MỤC LỤC
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn............................................................................. 6
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn................................................. 8
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn...................................................... 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn....................................................... 9
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn................................... 9
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn.............................................................. 10
7. Kết cấu luận văn..................................................................................................... 10
Chương 1................................................................................................................... 11
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG CHỨNG............11
1.1. Công chứng......................................................................................................... 11
1.1.1. Khái niệm công chứng.................................................................................... 11
1.1.2. Phân loại công chứng....................................................................................... 14
1.2. Quản lý nhà nước về công chứng........................................................................ 15
1.2.1. Khái niệm......................................................................................................... 15
1.2.2. Chủ thể quản lý nhà nước về công chứng......................................................... 18
1.2.3. Nội dung quản lý nhà nước về công chứng...................................................... 21
1.2.4. Sự cần thiết quản lý nhà nước đối với các công chứng..................................... 26
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về công chứng...............................29
1.3.1. Mức độ hoàn thiện của thể chế quản lý nhà nước về công chứng.................... 29
1.3.2. Năng lực quản lý nhà nước về công chứng...................................................... 30
1.3.3. Nhu cầu xã hội về công chứng và sự phát triển của công chứng......................31
Tiểu kết chương 1....................................................................................................... 31
Chương 2................................................................................................................... 32
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG TỪ THỰC TIỄN
TỈNH ĐẮK LẮK....................................................................................................... 32
2.1. Khái quát vị trí địa lý, tình hình dân cư, kinh tế - xã hội của Đắk Lắk có ảnh
hưởng đến hoạt động công chứng.............................................................................. 32
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên............................................................................................. 32
3.2.4. Xây dựng cơ sở dữ liệu ngăn chặn cho công chứng......................................... 66
3.2.5. Bổ sung số lượng và nâng cao năng lực đội ngũ làm công tác quản lý nhà nước
về công chứng............................................................................................................ 68
3.2.6. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quan điểm của Đảng và pháp
luật của Nhà nước về công chứng.............................................................................. 69
3.2.7. Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra của Sở Tư pháp đối với các
công chứng................................................................................................................. 72
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3............................................................................................. 73
PHẦN KẾT LUẬN.................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................... 75
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Hoạt động công chứng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tếxã hội. Dưới góc độ các giao dịch về dân sự, văn bản công chứng là một trong
những công cụ pháp lý không thể thiếu nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp,
phòng ngừa tranh chấp, tạo ra sự ổn định trong các quan hệ giao dịch của các tổ
chức và cá nhân. Mặt khác, về phương diện Nhà nước, văn bản công chứng tạo
ra một bằng chứng xác thực, kịp thời, không ai có thể phản bác, chối cãi, trừ
trường hợp có ý kiến của người thứ ba và được quá trình tố tụng tuyên bố vô
hiệu. Về giá trị pháp lý, văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các
bên có liên quan, trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ
của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của
pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng có thoả thuận khác. Văn
bản công chứng có giá trị chứng cứ, những tình tiết, sự kiện trong văn bản công
chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Toà án tuyên bố là vô hiệu.
