TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
__________________
***
__________________
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở LÀNG NGHỀ
MÂY TRE ĐAN XUÂN LAI, XÃ XUÂN LAI,
HUYỆN GIA BÌNH, TỈNH BẮC NINH
Tên sinh viên
: Vũ Thị Xá
Chuyên ngành đạo tạo : Kinh tế
Lớp
: K54KTB
Niên khóa
: 2009 – 2013
Giáo viên hướng dẫn : KS. Lưu Văn Duy
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình và bạn bè,
những người luôn bên tôi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành
khóa luận.
Hà Nội, ngày 04 tháng 6 năm 2013
Tác giả
Vũ Thị Xá
ii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Làng nghề mây tre đan Xuân Lai đóng vai trò khá quan trọng trong phát
triển kinh tế - xã hội của xã Xuân Lai. Tuy nhiên chất lượng của nguồn nhân lực
làng nghề vẫn còn nhiều yếu kém chưa đáp ứng được yêu cầu của nghề mây tre
đan nói riêng và làng nghề mây tre đan Xuân Lai nói chung. Đứng trước tình
hình đó chính quyền địa phương cũng đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực cho làng nghề. Tuy nhiên các biện pháp được áp
dụng vẫn chưa giải quyết được những yếu kém trong chất lượng nguồn nhân lực
của làng nghề. Đề tài “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực ở làng nghề mây tre đan Xuân Lai, xã Xuân Lai huyện Gia Bình, tỉnh Bắc
Ninh” với mục tiêu chính là tìm hiểu thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở
làng nghề mây tre đan Xuân Lai, từ đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực góp phần phát triển làng nghề. Để đạt được mục tiêu
chính tôi đã đề ra một số mục tiêu cụ thể mà đề tài cần đạt được như: Hệ thống
hóa một số vấn đề và thực tiễn về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của làng
nghề; Đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở làng nghề mây tre đan
Xuân Lai, xã Xuân Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh; Phân tích các nhân tố
ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực của làng nghề mây tre đan Xuân Lai,
xã Xuân Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh; Đề xuất một số giải pháp nhằm
nhiều tình trạng lao động mắc các bệnh liên quan đến làng nghề và các bệnh hạn
chế khả năng lao động.
- Thực trạng chất lượng lao động là chủ các cơ sở sản xuất: Phần lớn lao
động là chủ cơ sở sản xuất ở làng nghề mây tre đan Xuân Lai chưa có các kiến
thức về kỹ năng quản lý. Khả năng tiếp cận thị trường đầu ra và thị trường đầu
vào tương đối tốt, tuy nhiên hiểu biết về thị trường vẫn còn nhiều hạn chế, đặc
biệt là khả năng tiếp cận thị trường vốn vay của chủ các cơ sở còn kém, tỉ lệ cơ
sở tiếp cận được nguồn vốn vay nhà nước còn thấp.
iv
- Thực trạng chất lượng công tác đào tạo nghề và truyền nghề: Công tác
đào tạo nghề của các cơ sở đào tạo nghề trong làng nghề mây tre đan Xuân Lai
chưa đạt được hiệu quả cao, thu hút ít lao động tham gia, chất lượng đào tạo
chưa mang lại hiệu quả.
Để khắc phục những hạn chế của chất lượng nguồn nhân lực ở làng nghề
mây tre đan Xuân Lai tôi tập trung đề xuất các nhóm giải pháp sau:
- Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng lao động sản xuất.
- Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng chủ cơ sở sản xuất.
- Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng cơ sở đào tạo nghề.
- Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động khuyến công, khuyến
thương.
