KHOA THƯƠNG MẠI
MỤC LỤC
..................................................................................................................................2
LỜI NÓI ĐẦU...........................................................................................................3
CHƯƠNG I...............................................................................................................5
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY SIÊU THỊ HÀ NỘI....................................................5
1.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN............................................5
1.2. MÔ HÌNH TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY SIÊU THỊ HÀ NỘI..........................6
1.3. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA CÔNG TY SIÊU THỊ HÀ NỘI...................................................................10
1.3.1. Chức năng..............................................................................................11
1.3.2. Nhiệm vụ................................................................................................11
1.3.3. Đặc điểm................................................................................................11
1.4. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CHUỖI HỆ THỐNG BÁN LẺ HAPRO
MART..................................................................................................................12
1.4.2. Mục tiêu của chuỗi hệ thống Hapro Mart................................................13
1.4.3. Hoạt động kinh doanh chính...................................................................13
1.4.4. Tình hình thực hiện.................................................................................13
1.5. KHÁI QUÁT VỀ KINH DOANH CHUỖI SIÊU THỊ...................................14
1.5.1. Khái niệm siêu thị...................................................................................14
1.5.2. Đặc trưng của siêu thị.............................................................................15
1.5.3. Vai trò của siêu thị trong hệ thống phân phối hiện đại............................17
1.5.4. Chuỗi siêu thị.........................................................................................18
CHƯƠNG II............................................................................................................20
THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CHUỖI HỆ THỐNG BÁN LẺ
HAPRO MART CỦA .............................................................................................20
CÔNG TY SIÊU THỊ HÀ NỘI................................................................................20
2.1. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CHUỖI
HỆ THỐNG BÁN LẺ HAPRO MART CỦA CÔNG TY SIÊU THỊ HÀ NỘI......20
2.1.1. Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Siêu thị Hà Nội. ..................20
2.1.1.1. Kết quả hoạt động kinh doanh chung của Công ty Siêu thị Hà Nội.........20
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................55
2
KHOA THƯƠNG MẠI
LỜI NÓI ĐẦU
Thế kỷ XX chứng kiến sự ra đời của siêu thị - một phương thức bán hàng văn
minh, hiện đại. Đó là một sản phẩm của quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hoá
trên thế giới. Tại Việt Nam, kinh doanh siêu thị đã xuất hiện và phát triển từ hơn
mười năm nay và đã dần làm thay đổi diện mạo ngành kinh doanh bán lẻ trong nước
theo hướng tiến bộ và góp phần giúp xã hội văn minh, hiện đại hơn khi hội nhập vào
nền kinh tế thế giới.
Ngày 11/1/2007, Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức Thương mại thế giới
WTO, sẽ có rất nhiều các doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam kinh doanh. Cơ hội
kèm theo những thách thức đối với các doanh nghiệp nói chung và các nhà phân phối
bán lẻ trong nước nói riêng sẽ ngày một nhiều thêm. Để có thể nâng cao khả năng
cạnh tranh trong lĩnh vực bán lẻ khi Việt Nam thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế
ngày càng sâu rộng, xây dựng và phát triển theo mô hình chuỗi siêu thị là một trong
những phương cách mà Công ty Siêu thị Hà Nội hướng tới để nhằm đạt được sự
thành công. Chuỗi Hapro Mart với nhiệm vụ là nòng cốt tạo diện mạo mới cho
thương mại Thủ đô đang dần từng bước khẳng định mình trên thị trường và đến nay
là một trong những nhà phân phối hàng đầu Việt Nam. Ngày 1/1/2009, Việt Nam sẽ
chính thức mở cửa thị trường bán lẻ cho các nhà đầu tư nước ngoài theo lộ trình gia
nhập WTO. Khi đó, sự cạnh tranh trong lĩnh vực phân phối bán lẻ sẽ rất lớn và khốc
liệt đối với các doanh nghiệp bán lẻ trong nước nói chung và Công ty Siêu thị Hà Nội
riêng. Các nhà phân phối, bán lẻ trong nước sẽ phải ý thức được điều đó để xây dựng
cho mình những chiến lược kinh doanh cụ thể có tính khả thi cao sao cho có thể cạnh
tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài.
Công ty Siêu thị Hà Nội đang từng bước nâng cao chất lượng phục vụ và có
những biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh để có thể đứng vững và phát triển.