Chế định về công chứng được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự năm 1995,
phát sinh nhiều vấn đề như Văn phòng công chứng tạm ngừng hoạt động,
chuyển nhượng Văn phòng công chứng, công chứng viên làm việc theo chế độ
hợp đồng nhưng chưa có quy định điều chỉnh dẫn đến lúng túng trong thực
hiện; các quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng còn chưa
đầy đủ, thiếu chặt chẽ, chưa theo kịp với sự phát triển và yêu cầu xã hội hoá;
thiếu quy định về việc công chứng viên tham gia tổ chức xã hội - nghề nghiệp
để phát huy vai trò tự quản của công chứng viên phù hợp với đặc thù của nghề
công chứng và thông lệ quốc tế…
Là một địa bàn thuộc khu vực Tây Nguyên, tỉnh Đắk Lắk có 16 công
chứng, trong đó có 14 Văn phòng công chứng và 02 Phòng công chứng được
bố trí trên địa bàn 13 huyện, 01 thị xã và 01 thành phố. Việc phát triển của các
Văn phòng công chứng trong xu hướng xã hội hoá dịch vụ công trên địa bàn
tỉnh Đắk Lắk đã đặt ra những nội dung, yêu cầu quản lý nhà nước đối với các
Văn phòng công chứng là hết sức cần thiết và rất quan trọng. Đặc biệt, với sự
ra đời của Luật công chứng năm 2014 có hiệu lực ngày 01/01/2015 đã đặt ra
nhiều vấn đề triển khai trong thực tiễn quản lý nhà nước đối với các Công
chứng nói chung, ở tỉnh Đắk Lắk nói riêng. Đê nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý nhà nước về công chứng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã đặt ra nhiều vấn
đề lý luận, pháp lý cần phải giải đáp thấu đáo, có căn cứ khoa Họcvà thực tiễn.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn
tỉnh Đắk Lắk” là yêu cầu tất yếu khách quan, cấp thiết cả về lý luận và thực
tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: “Quản lý nhà nước
về công chứng từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk”, cho thấy các nhà khoa Học đã tiếp
cận theo nhiều cách, với những cấp độ khác nhau. Có thể kể đến một số công
trình khoa Học như:
Tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy, các sách chuyên khảo, luận án,
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn:
Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là Quản lý nhà nước về công
chứng từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Từ yêu cầu của mã số và chuyên ngành Luật Hiến pháp và luật hành
chính, luận văn xác định phạm vi nghiên cứu gồm các nội dung quản lý nhà
nước về công chứng theo nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk
Lắk và Sở Tư pháp từ năm 2013 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở pháp luận của chủ nghĩa MácLênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về quản lý nhà
nước về công chứng- đối tượng có tính đặc thù cao. Đồng thời, luận văn sử
dụng các phương pháp cụ thể khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, dự báo để
chọn lọc tri thức khoa học để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu của chủ đề luận
văn.
Phương pháp tổng hợp được sử dụng trong việc hệ thống hoá các vấn đề
lý luận về quản lý nhà nước về công chứng, làm cơ sở khoa học cho việc
nghiên cứu làm rõ khái niệm, đặc điểm và vai trò của công chứng và các yếu tố
ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về công chứng.
Phương pháp phân tích được sử dụng trên cơ sở lý thuyết đã có vào việc
luận giải các nội dung cụ thể về Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn
tỉnh Đắk Lắk; phương pháp thống kê và so sánh được sử dụng để nhận diện
thực trạng Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk trong
từng giai đoạn lịch sử cụ thể, giúp việc phân tích vấn đề có tính hệ thống và
toàn diện. Trên cơ sở đó, giúp việc đánh giá thực trạng Quản lý nhà nước về
công chứng từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk bảo đảm tính chính xác, khách quan và
khoa học.
1.1. Công chứng
1.1.1. Khái niệm công chứng
Công chứng
Tại Việt Nam công chứng với tư cách là một thể chế pháp lý hình thành
khá sớm từ những năm 1930, nhưng đến năm 1987 thuật ngữ "công chứng"
mới được sử dụng một cách rộng rãi. Cho đến nay, nước ta đã có 6 khái niệm
khác nhau về công chứng phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về công
chứng trong các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước ta. Cụ thể như sau:
Một là, Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp Công
chứng nhà nước là một hoạt động của nhà nước, nhằm giúp công dân, các cơ
quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp
hoá các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực
hiện. Bằng hoạt động trên, công chứng nhà nước tạo ra những đảm bảo pháp lý
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức phù
hợp với Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
ngăn ngừa vi phạm pháp luật, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp được
thuận lợi, góp phần tăng cường pháp chế XHCN.
Hai là, Nghị định số 45/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày
27/02/1991 về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước quy định:
Công chứng là việc chứng nhận xác thực các hợp đồng và giấy tờ theo
quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và
cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi tắt là các tổ
chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN.
Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ.