v
MỤC LỤC
Số liệu điều tra được ghi chép, tập hợp và phân tích theo phương pháp thống
kê so sánh và thống kê mô tả. Ngoài ra đề tài còn sử dụng một số hệ thống chỉ
được xác định thông qua thực trạng tham gia đào tạo nghề của người lao
động, được xác định dựa trên tỉ lệ lao động đã qua đào tạo và cơ cấu lao động
được đào tạo: theo cấp đào tạo, công nhân kỹ thuật, bậc thợ hay khả năng làm
được việc của người lao động..........................................................................31
3.2.6.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng chủ các cơ sở sản xuất kinh
doanh...............................................................................................................32
vi
Chỉ tiêu thể hiện năng lực quản lý: là chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý cơ sở
của chủ cơ sở, được thể hiện thông qua trình độ học vấn, số năm kinh nghiệm
và khả năng quản lý lao động của cơ sở thông qua quy mô sử dụng lao động
của cơ sở. Ngoài ra năng lực quản lý còn thể hiện qua hiểu biết của người
quản lý, pháp luật............................................................................................32
4, “Khôi phục nghề dệt thổ cẩm truyền thống Châu Mạ”...................................77
5, “Lục Nam khôi phục nghề dệt vải ở Khe Nghè- Lục Sơn”.........................77
11, “Phát triển nguồn nhân lực làng nghề mạnh cả về số lượng và chất lượng”.78
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................77
PHỤ LỤC ..........................................................................................................79
vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất của xã Xuân Lai qua 3 năm 2010-2012. . .Error:
Reference source not found
Bảng 3.2 : Tình hình dân số và lao động của xã 3 năm 2010-2012...............Error:
Reference source not found
Bảng 3.3: Tình hình sản xuất kinh doanh của xã Xuân Lai 3 năm 2010-2012
..........................................................................Error: Reference source not found
tre đan Xuân Lai...............................................Error: Reference source not found
Sơ đồ 4.3 Quá trình tiếp cận thị trường của các cơ sở sản xuất. . .Error: Reference
source not found
x
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH – HĐH
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
CN – TTCN
Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
KT – VH – XH
Kinh tế - văn hóa – xã hội
LĐ
Lao động
NVL
Nguyên vật liệu
UBND
quan tới các hoạt động kinh tế. Lao động trong các cơ sở của làng nghề nhìn
chung có trình độ văn hóa, tay nghề và trình độ thẩm mỹ không cao. Phần lớn
1
lao động được học theo lối truyền nghề và kèm cặp trong sản xuất, rất ít được
học qua các trường dạy nghề chính quy.
Xuất phát từ những lý do trên nghiên cứu đề tài “ Thực trạng và giải pháp
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở làng nghề mây tre đan Xuân Lai, xã
Xuân Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.” là cần thiết nhằm đề xuất các giải pháp
góp phần tháo gỡ những khó khăn về nguồn nhân lực cho Làng nghề.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu.
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở làng nghề mây tre đan
Xuân Lai, từ đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
góp phần phát triển làng nghề.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa một số vấn đề và thực tiễn về nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực của làng nghề.
- Đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở làng nghề mây tre đan
Xuân Lai, xã Xuân Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực của làng
nghề mây tre đan Xuân Lai, xã Xuân Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của
làng nghề.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Chất lượng nguồn nhân lực của làng
nghề, trong đó nghiên cứu sẽ tiến hành phỏng vấn, thu nhập số liệu của các
nhóm: Chủ các cơ sở sản xuất của làng nghề; nguồn lao động sản xuất của làng
tàng, vốn có của họ thông qua tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động phát
triển. Có thể nói, sự xuất hiện của thuật ngữ “nguồn nhân lực” là một trong
những biểu hiện cụ thể cho sự thắng thế của phương thức quản lý mới đối với
phương thức quản lý cũ trong việc sử dụng nguồn nhân lực con người (Tạ Ngọc
Hải,2010).
Có khá nhiều những định nghĩa khác nhau về “nguồn nhân lực” chẳng hạn như:
Nguồn nhân lực là nguồn lực của con người của những tổ chức (với quy
mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá
trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia,
khu vực, thế giới. Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi
nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực,
sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức (Tạ Ngọc Hải,
2010)
4
Trong báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá về những tác động của toàn
cầu hóa đối với nguồn nhân lực đã đưa ra định nghĩa nguồn nhân lực là trình độ
lành nghề, kiến thức và năng lực có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới
dạng tiềm năng của con người. Quan niệm về nguồn nhân lực theo hướng tiếp
cận này có phần thiên về chất lượng của nguồn nhân lực. Trong quan niệm này,
điểm được đánh giá cao là coi các tiềm năng của con người cũng là năng lực khả
năng để từ đó có những cơ chế thích hợp trong quản lý, sử dụng. Quan niệm về
nguồn nhân lực như vậy cũng đã cho ta thấy phần nào sự tán đồng của Liên hợp
quốc đối với phương thức quản lý mới (Trích dẫn bởi Tạ Ngọc Hải, 2010)
Nguồn nhân lực có thể được xem xét trên hai khía cạnh là chất lượng và số
lượng, số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô
và tốc độ tăng dân số. Quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng cao thì
quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực cũng càng lớn và ngược lại (Tạ Ngọc
* Khái niệm về làng nghề
Từ xa xưa, người nông dân Việt Nam đã biết sử dụng thời gian nông nhàn
để sản xuất những sản phẩm thủ công, phi nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu đời
sống như: các công cụ lao động nông nghiệp, giấy, lụa, vải, thực phẩm qua chế
biến… Các nghề này được lưu truyền và mở rộng qua nhiều thế hệ, dẫn đến
nhiều hộ dân có thể cùng sản xuất một loại sản phẩm. Bên cạnh những người
chuyên làm nghề, đa phần lao động vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề,
hoặc làm thuê (nghề phụ). Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hóa, các nghề mang
tính chất chuyên môn sâu hơn, được cải tiến kỹ thuật hơn và thường được giới hạn
trong quy mô nhỏ (làng), dần dần tách hẳn nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề
thủ công. Như vậy, làng nghề đã xuất hiện. Có thể hiểu làng nghề “là làng nông
thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, phi nông nghiệp chiếm ưu thế
về số lao động và thu nhập so với nghề nông” [Đặng Kim Chi, 2005].