Trong một thời gian hoạt động, mô hình chuỗi siêu thị của Công ty cũng đã có những
thành tựu nhất định và còn cả những hạn chế vì đây là một hướng đi mới cả về lý
tách ra thành Công ty Bách hoá số 5Nam Bộ. Bắt đầu từ lúc này Công ty Bách hoá số
5 Nam Bộ hoạt động kinh doanh độc lập, hạch toán theo phương thức hoạt động độc
lập, tự chủ trong các hoạt động kinh doanh. Công ty thực hiện các hoạt động kinh
doanh theo đúng chức năng mà công ty đăng ký và không chịu sự chi phối của Sở
Thương mại Hà Nội mà hoàn toàn độc lập trong mọi hoạt động như: Bán buôn, bán
lẻ, kinh doanh tổng hợp các loại hàng hoá, dịch vụ và nhận làm đại lý ký gửi, uỷ thác
các loại hàng hoá trong và ngoài nước.
Theo chủ trương sắp xếp lại các doanh nghiệp của Nhà nước, của Chính phủ
và của Thành phố, theo quyết định số 3670/QĐ – UBND ngày 1/6/2005 của UBND
Thành phố Hà Nội và quyết định số 224/ TCT – TCCB ngày 30/6/2006 của Tổng
Công ty Thương mại Hà Nội, Công ty Bách hoá số 5 Nam Bộ chính thức đổi tên
thành Công ty Siêu thị Hà Nội trực thuộc Tổng Công ty Thương mại Hà Nội.
• Tên giao dịch của Công ty: Hapro Mart.
• Trụ sở: Số 5 Lê Duẩn – Ba Đình – Hà Nội.
• Điện thoại: (04) 8452314
5
KHOA THƯƠNG MẠI
• Hoạt động kinh doanh chính:
o Phân phối hàng hóa thông qua kênh siêu thị, trung tâm thương mại và cửa hàng
tiện ích.
o Nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực bán lẻ.
o Cung cấp dịch vụ hậu cần bán lẻ(kho - vận) và dịch vụ hạ tầng thương mại.
Với tư cách là một pháp nhân kinh tế, Công ty Siêu thị Hà Nội có giấy phép
kinh doanh số 1050 UBND, có vốn điều lệ lúc thành lập là 830.000.000 đồng trong
đó vốn cố định là 530.000.000 đồng, vốn lưu động là 300.000.000 đồng, con dấu
riêng, có trụ sở tại số 5, đường Lê Duẩn, quận Ba Đình, Hà Nội. Công ty hoạt động
và hạch toán kinh doanh độc lập tự chủ theo quy định của pháp luật và chịu trách
nhiệm về hoạt động cua mình trước pháp luật khi tham gia các quan hệ kinh tế - xã
hội.
Với vị trí địa bàn thuận lợi nằm trên trục đường giao thông lớn của Thủ đô
Đội ngũ lãnh đạo có trình độ, luôn luôn tìm tòi những cái mới, cái tiên tiến để
có thể bắt kịp với xu thế phát triển của thời đại. Có nhiều người theo học các lớp học
tại chức, không những nâng cao được trình độ chuyên môn mà còn có thể bắt kịp với
sự thay đổi của Công ty và môi trường kinh doanh đầy khốc liệt như hiện nay. Ngoài
ra, Công ty cũng luôn chú trọng tới việc phát triển, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân
lực như: cử cán bộ công nhân viên tham gia các khoá học ngắn hạn hoặc cử những
người có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm lâu năm trong công tác hướng dẫn đào
tạo những người mới.