Ba là, Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và
hoạt động công chứng nhà nước quy định:
Công chứng là việc chứng nhận xác thực của các hợp đồng và giấy tờ
Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng
hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng” . Có thể nhận thấy,
những khái niệm về công chứng gắn liền với những thay đổi của xã hội nước ta.
Ở các giai đoạn phát triển khác nhau thì khái niệm về công chứng rõ ràng có
những thay đổi nhất định. Sự thay đổi này thể hiện quan điểm của nhà nước ta
về công chứng cũng như trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, nhưng xét
về bản chất và mục đích của hành vi thì vẫn không thay đổi. Từ các quy định
pháp luật trên đây, có thể hiểu: Công chứng là việc công chứng viên của các
công chứng, theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức hoặc quy định của pháp luật,
chứng nhận tính hợp pháp, tính xác thực của các văn bản hợp đồng, giao dịch
nhằm đảm bảo lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ
chức.
Công chứng là một dạng tổ chức xã hội - nghề nghiệp được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền cho phép thành lập, công nhận điều lệ và có hội viên là cá
nhân, tổ chức tự nguyện đóng góp tài nhằm phục vụ mục đích của hội và nhu
cầu chung của xã hội, là pháp nhân khi tham gia quan hệ dân sự. Hội viên có
thể bao gồm cả cá nhân và tổ chức, tài sản của loại tổ chức này được hình thành
chủ yếu từ sự đóng góp tự nguyện của các hội viên hoặc hội phí, nhằm phục vụ
cho nhu cầu chung của hội viên và mục đích của tổ chức. Các tổ chức này có
chung đặc điểm là:
- Thành lập theo sang kiến của nhà nước
- Hình thành theo các quy định của nhà nước và được quản lý chặt chẽ bởi cơ
quan nhà nước.
- Hỗ trợ nhà nước giải quyết một số vấn đề xã hội
- Hoạt động tự quản, cơ cấu do nội bộ tổ chức quyết định, hoạt động không
mang tính quyền lực chính trị và hoàn toàn tự nguyện.
Với cách hiểu tổ chức có nghĩa là quá trình sắp xếp và bố trí các công
việc, giao quyền hạn và phân phối các nguồn lực của tổ chức sao cho chúng
công chứng phải là công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng và
đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên. Tên gọi của Văn phòng công
chứng phải bao gồm cụm từ “Văn phòng công chứng” kèm theo họ tên của
Trưởng Văn phòng hoặc họ tên của một công chứng viên hợp danh khác của
Văn phòng công chứng do các công chứng viên hợp danh thỏa thuận, không
được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của công chứng khác, không được vi
phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân
tộc. Văn phòng công chứng phải có trụ sở đáp ứng các điều kiện do Chính phủ
quy định. Văn phòng công chứng có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo
nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ phí công chứng, thù lao công
chứng và các nguồn thu hợp pháp khác. Văn phòng công chứng sử dụng con
dấu không có hình quốc huy. Văn phòng công chứng được khắc và sử dụng con
dấu sau khi có quyết định cho phép thành lập. Thủ tục, hồ sơ xin khắc dấu, việc
quản lý, sử dụng con dấu của Văn phòng công chứng được thực hiện theo quy
định của pháp luật về con dấu.
1.2. Quản lý nhà nước về công chứng
1.2.1.
Khái niệm
Quản lý nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại
của Nhà nước.Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều
hành của cả bộ máy nhà nước, là sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước
trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo cách hiểu này, quản
lý nhà nước là hoạt động của cả ba hệ thống cơ quan nhà nước: cơ quan lập
pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp. Quản lý nhà nước có các đặc
điểm sau:
Một là, chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, công chức trong bộ máy
nhà nước được trao quyền lực công gồm: quyền lập pháp, quyền hành pháp và
phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước và của cấp trên thành những
quy định chi tiết để có thể triển khai thực hiện trong thực tiễn; dưới dạng các
mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dụng pháp luật vào thực tiễn, trực tiếp thực hiện
quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý; dưới dạng những
mệnh lệnh chỉ đạo cấp dưới trong hoạt động, nhằm tổ chức thực hiện pháp luật
trong thực tiễn; dưới dạng những thông tin hướng dẫn đối lập với cấp dưới
nhằm đảm bảo sự thống nhất, có hệ thống của bộ máy hành chính nhà nước.