Có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau khi đề cập đến tiêu chí để
một làng ở nông thôn được coi là một làng nghề. Nhưng nhìn chung, các ý kiến
thống nhất ở một số tiêu chí sau:
6
- Giá trị sản xuất và thu nhập của từ phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên
50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm;
hoặc doanh thu hàng năm từ ngành nghề ít nhất đạt trên 300 triệu đồng.
- Số hộ và số lao động tham gia thường xuyên hoặc không thường xuyên,
trực tiếp hoặc gián tiếp đối với nghề phi nông nghiệp ở làng ít nhất đạt 30% so
với tổng số hộ hoặc lao động ở làng nghề có ít nhất 300 lao động.
- Sản phẩm phi nông nghiệp do làng sản xuất mang tính đặc thù của làng
và do người trong làng tham gia.
Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008, tiêu chí công nhận làng
nghề gồm có 3 tiêu chí sau:
- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành
những đặc điểm riêng là nguồn nhân lực làng nghề mang tính truyền nghề cao
và thiếu về số lượng.
Nguồn nhân lực làng nghề thường ít được đào tạo qua trường lớp : Nhiều
làng nghề truyền thống hiện nay thiếu vắng đội ngũ thợ lành nghề, thợ tạo mẫu,
lực lượng lao động có trình độ văn hóa và trình độ thẩm mỹ chưa cao. Hầu hết
chủ hộ sản xuất chưa được đào tạo về quản trị kinh doanh và thiếu kiến thức về
kinh tế thị trường… (Daibieunhandan.vn))
7
Nguồn nhân lực làng nghề có tính chuyên môn hóa thấp: Hầu hết các cơ
sở làm nghề ở các làng nghề đều tự chủ trong tất cả các công đoạn từ nguyên vật
liệu đến thành phẩm, ít có tính chuyên môn hóa nên thường không tận dụng
được hết các thế mạnh của nguồn nhân lực trong mỗi cơ sở sản xuất.
Nguồn nhân lực làng nghề mang tính truyền nghề cao: việc dạy nghề tại
các làng nghề phần lớn theo lối truyền nghề trong các gia đình, cầm tay chỉ việc
hoặc tổ chức những lớp học ngắn ngày cho con em trong địa phương rất ít làng
nghề tổ chức đào tạo bài bản dẫn đến hiệu quả chưa cao; số lượng lao động
trong các làng nghề học ở trường dạy nghề rất thấp, cơ sở vật chất, phương tiện
dạy nghề ở các gia đình và các cơ sở nhỏ lẻ còn đơn sơ, thiếu thốn. Giáo viên
truyền nghề cho học viên bằng cách truyền nghề trực tiếp theo kinh nghiệm của
từng người (daibieunhandan.vn).
Thiếu về số lượng: Hiện nay số con em lao động trong các làng nghề học
hết THPT đều có xu hướng thi vào các trường đại học, cao đẳng, chuyên nghiệp
chứ không lựa chọn các trường dạy nghề, kể cả trường cao đẳng nghề vì thế dẫn
đến hiện tượng số lượng lao động làm nghề truyền thống ở các làng nghề bị
thiếu rất nhiều (daibieunhandan.vn).
2.1.3 Phân loại nguồn nhân lực của làng nghề
Có nhiều cách phân loại nguồn nhân lực khác nhau, về nguồn nhân lực nói
cán bộ chính quyền địa phương như trưởng thôn, chủ nhiệm hợp tác xã… và các
cán bộ khuyến công, khuyến thương xã. Nguồn lực quản lý ở địa phương là lực
lượng tổ chức thực hiện các chính sách phát triển làng nghề. Lực lượng này có
ảnh hưởng rất lớn đến sự hoạt động của làng nghề. Chất lượng của nguồn nhân
lực quản lý địa phương càng tốt thì làng nghề càng có các điều kiện phát triển
thuận lợi.
Lao động là chủ các cơ sở sản xuất: Là những người chủ các cơ sở sản
xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng trong việc sử dụng hiệu quả lực
lượng lao động mà mình quản lý cũng như quyết định phương thức, định hướng
sản xuất và điều tiết nguồn nguyên liệu đầu vào và thị trường đầu ra của cơ sở.