Sơ đồ cơ cấu bộ máy tổ chức Công ty Siêu thị Hà Nội
7
KHOA THƯƠNG MẠI
BAN GIÁM ĐỐC CÔNG TY
PHÒNG
QUẢN LÝ
NHƯỢNG
QUYỀN
PHÒNG
ĐIỀU
PHỐI
HÀNG
HÓA
PHÒNG
THU
MUA
PHÒNG
ĐỐI
NGOẠI -
NHẬP
KHẨU
PHÒNG
PHÒNG
KẾ
HOẠCH
VÀ
PHÁT
TRIỂN
PHÒNG
PHÁT
TRIỂN
MẠNG
LƯỚI,
ĐẦU TƯ
VÀ QUẢN
LÝ HẠ
TẦNG
THƯƠNG
MẠI
BAN
THANH
TRA BẢO
VỆ
PHÒNG
CÔNG
NGHỆ
THÔNG
TIN
CHUỖI SIÊU THỊ, CỬA HÀNG TIỆN
ÍCH HAPRO MART
KHỐI NGHIỆP VỤ
- TRIỂN KHAI
P. CÔNG NGHỆ
T.TIN
BAN THANH
TRA - BẢO VỆ
P. PHÁT TRIỂN
MẠNG LƯỚI,
ĐT & QL HẠ
TẦNG TM
P. KH & PT
P. ĐỐI NGOẠI - NHẬP KHẨU
ST TIÊN SƠN
P. MARKETING
P. KẾ TOÁN TÀI CHÍNH
P. TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH
9
KHOA THƯƠNG MẠI
Ban Giám đốc gồm 1 Giám đốc, 3 phó giám đốc. Giám đốc là Bà Nguyễn Thị
Thu Hiền trực tiếp tổ chức quản lý, điều hành mọi hoạt động của công ty và trực tiếp
quản lý các phòng: Đối ngoại - nhập khẩu, Tổ chức hành chính, Kế toán tài chính,
Marketing. Ngoài ra còn có 3 phó Giám đốc trợ giúp cho Giám đốc, đó là: Bà Doãn
Thị Thành, Bà Vũ Thị Thanh và Bà Phạm Tuyết Mai.
- Bà Doãn Thị Thành quản lý các phòng: Bán buôn, Trung tâm phân phối hàng
hoá Hapro Mart, phòng Quản lý, giám sát nghiệp vụ và hệ thống Siêu thị.
- Bà Vũ Thị Thanh quản lý các phòng: Ban thanh tra bảo vệ, phòng Phát triển
mạng lưới, đầu tư và quản lý hạ tầng thương mại và phòng Kế hoạch và đầu tư.
- Bà Phạm Tuyết Mai quản lý các phòng: phòng Thu mua, phòng Điều phối
hàng hoá và phòng Công nghệ thông tin.
- Phòng Quản lý và nhượng quyền thương mại thì thuộc sự quản lý của Ban
quản lý dự án Hapro Mart
Các khối phòng ban được chia làm 3 khối: khối quản lý, khối nghiệp vụ - triển
- Cũng giống như các doanh nghiệp thương mại khác, Công ty Siêu thị Hà Nội
cũng tiếp tục thực hiện quá trình sản xuất trong khâu lưu thông, tức là chuyển hóa
mặt hàng từ sản xuất thành mặt hàng thương mại đồng bộ, nâng cao khả năng cạnh
tranh cho sản phẩm.
1.3.2. Nhiệm vụ.
- Là một doanh nghiệp Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong thương mại nên
công ty có nhiệm vụ thực hiện nghiêm chỉnh những quy định chỉ tiêu về chất lượng
hàng hoá, góp phần bình ổn giá cả và bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng.
- Là một doanh nghiệp thương mại công ty có nhiệm vụ tổ chức hoạt động
kinh doanh tạo ra lợi nhuận đồng thời tạo công ăn việc làm đảm bảo thu nhập cho
người lao động nhằm góp phần ổn định xã hội.
- Với vai trò là doanh nghiệp Nhà nước, trong quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình Công ty Siêu thị Hà Nội có nhiệm vụ bảo toàn và phát triển số
vốn được giao, thực hiện nghiêm chỉnh các chế độ, các quy định về tài chính, kế toán
ngân hàng do Nhà nước ban hành.
1.3.3. Đặc điểm.
Là một doanh nghiệp thương mại với chức năng chủ yếu là tổ chức lưu thông
hàng hoá thông qua trao đổi mua bán, Công ty Siêu thị Hà Nội đã thực hiện chức
năng này thông qua hai hình thức bán hàng là bán buôn và bán lẻ. Trước đây Công ty
có phần ưu tiên phát triển hoạt động bán buôn hơn nhưng trong những năm gần đây,
do tình hình thị trường có nhiều biến động cũng như những nguyên nhân phát sinh
trong nội tại Công ty, Ban Giám đốc quyết định giảm hẳn các hoạt động bán buôn mà
tập trung cho hoạt động bán lẻ. Để thực hiện việc bán lẻ Công ty đã áp dụng hai
phương thức bán hàng là bán hàng tại quầy và tự phục vụ trong Siêu thị.
