Luận văn thạc sĩ Ngôn từ hội họa trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều - Pdf 58

Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

NGÔN TỪ HỘI HỌA TRONG “CUNG OÁN NGÂM KHÚC”
CỦA NGUYỄN GIA THIỀU

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM
MÃ NGÀNH: 60.22.01.02

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Đức Thuận

HẢI PHÒNG - 2017


Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

i
LỜI CAM ĐOAN



iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... ii
MỤC LỤC............................................................................................................iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU...................................................................................v
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ....................... 11
1.1. Thơ và đặc điểm ngôn ngữ thơ .................................................................... 11
1.1.1. Quan niệm về thơ ...................................................................................... 11
1.1.2. Đặc điểm của ngôn ngữ thơ ...................................................................... 13
1.2. Giới thuyết về ngâm khúc và khúc ngâm song thất lục bát ......................... 18
1.2.1. Khái niệm ngâm khúc ............................................................................... 18
1.2.2. Tiền đề hình thành ngâm khúc .................................................................. 20
1.3. Ngôn từ hội họa ............................................................................................ 26
1.3.1. Khái niệm ngôn ngữ hội họa và đặc trưng của ngôn ngữ hội hoạ trong
ngành Mỹ thuật.................................................................................................... 26
1.3.2. Khái niệm ngôn từ hội họa trong văn chương và mối quan hệ giữa văn
chương với hội họa .............................................................................................. 26
1.3.3. Đặc trưng của ngôn từ hội họa trong văn chương trung đại ..................... 29
1.4. Vài nét về tác giả và tác phẩm “Cung oán ngâm khúc”............................... 32
1.4.1. Về tác giả ................................................................................................... 32
1.4.2. Về tác phẩm ............................................................................................... 35
Tiểu kết ................................................................................................................ 39
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN TỪ HỘI HỌA TRONG “CUNG OÁN
NGÂM KHÚC” CỦA NGUYỄN GIA THIỀU .................................................. 40
2.1. Đặc điểm cấu tạo từ của ngôn từ hội họa ..................................................... 40



v
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số hiệu

Tên bảng

bảng

Trang

1.1

Bảng phân loại các loại âm

15

1.2

Mô hình một khổ thơ song thất lục bát

24

2.1

2.2

2.3



45

46

48

49

54

57


1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Thơ là tiếng nói của cảm xúc, của tâm hồn, nhưng chất liệu để làm
nên tác phẩm văn chương nói chung và thơ nói riêng là ngôn từ nghệ thuật.
Trong thơ cổ điển, có một đặc điểm nổi trội về ngôn ngữ thơ, đó là tính hội họa.
“Thi trung hữu họa” đi cùng với “thi trung hữu nhạc” đã trở thành một phương
diện thẩm mỹ trong quan niệm của thi nhân xưa. Bài thơ được cho là đạt giá trị
nghệ thuật cao,ngoài vẻ đẹp của bố cục, tứ thơ, thanh điệu, vần luật, yêu cầuvề
ngôn ngữ trong thơ trung đại luôn phải sống động, dư ba, hàm súc và có hình
ảnh.
“Thi trung hữu họa” (trong thơ có họa) là thành ngữ chỉ sự hài hòa trong
cùng một tác phẩm thơ giữa hai loại hình nghệ thuật: thơ và họa. Khi hai loại
hình nghệ thuật thơ và họa ra đời; người ta đã nhận thấy sự gần gũi, dung hợp
với nhau giữa chúng. Hai loại hình nghệ thuật này có thể đan xen nhau trong
cùng một tác phẩm thơ và trở thành hai loại hình nghệ thuật có quan hệ mật thiết