Thứ hai, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động được tiến hành bởi
những chủ thể có quyền năng hành pháp
Cách hiểu phổ biến hiện nay thì Nhà nước có ba quyền năng: lập pháp,
hành pháp và tư pháp. Trong đó, quyền năng hành pháp trước hết và chủ yếu
thuộc về các cơ quan hành chính nhà nước, tuy nhiên, trong rất nhiều hoạt động
khác như: việc ổn định tổ chức nội bộ của các cơ quan nhà nước, hoạt động
quản lý được tiến hành bởi các Bộ, … Trong những trường hợp này, quyền
năng hành pháp cũng thể hiện rõ nét và nếu xét về bản chất thì tương đồng với
hoạt động hành pháp của các cơ quan hành chính nhà nước.
Thứ ba, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động có tính thống nhất,
được tổ chức chặt chẽ.
Để đảm bảo tính pháp chế trong hoạt động hành pháp, bộ máy các cơ
quan hành pháp được tổ chức thành một khối thống nhất từ trung ương đến địa
phương, đứng đầu là Chính phủ, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ
đạo, điều hành thống nhất, bảo đảm lợi ích chung của cả nước, đảm bảo sự liên
kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp, tránh
được sự cục bộ, phân hoá giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau. Tuy
nhiên, do mỗi địa phương đều có những nét đặc thù riêng về điều kiện kinh tế xã hội, nên để có thể phát huy tối đa những thế mạnh của từng địa phương, tạo
sự năng động, sáng tạo trong quản lý điều hành, bộ máy hành chính còn được
tổ chức theo hướng phân cấp, trao quyền tự quyết, tạo sự chủ động, sáng tạo
cho chính quyền địa phương.
2. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong
việc thực hiện quản lý nhà nước về công chứng, có các nhiệm vụ, quyền hạn
sau đây:
a) Ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy
phạm pháp luật về công chứng;
b) Xây dựng, trình Chính phủ ban hành chính sách phát triển nghề công chứng,
trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy hoạch tổng thể phát triển công chứng
trong cả nước;
c) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan hướng dẫn, triển khai, quản
lý việc thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển công chứng trong cả nước;
d) Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công chứng, chính sách phát triển nghề
công chứng;
đ) Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm công chứng viên;
e) Phê duyệt Điều lệ của tổ chức xã hội - nghề nghiệp toàn quốc của công
chứng viên sau khi thống nhất ý kiến với Bộ Nội vụ; đình chỉ thi hành và yêu
cầu sửa đổi những văn bản, quy định của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công
chứng viên trái với quy định của Hiến pháp, Luật này và các văn bản quy phạm
pháp luật khác có liên quan;
g) Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động
công chứng theo thẩm quyền;
h) Định kỳ hằng năm báo cáo Chính phủ về hoạt động công chứng;
i) Quản lý và thực hiện hợp tác quốc tế về hoạt động công chứng;
k) Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này và các văn bản
quy phạm pháp luật khác có liên quan.
3. Bộ Ngoại giao có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc hướng
dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện công chứng của cơ quan đại diện Việt
Nam ở nước ngoài, tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng cho viên chức
lãnh sự, viên chức ngoại giao được giao thực hiện công chứng; định kỳ hằng
công chứng trên địa bàn. Định kỳ hằng năm báo cáo Bộ Tư pháp về hoạt động
công chứng tại địa phương để tổng hợp báo cáo Chính phủ;
h) Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này và các văn bản
quy phạm pháp luật khác có liên quan.
2. Sở Tư pháp chịu trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản
lý nhà nước về công chứng tại địa phương, thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn
quy định tại Luật này và các vănbản quy phạm pháp luật khác có liên quan.