11
KHOA THƯƠNG MẠI
Phương thức bán hàng tự phục vụ là một phương thức bán hàng mới mẻ, hiện
đại. Mục đích của phương thức bán hàng này là rút ngắn khoảng cách giữa hàng hoá
với khách hàng , đồng thời nâng cao năng suất bán hàng, rút ngắn thời gian mua hàng
của khách. Nhận thấy được những ưu điểm của phương thức bán hàng này Công ty
Nhiệm vụ chính trị: là nòng cốt tạo diện mạo mới cho thương mại thủ đô, đi đầu
trong việc thực hiện văn minh thương mại, vệ sinh an toàn thực phẩm và là công cụ
đắc lực, tin cậy của nhà nước thực hiện định hướng thị trường và góp phần bình ổn
giá cả tại Hà nội và khu vực phía bắc khi cần thiết
Nhiệm vụ kinh doanh: nâng dần tỷ trọng lưu chuyển hàng hoá của Tổng công ty
trong tổng mức lưu chuyển hàng hoá của Hà nội. Đảm bảo hiệu quả và lợi nhuận cao,
đảm bảo uy tín về thương hiệu của Tổng công ty.
1.4.2. Mục tiêu của chuỗi hệ thống Hapro Mart.
- Trở thành nhà phân phối – bán lẻ hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực phân
phối hàng hóa qua kênh phân phối hiện đại
- Chiếm 20% thị phần Miền bắc của thị trường bán lẻ qua kênh tiêu dùng hiện đại
vào năm 2010
- Đưa thương hiệu Hapro trở thành thương hiệu uy tín, được nhiều người tiêu dùng
biết đến
- Trở thành nhà phân phối - bán lẻ chiến lược cho các nhà sản xuất trong nước và
nước ngoài
1.4.3. Hoạt động kinh doanh chính.
- Phân phối hàng hóa thông qua kênh siêu thị, trung tâm thương mại và cửa hàng
tiện ích
- Nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực bán lẻ.
- Cung cấp dịch vụ hậu cần bán lẻ (kho - vận) và dịch vụ hạ tầng thương mại
1.4.4. Tình hình thực hiện.
Vào ngày 11/11/2006, hệ thống bán lẻ Hapro Mart chính thức ra mắt bằng
việc khai trương 2 siêu thị và gần 10 cửa hàng tiện ích tại Thủ đô Hà Nội. Hàng hóa
trong các cửa hàng tiện ích chủ yếu là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, đồ gia
dụng phục vụ sinh hoạt hàng ngày của người dân, với chất lượng bảo đảm, chủng
loại phong phú, giá cả hợp lý, phong cách phục vụ chuyên nghiệp.
Đến 31/12/2007 Hapro Mart đã có 13 siêu thị và 18 cửa hàng tiện ích tại khu vực
phía Bắc, tập trung chủ yếu ở Hà Nội và một số thành phố, tỉnh có mức sống tương
đối khá như Thái Nguyên, Hải Dương, Bắc Kạn, Ninh Bình, Hưng Yên, Thái Bình,
Công ty Vũng Tàu Sinhanco khai trương Siêu thị Minimart.
Trên thế giới hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về siêu thị. Ở mỗi
quốc gia khác nhau người ta lại có khái niệm khác nhau về siêu thị. Chẳng hạn:
14
KHOA THƯƠNG MẠI
Tại Pháp, “ Siêu thị là cửa hàng bán lẻ theo phương thức tự phục vụ có diện
tích từ 400 m
2
đến 2500 m
2
chủ yếu là bán hàng thực phẩm và vật dụng gia đình
( Theo Marc Benoun, “ Marketing: Savoir et savoir – faire”, 1991).
Tại Hoa Kỳ, “Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ tương đối lớn, có mức chi phí
thấp, tỷ suất lợi nhuận không cao và khối lượng hàng hoá bán ra lớn, đảm bảo thoả
mãn đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm, bột giặt, các chất tẩy rửa và
những mặt hàng chăm sóc nhà cửa” ( Theo Philips Kotker “ Marketing căn bản”).
Hoặc đơn giản hơn là: “Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ bày bán nhiều mặt hàng đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của người tiêu dùng như thực phẩm, thức uống,
dụng cụ gia đình và các loại vật dụng cần thiết khác” ( Theo Melvin Morgenstein và
Harriet Strongin “ Modern Retailing – Management Principales and Practices).