nền văn học Việt Nam, được coi là “hạt ngọc” trong các tác phẩm văn học chữ
Nôm thuộc dòng văn học cổ điển Việt Nam. Cho nên, việc tìm hiểu tác giả
Nguyễn Gia Thiều và tác phẩm Cung oán ngâm khúc luôn có ý nghĩa và là sự
cần thiết.
1.3. Nguyễn Gia Thiều vốn là con vua, cháu chúa, xuất thân “danh gia
vọng tộc” nên ông được học hành đầy đủ, văn võ kiêm toàn, lại tinh thông nhiều
bộ môn nghệ thuật như: hội họa, âm nhạc, kiến trúc, điêu khắc, trang trí… Vì
thế, trong tác phẩm Cung oán ngâm khúc kết tinh nhiều vẻ đẹp của các loại hình
nghệ thuật. Trong đó, yếu tố hội họa là một đặc điểm cơ bản được bộc lộ trong
ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm này.
1.4. Trong chương trình Ngữ Văn hiện nay, Cung oán ngâm khúc
được đưa vào giảng dạy ở các cấp học. Do đó, việc nghiên cứu ngôn từ hội
họa trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều ít nhiều góp phần giúp
chúng tôi và đồng nghiệp nâng cao hiệu quả của việc dạy học Ngữ văn trong nhà
trường phổ thông.


3
Từ những lí do cơ bản trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Ngôn từ
hội họa trong Cung oán ngâm khúc”của Nguyễn Gia Thiều để thực hiện
luận văn này.
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
2.1. Lịch sử nghiên cứu Cung oán ngâm khúc
Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiểu ra đời vào nửa cuối thế kỉ
XVIII đến nay đã ngót 300 năm. Trong khoảng thời gian dài đó, đã có rất nhiều
vấn đề được tìm hiểu, nghiên cứu cả mặt văn bản lẫn nội dung và nghệ thuật
của tác phẩm.
Khi Cung oán ngâm khúc mới ra đời, tác phẩm được đông đảo độc giả
đón nhận và được những nho sỹ đương thời đánh giá cao. Đơn cử như Lí Văn
Phức ở thế kỉ XIX đã ca ngợi: “ Nhất thị ứng khẩu thành tụng, ngữ ngữ khả

công, thì Cung oán, quả thực là một áng văn kiệt tác: chữ dùng rất mực lọc lõi,
bảy bỏng, điển tích thâm trầm” [30,159].
Bên cạnh các công trình khảo cứu văn bản Cung oán ngâm khúc, sau này
đã xuất hiện các công trình nghiên cứu, giáo trình biên soạn phục vụ cho công
tác giảng dạy và học tập trong nhà trường phổ thông và đại học.
- Chẳng hạn, tác giả Thuần Phong khi viết về Cung oán ngâm khúc, đã
nhận xét: “Cung oán ngâm là một phương tiện mà Nguyễn Gia Thiều sử dụng
hầu diễn đạt tâm tìnhcủa mình, có nhà phê bình cho rằng Nguyễn Gia Thiều đã
hiện hình dưới làn son tàn phấn lạt của cung phi để khéo tỏ nỗi oán hờn của
mình đối với Chúa Trịnh” [42,189].
- Nhóm tác giả Lê Trí Viễn, Phan Côn, Đặng Thanh Lê, Phạm Luận,
Lê Hoài Nam trong Lịch sử Văn học Việt Nam, (T3), Nxb Giáo dục, (1978) đưa
ra ý kiến: “Viết Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều bộc lộ tư tưởng
tình cảm của mình trước cuộc đời. Đoạn từ câu 45 đến câu 116 không phải là
tâm sự của người cung nữ mà chỉ là Nguyễn Gia Thiều trực tiếp phát biểu
những cảm nghĩ của cá nhân mình” [64,86].
- Với công trình Thi pháp Truyện Kiều, trong sự đối sánh thể loại
ngâm khúc với Truyện Kiều, tác giả Trần Đình Sử viết: “Đặng Trần Côn đã
nhập vai người chinh phụ để viết Chinh phụ ngâm khúc, cũng như Nguyễn Gia


5
Thiều đã thác lời người cung nữ để nói lên cảm xúc hư huyễn về cuộc đời”
[52,79].
- Trong Cung oán ngâm khúc Ôn Như Hầu – Nguyễn Gia Thiều, Nxb
Đồng Nai, (2000), các tác giả của sách này kết luận: “Cung oán ngâm là khúc
ngâm về nỗi oán hờn của cung nhân mà Ôn Như Hầu - Nguyễn Gia Thiều đã
mượn tình cảnh này để phản ánh những bất công của chế độ phong kiến đồng
thời nói lên tâm sự, thân phận của chính mình” [24,82].
- Trong cuốn Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỉ XIX