1.2.3.
Nội dung quản lý nhà nước về công chứng
Có thể khái quát những nội dung cơ bản của quản lý nhà nước đối với
các công chứng như sau:
Xây dựng, ban hành chính sách phát triển nghề công chứng, quy
hoạch tổng thể phát triển công chứng;
Hoạt động quản lý nhà nước nói chung và hoạt động quản lý nhà nước
đối với các công chứng nói riêng trước hết là hoạt động thực hiện pháp luật. Để
tạo cơ sở pháp lý cho việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các
công chứng thì chính quyền các cấp xây dựng và ban hành văn bản quản lý nhà
nước để áp dụng thực hiện là yêu cầu tất yếu. Luật Công chứng số
82/2006/QH11 được thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực thi hành ngày
01/7/2006. Tiếp đó, ngày 20/6/2014 Quốc hội thống nhất ban hành Luật số
53/2014/QH13 Luật Công chứng năm 2014. Luật công chứng được xây dựng
trên cơ sở quán triệt các quan điểm chỉ đạo sau đây:
Thể chế hoá đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta
về cải cách hành chính và cải cách tư pháp về những nội dung liên quan đến
hoạt động công chứng; Quán triệt và vận dụng một cách phù hợp các chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xã hội hóa một số lĩnh vực
quản lý nhà nước; Kế thừa những điểm tích cực, hợp lý trong tổ chức và hoạt
hành các văn bản quản lý nhà nước về công chứng nói chung và các công
chứng nói riêng của chính quyền địa phương tạo cơ sở thuận lợi cho việc tiến
hành các bước tổ chức thực hiện, chỉ đạo phối hợp giữa các cơ quan tiến hành
công tác quản lý nhà nước đối với các công chứng trên địa bàn.
Tổ chức triển khai thực hiện chính sách phát triển nghề công chứng,
quản lý việc thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển công chứng
Việc tổ chức thực hiện các văn bản quản lý nhà nước đối với các công
chứng là quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của chính quyền địa phương. Xét về
chủ thể quản lý nhà nước, UBND cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã tổ chức thực hiện
các văn bản quy phạm của cấp trên. Cụ thể hóa chúng bằng việc xây dựng và
ban hành, chỉ đạo thực hiện các văn bản đó tại địa phương. UBND thực hiện
trực tiếp các văn bản quản lý nhà nước đối với các công chứng. Phối hợp với
các cơ quan, ban, ngành hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, quản lý chặt chẽ hoạt
động của các tổ chức ấy, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước và
các bên tham gia. Việc thực hiện các văn bản quản lý nhà nước đối với các
công chứng bao gồm nhiều hoạt động:
Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công chứng, chính sách phát triển
nghề công chứng;
Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm công chứng viên;
Phê duyệt Điều lệ của tổ chức xã hội - nghề nghiệp toàn quốc của công
chứng viên sau khi thống nhất ý kiến với Bộ Nội vụ; đình chỉ thi hành và yêu
cầu sửa đổi những văn bản, quy định của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công
chứng viên trái với quy định của Hiến pháp, Luật này và các văn bản quy phạm
pháp luật khác có liên quan; Quyết định thành lập Phòng công chứng, bảo đảm
cơ sở vật chất và phương tiện làm việc cho các Phòng công chứng; quyết định
về việc giải thể hoặc chuyển đổi Phòng công chứng theo quy định Luật công
chứng
Ban hành tiêu chí xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công
tra không thể thiếu được. Thanh tra, kiểm tra là để đánh giá, nhận xét tình hình
và kết quả thực hiện quyết định quản lý; xem xét lại nội dung và chất lượng
quản lý; khi cần thiết phải bổ sung, sửa đổi, thậm chí phải huỷ bỏ một phần hay
toàn bộ quyết định quản lý. Trong trường hợp nội dung và chất lượng quyết
định quản lý được thực tế kiểm nghiệm là đúng, là phù hợp, nhưng đối tượng