Tại Anh, “Siêu thị là cửa hàng bách hoá bán tạp phẩm, bán thực phẩm, đồ
uống và các loại hàng hoá khác, thường đặt tại thành phố, dọc đường cao tốc hoặc
trong khu buôn bán có diện tích khoảng từ 4.000 đến 25.000 bộ vuông.”
Mỗi nước với đặc trưng riêng về kinh tế, văn hoá – xã hội nên tồn tại rất nhiều
khái niệm khác nhau về siêu thị. Nhưng dù với định nghĩa nào, khái niệm siêu thị vẫn
nội hàm 3 đặc trưng: là dạng cửa hàng bán lẻ, áp dụng phương thức tự phục vụ, bày
bán những hàng hoá tiêu dùng phổ biến.
Tại Việt Nam, “ siêu thị” là từ được dịch ra từ các thuật ngữ nước ngoài –
“supermarket” ( tiếng Anh) hay “supermarché” ( tiếng Pháp), trong đó “super” có
nghĩa là “siêu” và “market” là “chợ”.. Để thống nhất về khái niệm, trong Quy chế “
Tự phục vụ giúp người mua cảm thấy hoàn toàn thoải mái, tự tin, tiện nghi khi được
tự do lựa chon, ngắm nghía, so sánh, sờ mó hàng hoá mà không cảm thấy cản trở từ
phía người bán. Và khi áp dụng phương thức tự phục vụ, giá cả trong các siêu thị
được niêm yết rõ ràng để người mua không phải tốn công mặc cả, tiết kiệm thời gian.
Đây là một nét văn minh trong tiêu dùng hiện đại đang dần phổ biến trong xã hội.
Hàng hoá bày bán trong siêu thị chủ yếu là hàng hoá tiêu dùng phổ biến.
Với cuộc sống hối hả bận rộn trong thời buổi công nghiệp hoá, con người
ngày càng có ít thời gian cho việc mua sắm, đặc biệt là những hàng hoá thiết yếu cho
cuộc sống hàng ngày như rau xanh, lương thực, thực phẩm,.... nên người tiêu dùng
mong muốn mua nhiều thứ một lúc mà không phải đi nhiều nơi. Do vậy siêu thị là sự
lựa chọn tối ưu vì hàng hoá trong các siêu thị thường có khả năng thoả mãn phần lớn
nhu cầu của khách hàng trong một lần đi mua hàng. Và hàng hoá bày bán trong siêu
thị là hàng tiêu dùng phổ biến từ lương thực, thực phẩm, chất tẩy rửa, quần áo, hoá
mỹ phẩm, hàng gia dụng, .... Đặc điểm của các hàng hoá này là hàng tiêu chuẩn hoá,
chất lượng trung bình, giá cả phải chăng và được niêm yết rõ ràng, bao bì đóng gói
đẹp, tiện lợi cho tiêu dùng, có hướng dẫn chi tiết về cách sử dụng, thời hạn sử dụng.
Đối với các siêu thị nhỏ, hàng hoá bày bán chủ yếu là hàng hoá phục vụ chủ
yếu nhu cầu tiêu dùng hàng ngày. Còn đối với các siêu thị có quy mô lớn, thì ngoài
phục vụ những nhu cầu đó, trong siêu thị còn bày bán thêm nhiều loại hàng hoá khác
16
KHOA THƯƠNG MẠI
đáp ứng nhiều hơn nhu cầu phong phú của người tiêu dùng. Và với số lượng hàng
hoá lớn như vậy, các siêu thị phải bố trí, sắp xếp hàng hoá sao cho người tiêu dùng có
thể tiếp cận hàng hoá một cách dễ dàng nhất để kích thích nhu cầu mua sắm của
khách hàng.
1.5.3. Vai trò của siêu thị trong hệ thống phân phối hiện đại.
Siêu thị nằm trong hệ thống phân phối bán lẻ, là cầu nối quan trọng
giữa sản xuất và tiêu dùng.
Người tiêu dùng thường có nhu cầu về nhiều loại hàng hoá nhưng lại với số
lượng ít, trong khi đó người sản xuất để đảm bảo lợi nhuận và bù đắp chi phí kinh
các sản phẩm cũ không còn nhu cầu. Lúc này, siêu thị sẽ có tác động trở lại nhà sản
xuất để có được những sản phẩm, hàng hoá phù hợp với nhu cầu của khách hàng, từ
đó góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp sản
xuất.