dâng đó có được trọng đãi lâu dài hay chỉ một cuộc giải quyết nhất thời của
đấng quân vương và rồi đây hóa thân kiếp đời chim lồng cá chậu ở cửu trùng”
[34,57].
- “Quan niệm trời trong Cung oán ngâm khúc” của Vân Uyên có đoạn:
“Quan niệm về trời trong Cung oán ngâm khúc cũng như trong tâm hồn
Việt Nam có thể tóm tắt như sau: trong trời đất có hai thế giới khác nhau, một
thế giới nhìn thấy của loài người và một thế giới vô hình của các vị thần và các
linh hồn” [63,39]. Vân Uyên đã làm rõ quan niệm về hai thế giới tồn tại trong
tiềm thức người Việt được thể hiện ở Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia
Thiều.
2.2. Lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ trong Cung oán ngâm khúc
- Năm 1950, tác phẩm “Về vấn đề ngôn ngữ trong Cung oán ngâm
khúc” của nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm đã đưa ra những nhận xét và
đánh giá của tác giả về ngôn ngữ của Cung oán ngâm khúc. Ông đã chỉ ra
những thành công của Nguyễn Gia Thiều khi sử dụng từ Hán Việt: “Đó là
ngôn ngữ nhiều điển cố, giàu chất họa, uyên bác và phổ biến hơn cả lối dùng
xen kẽ từ Hán Việt với từ Việt, kết cấu theo ngữ pháp của tiếng Việt” [16,102].
- Lê Trí Viễn ngợi ca rất mực về nghệ thuật điêu luyện, công phu của
Cung oán ngâm khúc như sau: “Nghệ thuật Cung oán ngâm khúc là một thứ
nghệ thuật rất điêu luyện, rất công phu. Đi vào Cung oán ngâm khúc thật như
vào một công trình kiến trúc khá mĩ lệ. Mỗi tiếng, mỗi vẩn là một sự đẽo gọt kì
xảo” [64,389].


7
- Tiếp tục đề cập đến vấn đề này, Nguyễn Thúy Hồng trong công trình
“Hai hệ thống ngôn ngữ trong câu thơ Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia
Thiều” khẳng định: “Bên cạnh việc miêu tả cụ thể chi tiết bằng ngôn ngữ thuần
Việt thì Nguyễn Gia Thiều dùng nhiều từ láy trong tác phẩm (94 từ)”. Theo
Nguyễn Thúy Hồng: “Hệ thống từ láy của tác phẩm đã biểu đạt rất nhiều sắc

ngôn ngữ trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều có lẽ còn chưa thể
kết thúc. Tác giả luận văn nhận thấy: các công trình nghiên cứu đã ít nhiều đề
cập đến vấn đề sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm, như “chất hội
họa”, “từ láy”, “hình ảnh và nhạc điệu”, “hình ảnh trăm màu, lóa mắt, chói
chang” v.v… Tuy nhiên, chưa có một công trình nào đi tìm hiểu cụ thể về
“ngôn ngữ hội họa” trong tác phẩm Cung oán ngâm khúc một cách triệt để,
toàn diện. Trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi
muốn góp một cái nhìn toàn diện cho vấn đề này.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nhằm hướng đến những mục đích
sau:
3.1. Tìm hiểu lý thuyết về hội họa và ngôn từ hội họa trong sáng tác văn
chương thời trung đại.
3.2. Thống kê, khảo sát, định lượng tác phẩm qua 356 dòng thơ để phân
loại và xác định đặc điểm ngôn từ hội họa trong Cung oán ngâm khúc thể hiện
ở các phương diện cấu tạo của từ: từ đơn, từ láy, từ ghép,..; từ loại: danh từ,
tính từ…; nguồn gốc của từ: từ Hán Việt, từ Thuần Việt,…
3.3. Tìm hiểu đặc điểm của ngôn từ hội họa trong tác phẩm Cung oán
ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều trên phương diện cấu tạo từ, từ loại,... để từ
đó nhận thức sâu thêm được giá trị nghệ thuật trong việc sử dụng ngôn từ của
nhà thơ.
3.4. Xác định giá trị của ngôn từ hội họa trong việc hình thành ngôn từ thơ
của Nguyễn Gia Thiều trong tác phẩm Cung oán ngâm khúc.
Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát, phân tích ngôn từ hội họa trong tác
phẩm Cung oán ngâm khúc, luận văn tạo cơ sở để tìm hiểu sâu hơn nền văn
học cổ điển, đồng thời thấy được sự chi phối và ảnh hưởng của nó đối với văn