thi hành vẫn không tuân thủ và không chấp hành nghiêm chỉnh thì khi đó hoạt
động thanh tra, kiểm tra phải làm rõ nguyên nhân chủ quan, khách quan, xác
định rõ trách nhiệm thuộc khâu nào, thuộc cá nhân, tổ chức nào để chấn chỉnh
hoặc xử lý khi có vi phạm. Với ý nghĩa đó thanh tra thực chất đã góp phần nâng
cao hiệu lực quản lý Nhà nước. Thứ 3: Thanh tra là một phương thức bảo đảm
pháp chế XHCN. Một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của hệ
thống chính trị và bộ máy Nhà nước ta là nguyên tắc pháp chế xã hội chủ
nghĩa. Nguyên tắc pháp chế thể hiện ở việc chấp hành pháp luật cả từ phía các
cơ quan Nhà nước và từ phía các cá nhân, tổ chức là đối tượng chịu sự quản lý
của Nhà nước. Về phía các cơ quan Nhà nước, nguyên tắc pháp chế thể hiện ở
việc các cán bộ, công chức Nhà nước thực thi đúng chức trách, nhiệm vụ,
quyền hạn của mình mà pháp luật đã quy định. Ngay trong hoạt động ban hành
các quyết định, các văn bản quản lý, nguyên tắc pháp chế cũng được thể hiện ở
việc văn bản của cơ quan cấp dưới phải phù hợp với các quy định trong các văn
bản của cơ quan cấp trên, văn bản có hiệu lực thấp hơn phải phục tùng những
văn bản có hiệu lực cao hơn và mọi văn bản pháp luật phải phù hợp với Hiến
pháp - đạo luật gốc, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Với tư cách là một chức năng
của quản lý Nhà nước, thanh tra chính là hoạt động xem xét việc làm của các cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thực hiện đúng chính sách, pháp luật hay không. Nếu
cơ quan, tổ chức, cá nhân làm sai hoặc làm chậm thì hướng dẫn sửa chữa và
thực hiện đúng quy định. Mục đích của thanh tra là phát hiện, phát huy những
nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý những vi phạm, bảo đảm để các cơ quan, tổ
chức và cá nhân tuân thủ và chấp hành đầy đủ và nghiêm túc các quy định của
Sự cần thiết quản lý nhà nước đối với các công chứng
Xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi cho các công chứng
Vai trò của Nhà nước đối với các công chứng nói riêng có ý nghĩa quan
trọng. Nhà nước ban hành chính sách hỗ trợ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các
tổ chức này phát triển, từ việc tạo môi trường hoạt động đến tạo thuận lợi trong
cấp giấy phép, từ tiếp cận thông tin đến hỗ trợ công nghệ, hỗ trợ về tín dụng và
đào tạo nguồn nhân lực. Pháp luật là công cụ chủ yếu, quan trọng nhất để nhà
nước thực hiện vai trò quản lý và điều hành xã hội. Để thực hiện tốt vai trò này,
nhà nước phải có trách nhiệm tổ chức xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ
và ổn định nhằm, một mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành viên trong xã
hội yên tâm, tích cực tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội; mặt
khác, phải bảo vệ những lợi ích chính đáng của các cá nhân, tổ chức xã hội
hướng tới công bằng và tiến bộ xã hội.
Tính đồng bộ của hệ thống pháp luật phải đảm bảo và thoả mãn được các
yêu cầu: đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, nhất quán, thông thoáng, nghiêm túc, phù
hợp với thông lệ quốc tế. Việc thành lập công chứng phải tuân theo quy định
của pháp luật và phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển công chứng do Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt.
- Phòng công chứng chỉ được thành lập mới tại những địa bàn chưa có điều
kiện phát triển được Văn phòng công chứng.
- Văn phòng công chứng thành lập tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội
khó khăn, đặc biệt khó khăn được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của
Chính phủ.
Đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các công chứng
Hiện nay, ở Việt Nam,công chứng hoạt động như một doanh nghiệp.
Mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường đang được nhìn nhận lại. Nhiều hàng