Siêu thị giúp giảm thiểu các tầng, nấc trung gian trong hệ thống phân
phối, hình thành nên một hệ thống phân phối liên kết dọc vững chắc.
Quá trình phân phối sản phẩm của nhà sản xuất thường diễn ra theo 2 cách:
Cách thứ nhất là nhà sản xuất không cần đến các nhà phân phối, đại lý trung
gian mà trực tiếp đưa sản phẩm tới người tiêu dùng. Với cách này, họ có thể xây
dựng các gian hàng giới thiệu sản phẩm tại chính doanh nghiệp mình hoặc thông qua
các hội chợ, triển lãm. Cách này có ưu điểm là sẽ tốn ít chi phí cho lưu thông sản
phẩm nhưng với vai trò là một doanh nghiệp sản xuất họ chỉ có thể giới thiệu sản
phẩm với qui mô hẹp,lượng người tiêu dùng biết đến sản phẩm của họ cũng sẽ ít và
nó chỉ thích hợp cho những hàng hoá có giá trị lớn như hàng điẹn máy, hàng gia
dụng,... còn với những mặt hàng phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày giá trị ít
cần số lượng mua lớn để bù đắp chi phí thì cách này không được khả thi.
Cách thứ hai là các nhà sản xuất thông qua các nhà phân phối, đại lý bán hàng
để giới thiệu sản phẩm của mình tới người tiêu dùng. Đối với trường hợp này, càng
hạn chế được người trung gian để đưa sản phẩm tới khách hàng càng ít thì lợi nhuận
của họ càng cao. Do vậy, siêu thị là sự lựa chọn tốt nhất, kênh phân phối chỉ bao
gồm:
Nhà sản xuất Siêu thị Người tiêu dùng.
Siêu thị là nơi tập trung nhiều người đến mua hàng, sẽ là nơi lý tưởng để giới
thiệu hàng hoá của nhà sản xuất. Siêu thị với quy mô và phương thức kinh doanh của
mình sẽ là nơi đưa sản phẩm của doanh nghiệp tới người tiêu dùng một cách nhanh
và tốn ít chi phí nhất. Và nó đặc biệt phù hợp với các hàng hoá thông thường.
1.5.4. Chuỗi siêu thị.
18
KHOA THƯƠNG MẠI
Chuỗi siêu thị chỉ một tập hợp các siêu thị của một hoặc nhiều doanh nghiệp
( Nguồn: Phòng Kế toán tài chính)
Nhận xét: Qua bảng trên ta thấy
Tổng doanh thu hàng năm của Công ty tăng lên rõ rệt. Năm 2005, tổng doanh
thu là 65,66 tỷ đồng, năm 2006 là 66 tỷ đồng tăng 0,34 tỷ đồng với tỷ lệ là 0,518%.
Qua 2 năm đó thì vẫn chưa thấy được sự tăng trưởng mạnh mẽ của Công ty. Vượt lên
hẳn những năm trước kể từ khi tách ra và chuyển thành Công ty Siêu thị Hà Nội là
năm 2007. Sau một năm khai trương chuỗi hệ thống bán lẻ Hapro Mart và được Tổng
Công ty giao nhiệm vụ quản lý và phát triển một số Siêu thị và Cửa hàng tiện ích
Tổng doanh thu của Công ty đã tăng lên rõ rệt. So với năm 2006 Tổng doanh thu tăng
130,3% tương ứng với 86 tỷ đồng. Sự tăng lên rõ rệt đó một mặt cho thấy công việc
kinh doanh của Công ty đang rất phát triển nhưng đồng thời qua con số đấy cũng có
thể thấy được sự phát triển của hệ thống Hapro Mart sau một năm triển khai. Và
Công ty Siêu thị Hà Nội nói riêng cũng như Tổng Công ty Thương mại nói chung có
thể cùng nhau và cùng các thành viên khác trong “ gia đình Hapro Mart” đưa Hapro
Mart thành hệ thống bán lẻ mạnh nhất Việt Nam có sức cạnh tranh với các Tập đoàn
20
KHOA THƯƠNG MẠI
bán lẻ mạnh đang có mặt tại Việt Nam. Sở dĩ có được những thành tựu đáng kể như
thế là do: trước tiên là do sự chỉ đạo đúng đắn sáng suốt của Ban Giám đốc Công ty
Siêu thị Hà Nội. Ban Giám đốc đã có những cái nhìn chiến lược cho từng năm hoạt
động của Công ty để mỗi dịp lễ tết như Tết Nguyên Đán hay Tết Trung thu không
xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hóa. Ngoài ra phải kể đến sự nỗ lực của mỗi thành
viên trong Công ty. Tất cả nhân viên trong Công ty luôn tận tuỵ đối với Công ty,
năng động, sáng tạo và không ngại làm thêm giờ vào các buổi tối, các ngày nghỉ như
thứ 7, chủ nhật để hoàn thành công việc. Sự nhiệt tình trong công việc của mỗi người
lao động, mỗi cá nhân đó đã giúp cho Công ty đạt được những kết quả tốt như hôm
nay.