9
học ở thời kỳ sau, nhằm phục vụ tốt hơn cho việc giảng dạy phần văn học trung

10
6. Đóng góp của luận văn
6.1. Là công trình đầu tiên khảo sát Ngôn từ hội họa trong Cung oán
ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều một cách toàn diện, góp phần khẳng định
đây là một trong những yếu tố cơ bản, quan trọng hình thành nên phong cách
ngôn ngữ nghệ thuật của nhà thơ.
6.2. Với nội dung nghiên cứu như đã nêu trên, có thể gợi mở hoặc làm
sáng tỏ ít nhiều hướng tiếp cận mang tính hữu hiệu từ Ngôn từ hội họa trong
Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, để có thể nghiên cứu ở những đề
tài khác dưới ánh sáng của ngôn ngữ học đối với tác phẩm này.
6.3. Tác phẩm không chỉ được nhiều bạn đọc yêu thích, mà còn được
đưa vào chương trình giảng dạy ở các cấp học từ phổ thông đến đại học. Kết
quả của luận văn không chỉ có ý nghĩa thiết thực đối với người viết, mà nếu
bảo vệ thành công, luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo,
giúp cho việc dạy - học tác giả, tác phẩm này trong nhà trường được tốt hơn.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 chương
chính văn:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Đặc điểm ngôn từ hội họa trong tác phẩm Cung oán ngâm
khúc của Nguyễn Gia Thiều
Chương 3: Giá trị ngôn từ hội họa trong tác phẩm Cung oán ngâm khúc
của Nguyễn Gia Thiều


11
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Thơ và đặc điểm ngôn ngữ thơ
1.1.1. Quan niệm về thơ

cảm của con người.
- Ở Ấn Độ, nhà thơ, triết gia nổi tiếng R.Tagor cho rằng: “Thơ dạy người ta
cảm nhận đời sống một cách tinh tế và sâu sắc. Thơ mở rộng và nâng cao tâm
hồn người đọc. Thơ giáo dục con người về cái đẹp” [14,79]. Tagor đề cập đến
giá trị giáo dục của thơ. Đó là một trong những giá trị quan trọng, có tác động
mạnh mẽ tới tâm hồn người đọc và làm thay đổi tư tưởng, cảm xúc của người
đọc.
- Nhà thi pháp học Nga M. Bakhin cho rằng: “Thơ là tiếng nói độc bạch,
chẳng hạn một bài thơ diễn đạt một nỗi oán thán, một niềm vui, một nỗi nhớ,
một suy tưởng” [54,121]. Quan niệm này nhấn mạnh cái tôi trữ tình trong thơ.
- Nhà thơ Pháp A. Lamartine cho rằng: “Thơ là hiện thân của những gì
thầm kín nhất của con tim và thiêng liêng nhất của tâm hồn con người và cho
những hình ảnh tươi đẹp nhất, âm thanh huyền diệu nhất của thiên nhiên”
[46,203].
- Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) quan niệm:“Cái gọi là thơ
thì không phải láu lưỡi trong tiếng sáo, chơi chữ dưới ngòi bút thôi đâu, mà là
để ngâm vịnh tính tình, cảm động mà phát ra chí nữa…” [49,97]. Theo Nguyễn
Bỉnh Khiêm, thơ là kết tinh của cảm xúc và nghệ thuật, là biểu hiện của đạo đức
và ý chí. Thơ thể hiện khát vọng sống, thể hiện cảm xúc và nỗi lòng của con
người.
- Nhà thơ Phan Ngọc từng phát biểu: “Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức
quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc, và phải suy nghĩ do
chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này” [37,98]. Qua phát biểu “lạ” này, Phan
Ngọc muốn đề cao giá trị của ngôn từ trong thơ. Ngôn từ trong thơ phải được
chắt lọc, gọt rũa tỉ mỉ để đạt tới sự kết tinh giữa cảm xúc và lý trí.