9
Chất lượng của lao động sản xuất có được phát huy hiệu quả hay không cũng
phải nhờ vào nguồn lực quản lý này.
Cơ quan đào tạo nghề của địa phương: Là lực lượng tham gia vào quá
trình đào tạo, nâng cao chất lượng cho các bộ phận khác của nguồn nhân lực
trong làng nghề. Ở các làng nghề lực lượng này thường là các nghệ nhân, lao
động có tay nghề giỏi tham gia vào quá trình đào tạo, nâng cao tay nghề cho lực
lượng lao động sản xuất của làng nghề. Chất lượng của cơ quan đào tạo nghề
của địa phương càng tốt thì nguồn nhân lực được đào tạo chất lượng càng cao.
Người lao động trong các làng nghề : Là lực lượng trực tiếp lao động tạo
ra các sản phẩm của làng nghề. Lực lượng này là bộ phận chủ yếu của nguồn
nhân lực trong làng nghề, có vai trò quyết định trong sự hoạt động của làng
nghề. Sự phát triển của làng nghề yêu cầu trước tiên là chất lượng của người lao
động, chất lượng người lao động trong làng nghề yếu kém đồng nghĩa với hoạt
động không hiệu quả của làng nghề, sản phẩm làm ra chất lượng thấp không đáp
ứng với yêu cầu của thị trường dẫn đến sự mai một của làng nghề.
Dựa vào đặc điểm công việc nguồn nhân lực làng nghề được chia thành
lao động chân tay và lao động máy.
lao động để tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao hơn. Hơn nữa công tác
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở làng nghề còn tạo ra tính chuyên nghiệp
cho người lao động, thông qua các công tác nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
người lao động người lao động không chỉ được trang bị , bổ sung các kiến thức,
kỹ năng làm việc mà còn được đào tạo tác phong và thái độ làm việc chuyên
môn hơn.
Ngoài ra công tác nâng cao chất lượng người lao động không chỉ tập trung
vào nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động mà còn chú trọng nâng cao
thái độ làm việc của người lao động, tạo sự gắn bó giữa người lao động và làng
nghề và với nghề.
11
2.1.4.2 Đối với các cơ sở sản xuất
Công tác nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của làng nghề giúp bổ sung
cho chủ các cơ sở sản xuất về kỹ năng quản lý cơ sở của mình và nâng cao khả
năng tiếp cận thị trường tạo ra nguồn lực quản lý cơ sở chất lượng cao, giúp các
cơ sở sản xuất phát triển đúng hướng và có hiệu quả sản xuất cao.
Xét về mặt lao động, công tác nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở làng
nghề tạo cho các cơ sở sản xuất một lực lượng lao động chất lượng cao, đảm bảo
cho quá trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm góp phần thu hút các đối
tác và mở rộng thị trường cho các sản phẩm của cơ sở.
Công tác nâng cao chất lượng nguồn nhân lực còn giúp tạo ra cho các cơ sở, đặc
biệt là các cơ sở lớn có được lực lượng người quản lý và đội ngũ lao động làm việc có
hiệu quả, giúp cơ sở ngày càng phát triển về quy mô cũng như hiệu quả sản xuất.
2.1.4.3 Đối với làng nghề
Chất lượng của lao động và chủ các cơ sở sản xuất được nâng cao tạo cho
làng nghề một lực lượng nhân lực hùng hậu, nâng cao năng suất và hiệu quả làm
việc của làng nghề, đảm bảo sự phát triển của làng nghề.
được đánh giá qua số năm kinh nghiệm, quá trình học nghề và khả năng hoàn
thành công việc của người lao động. Trình độ tay nghề kỹ thuật được trau dồi
qua việc được truyền nghề hoặc đào tạo nghề của người lao động. Những lao
động được truyền nghề thường được đánh giá là có trình độ tay nghề kỹ thuật
cao hơn những lao động không được truyền nghề vì học được truyền đạt lại
những kỹ thuật của người thợ giỏi có kinh nghiệm nên họ tích lũy được cả
những kỹ thuật mà những người thợ giỏi tìm tòi và phát hiện trong suốt quá trình
làm nghề của họ, chính vì vậy mà lao động được truyền nghề có thể có trình độ
kỹ thuật tương đương với lao động lâu năm. Những lao động được đào tạo qua
các lớp đào tạo ngắn hạn họ được học những kỹ năng cơ bản để hoàn thành công
việc nên sau khi được đào tạo hầu hết có thể làm công việc ở mức đáp ứng yêu
cầu nên trình độ tay nghề kỹ thuật của họ cũng được đánh giá tương đương với
lao động đã thạo nghề.
13