Tuy nhiên trong bảng lại cho thấy một thắc mắc nhỏ là tại sao từ năm 2006
đến năm 2007 nộp ngân sách địa phương lại giảm đi một cách rõ rệt như vậy. Điều
đó được lý giải là vì từ trước khi chuỗi Hapro Mart được mở thì sau khi đi trừ đi các
NĂM 2007
DOANH THU
THỰC HIỆN
Thực hiện/ Kế hoạch
1. Siêu thị Thanh Xuân 41.000 35.878 87,5%
Doanh thu đầu kệ 780
Doanh thu hoa hồng 2.220
Doanh thu bán lẻ 32.878
2. Siêu thị D2 Giảng Võ 35.000 29.169 83,3%
Doanh thu đầu kệ 749
Doanh thu hoa hồng 1.895
Doanh thu bán lẻ 26.525
3. Siêu thị 5 Nam Bộ 16.000 16.679 104,2%
Doanh thu đầu kệ 726
Doanh thu hoa hồng 585
Doanh thu bán lẻ 15.368
4. Siêu thị Hoàng Hoa Thám 15.450 8.310 53,8%
Doanh thu đầu kệ 189
Doanh thu hoa hồng 434
Doanh thu bán lẻ 7.687
5. Cửa hàng Nam Trung Yên 1.870 1.150 61,5%
Doanh thu bán lẻ 1.150
6. Cửa hàng Vĩnh Phúc 3.500 3.314 94,7%
Doanh thu bán lẻ 3.314
Tổng số 112.820 94.500 83,8%
(Nguồn: Phòng Kế hoạch phát triển)
Nhận xét:
Qua bảng tổng kết doanh thu năm 2007 của các siêu thị, cửa hàng tiện ích
nhận thấy một điều là hầu như các đơn vị đều không hoàn thành kế hoạch được giao
duy chỉ có Siêu thị 5 Nam Bộ là hoàn thành và vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra là
Thực
phẩm khô
Thực phẩm
tươi
Tạp phẩm,
gia dụng
Hoá mỹ
phẩm, tẩy
rửa
May mặc
Hàng hoá
khác
1. ST. Thanh Xuân 6.897,61 3.926,41 10.608,11 4.267,19 1.956,34 939,13
2. ST. D2 Giảng Võ 10.734,45 2.168,07 7.113,09 3.018,23 9.873,17 468,11
3. ST. 5 Nam Bộ 3.336,27 1.031,61 3.206,13 1.679,15 573,15 4.316,8
4. ST. Hoàng Hoa Thám 1.435,11 478,01 2.001,01 1.093,68 1.325,66 309,08
5. CHTI. Nam Trung Yên 479,48 77,69 687,66 876,03 93,1 18,9
6. CHTI. Vĩnh Phúc 586,02 141,19 722,16 365,58 86,1 32,52
Tổng cộng 23.468,94 7.822,98 24.338,16 11.299,86 13.907,52 6.084,54
Chiếm tỷ trọng 27% 9% 28% 13% 16% 7%
(Nguồn: Phòng Kế hoạch phát triển)
Chú thích: - ST: Siêu thị
- CHTI: Cửa hàng tiện ích
24
KHOA THƯƠNG MẠI
Nhận xét:
Qua bảng tổng kết doanh số theo nhóm hàng của các đơn vị trong năm 2007,
nhận thấy nhóm hàng Tạp phẩm, gia dụng chiếm tỷ trọng tiêu thụ lớn nhất là 28%,
tiếp đến là nhóm hàng Thực phẩm khô (27%), nhóm hàng May mặc (16%), nhóm
hàng Hoá mỹ phẩm, tẩy rửa (13%), nhóm hàng Thực phẩm tươi (9%), cuối cùng là