13
- Nhà thơ Chế Lan Viên quan niệm: “Thơ là một sản phẩm của tâm hồn, trí
tuệ con người…Thơ phải xuất phát từ thực tại, từ đời sống, nhưng phải đi qua

thứ 6 của câu lục tiếp theo. Trong câu bát, tiếng 6 và tiếng 8 tuy cùng vần bằng
nhưng một tiếng có dấu huyền và một tiếng không có dấu.
Ví dụ:
…Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Ðông
Một người chín nhớ mười mong một người.
Gió mưa là bệnh của trời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng…
(Tương tư, Nguyễn Bính)
- Thơ song thất lục bát: Cũng là một thể thơ đặc biệt của Việt Nam, gồm hai
câu bảy chữ và hai câu lục bát. Trong câu thất trên, tiếng thứ 3 là trắc, tiếng thứ
5 là bằng, tiếng thứ 7 là trắc; trong câu thất dưới, tiếng thứ 3 là bằng, tiếng thứ 5
là trắc, tiếng thứ 7 là bằng. Hai câu lục bát theo luật thường lệ. Tiếng cuối câu
thất trên vần với tiếng thứ 5 câu thất dưới, tiếng thứ 7 câu thất dưới vần với
tiếng thứ 6 câu lục, tiếng thứ 6 câu lục vần với tiếng thứ 6 câu bát. Và tiếng thứ
8 câu bát vần với tiếng 5 của câu thất khổ tiếp theo. Tuy nhiên, tiếng cuối câu
bát cũng có thể vần với tiếng 3 câu thất, biến tiếng này đổi sang vần bằng.
Ví dụ:
…Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
Thành liền mong tiến bệ rồng,
Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.
(Bản dịch Chinh phụ ngâm, Đoàn Thị Điểm)
- Thơ tự do:
+ Về hình thức: Số chữ trong mỗi câu và số câu, số khổ trong mỗi bài thơ
không giới hạn. Không có những khái niệm về niêm, luật, đối. Không có những
quy định về vần, nhịp.
+ Về nội dung: Thường có nhiều âm thanh, hình tượng, màu sắc đa dạng
và phong phú, biểu thị bởi cách dùng từ mới lạ, mang tính cách tân, không hàm
chứa những hình ảnh cũ kỹ, xáo mòn. Thậm chí, những từ chỉ những vật thể


Dấu chỉ thanh

không có dấu
dấu huyền

phù thượng

Trắc

thanh

dấu ngã

(~)

trầm thương

dấu hỏi

(?)

thanh

dấu sắc

(')

phù khứ thanh

dấu nặng

Khi nói tới đặc trưng ngữ âm trong thơ là ta nói tới cách sử dụng các
nguyên âm, phụ âm và cách tổ chức thanh điệu, nhịp điệu. Tiếng Việt có số
lượng lớn các nguyên âm và phụ âm cũng như có sự phong phú về thanh điệu.
Các yếu tố vần, nhịp và hài thanh là những yếu tố quan trọng tạo nên tính nhạc
cho thơ. Tính nhạc trong thơ được tạo nên bởi cách tổ chức độc đáo và chặt chẽ
về mặt ngữ âm của ngôn ngữ. Chính tính nhạc là đặc điểm nổi bật để phân biệt
thơ với văn xuôi và tạo nên sự gắn bó, sự gần gũi giữa thơ với nhạc. Thơ phản
ảnh cuộc sống qua những rung động của tình cảm. Thế giới nội tâm của nhà thơ
không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà bằng cả âm thanh, nhịp điệu
của từ ngữ ấy. Vì thế, có thể xem tính nhạc là nét đặc thù của thơ. Nhạc tính là
nét duyên làm nên vẻ đẹp của thơ, là yếu tố tạo mĩ cảm cho người đọc: “Ly khai
với nhạc tính, thơ chỉ còn là một nhan sắc trơ trẽn thiếu duyên” [61, 73]. Thơ
bao giờ cũng là sự kết hợp hài hòa giữa ý và nhạc. Nếu “rơi vào cái vực ý thơ
thì sẽ sâu nhưng rất dễ khô khan. Rơi vào cái vực nhạc thì thơ dễ làm say lòng
người nhưng dễ nông cạn” (Chế Lan Viên) [62, 90]. Như vậy, nhạc tính là tiếng
nói linh diệu của thi ca, gợi thức trí tưởng tượng của người đọc, nói như La
Fontaine: “Chẳng có thơ nào không có nhạc” [32, 73]. Bất cứ ngôn ngữ nào
giàu nhịp điệu, phong phú về cách hòa âm, tiết tấu, giàu từ láy âm, tượng hình,
chính là thứ ngôn ngữ giàu tính nhạc. Bởi vậy, thật dễ hiểu khi có nhiều bài thơ
được phổ nhạc và được đông đảo người nghe yêu thích.


