạm Thị Châu,- Nguyễn Thị Oanh, Trần
Thị Sinh - NXB ĐHQG Hà Nội4. Giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống cho trẻ
mầm non - NXB ĐHQGHN, năm 2010.
3. Những hoạt động vui chơi dành cho trẻ vùng cao ( sưu tầm )
4. Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục mầm non các lớp mẫu giáo ghép.
Biên soạn Lý Thị Hằng, Phan Lan Anh ( đồng chủ biên )
5. Cách thức tạo lòng tin ở trẻ và phụ huynh vùng cao ( sưu tầm )

14


MỤC LỤC
Tên mục
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Trang
1
2-5

I. Cơ sở lý luận

2

II. Thực trạng của vấn đề


4. Tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục theo hướng tích hợp " học
mà chơi, chơi mà học ".

7-8

5. Làm tốt công tác tuyên truyền mọi lúc mọi nơi, tham mưu phối kết hợp.

8-9

6. Thực hiện tốt công tác xã hội hóa.

9-10

7. Thái độ tinh thần tích cực học hỏi, bồi dưỡng chuyên môn.

11

IV. Hiệu quả của sáng kiến

11

C. KẾT LUẬN

12

15


1. Bài học kinh nghiệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status