17
1.1.2.3. Về từ vựng
Thơ là biểu hiện tập trung nhất tính hàm súc của ngôn ngữ. Ngôn ngữ thơ
được các nhà thơ sử dụng theo quy luật chất thống trị lượng. Từ ngữ trong thơ
mang nội dung ý nghĩa rất lớn. Và nghĩa mà từ biểu thị không chỉ dừng lại ở
nghĩa bề ngoài (nghĩa đen, hiển ngôn), mà còn chứa đựng những nghĩa sâu xa
khác (nghĩa bóng, hàm ngôn) để thể hiện nội dung tư tưởng, cũng như những
trạng thái cảm xúc khác nhau của tác giả.

Trong văn học Việt Nam, vào thế kỉ XIV có tác phẩm mang tên ngâm
sớm nhất là: Phóng cuồng ngâm của Trần Quốc Tảng. Thế kỷ XV xuất hiện bài
thơ Chinh phụ ngâm của Thái Thuận (1441 - ?), làm theo thể thất ngôn bát cú
Đường luật trong tập Lã Đường di cảo. Đến đầu thế kỷ XVIII có Tiếu dao ngâm
của Ngô Thì Ức làm theo lối ngũ ngôn cổ phong. Những tác phẩm này đều viết
bằng chữ Hán. Từ giữa thế kỉ XVIII trở đi, có bài diễn âm Chinh phụ ngâm của
Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748), Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều
(1741 – 1789), Ai tư vãn của Lê Ngọc Hân (nửa cuối thế kỷ XVIII). Một số văn
bản tiêu đề có chữ ngâm, vãn, thán được viết bằng chữ Hán và các thể thơ khác
như Đông gia ngâm của Nguyễn Hành (cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỳ XIX),
Cao Bá Quát với bốn bài Khuê oán, Đông vũ ngâm.
Ở đây, chúng tôi chỉ đi tìm hiểu khúc ngâm song thất lục bát gắn với đối
tượng nghiên cứu là khúc ngâm Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều.
Như vậy ngay từ tên thể loại đã giới thiệu, trong nhan đề có chữ ngâm, vãn,
thán,... phải được viết theo thể song thất lục bát và bằng ngôn ngữ dân tộc (chữ
Nôm hoặc chữ quốc ngữ). Thuộc về số này, theo tư liệu còn lại đến nay cho
thấy, mở đầu là bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, kế đó là
Cung oán ngâm khúc, Ai tư vãn. Các tác phẩm đó được các nhà nghiên cứu gọi
chung là ngâm khúc, song bản thân nội hàm khái niệm chưa thống nhất. Chúng
ta cùng điểm lại các quan niệm về ngâm khúc.
Đưa ra khái niệm về thể loại sớm nhất có lẽ là Dương Quảng Hàm. Trong
Văn học Việt Nam văn học sử yếu, ông viết “ Ngâm là một bài văn vần tả những
tình cảm ở trong lòng, thứ nhất là những tình buồn sầu, đau, thương. Các khúc
ngâm trong ta vẫn làm theo thể song thất lục bát” [17, 302]. Sau đó, khi chú giải


19
Cung oán ngâm khúc, Lê Văn Hòe cũng phát biểu quan niệm về ngâm khúc:
“Ngâm là văn vần làm theo thể song thất lục bát hoặc xenm lẫn câu dài, câu
ngắn có khi giống hệt thể ca chỉ khác ở ý nghĩa (buồn than) và ở cách đọc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status