Tư tưởng nho phật đạo trong cung oán ngâm khúc của nguyễn gia thiều - Pdf 29


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN NGUYỄN THỊ TÌNH
TƢ TƢỞNG NHO - PHẬT - ĐẠO
TRONG CUNG OÁN NGÂM KHÚC
CỦA NGUYỄN GIA THIỀU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Th.S NGUYỄN THỊ VIỆT HẰNG Nguyễn Thị Tình
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lí do lựa chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích nghiên cứu 4
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Cấu trúc khóa luận 5
NỘI DUNG 6
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 6
1.1. Bối cảnh xã hội và tư tưởng giai đoạn thế kỉ XVIII – nửa đầu thế
kỉ XIX 6
1.1.1. Bối cảnh chính trị 6
1.1.2. Bối cảnh tư tưởng, tôn giáo 7
1.2. Tác giả Nguyễn Gia Thiều 10
1.3. Cung oán ngâm khúc 12
Chương 2. SỰ THỂ HIỆN TƯ TƯỞNG NHO - PHẬT - ĐẠO TRONG
CUNG OÁN NGÂM KHÚC 13
2.1. Tư tưởng Nho giáo 13
2.2. Tư tưởng Phật giáo 24
2.3. Tư tưởng Đạo giáo 32
2.4. Sự dung hòa Nho - Phật - Đạo 37
KẾT LUẬN 43

hiện, từ đề tài, nội dung tư tưởng đến hình thức thể hiện.
2

Với đề tài này, người viết có điều kiện tiếp cận sâu sắc một tác phẩm
văn học cụ thể và tập trung làm công tác nghiên cứu khoa học. Điều đó rất có
ích cho người giáo viên văn học.
2. Lịch sử vấn đề
Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều ra đời vào nửa cuối thế kỉ
XVIII, trong khoảng thời gian dài đó, đã có rất nhiều vấn đề được tìm hiểu,
nghiên cứu trên cả mặt văn bản lẫn nội dung, nghệ thật của tác phẩm.
Khi Cung oán ngâm khúc mới ra đời, tác phẩm được đông đảo bạn
đọc đón nhận và được giới nghiên cứu đánh giá cao. Lý Văn Phức ca ngợi
“Nhất thị ứng khẩu thành tụng, ngữ ngữ khả nhân, nhất thị thiên đoàn bách
luyện, ngữ ngữ kinh nhân” (một là lời ra nói thành câu khen ngợi, lời lời
người thích nghe. Một là trăm nghìn lần nung luyện, lời lời đều khiến người
nghe phải sợ) [21; 68].
Năm 1950, tác phẩm Về vấn đề ngôn ngữ trong Cung oán ngâm khúc
của nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm đã đưa ra những nhận xét đánh giá
của tác giả với ngôn ngữ của Cung oán ngâm khúc. Tác giả đã chỉ ra những
thành công về ngôn ngữ khi diễn tả tâm trạng của người cung nữ đồng thời
cho thấy tài năng của Nguyễn Gia Thiều khi đi sử dụng từ Hán Việt. Đó là
ngôn ngữ nhiều điển cố khúc mắc, uyên bác và phổ biến hơn cả là lối dùng
xen kẽ từ Hán Việt với từ Việt, kết cấu theo ngữ pháp của tiếng Việt.
Năm 1953, cuốn sách Cung oán ngâm khúc hiệu đính chú giải của các
nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Phách, Lê Thước, Vũ Đình Liên đã đề cập đến
vấn đề nhân đạo sâu sắc trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều.
Tác phẩm diễn tả một cách mạnh mẽ, sâu sắc những nỗi đau của người cung
nữ nói riêng và của người phụ nữ nói chung dưới chế độ phong kiến không
chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước khác.
Năm 1978, trong cuốn văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII – nửa

4

hàng loạt những ý kiến đánh giá, những bài nghiên cứu. Tác giả khóa luận
nhận thấy: các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đã chỉ ra giá trị
nội dung và nghệ thuật của Cung oán ngâm khúc và ít nhiều cũng động chạm
đến vấn đề tư tưởng tôn giáo trong tác phẩm. Tuy nhiên chưa có một công
trình nào đi tìm hiểu về tư tưởng mà cụ thể là tư tưởng Nho – Phật – Đạo
trong Cung oán ngâm khúc một cách toàn diện, triệt để. Trên cơ sở tiếp thu
những ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước, người làm khóa luận muốn góp
một cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.
3. Mục đích nghiên cứu
Trong phạm vi khóa luận này, người viết đi vào nghiên cứu vấn đề “sự
dung hòa Nho – Phật – Đạo trong Cung oán ngâm khúc. Trong quá trình
nghiên cứu người viết có so sánh với một số tác phẩm Nôm khác như Chinh
phụ ngâm khúc (Đoàn Thị Điểm), Truyện Kiều (Nguyễn Du) để chỉ ra sự độc
đáo của Cung oán ngâm khúc.
Mặt khác, với đề tài này người viết nhằm mục đích nghiên cứu sự đóng
góp của Nguyễn Gia Thiều, đặc biệt là thể loại ngâm khúc từ đó khẳng định
vai trò, vị trí của ông trong nền văn học dân tộc.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là tác phẩm Cung oán ngâm khúc
của Nguyễn Gia Thiều. Người viết chọn văn bản khảo cứu Nguyễn Gia Thiều
– Cung oán ngâm khúc, NXB Văn học, 2007.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài này, người viết đi vào nghiên cứu tư tưởng Nho –
Phật – Đạo và sự dung hòa ba tư tưởng trên.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, khoá luận sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau:

nông dân nổ ra và phát triển sâu rộng ở cả miền núi và miền xuôi. Trong đó
có những cuộc khởi nghĩa thu hút hàng vạn người tham gia và kiên cường bền
bỉ đấu tranh chống lại áp bức cường quyền. Trong vòng 30 năm đầu thế kỉ
XVIII, chính quyền Đàng Ngoài phải đối phó với hàng chục cuộc nổi dậy,
tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của: Lê Duy Mật (1738- 1770), Hoàng Công
Chất (1739-1769), Nguyễn Danh Phương (1740-1751), Nguyễn Hữu Cầu
(1741-1751) Tuy nhiên các phong trào nông dân có những hạn chế cơ bản
là ngoài sự bất bình phản kháng lại chính quyền cai trị, họ không đưa ra được
các chương trình cải cách nào và bản chất cố hữu của người nông dân nên họ
không có sự liên kết thống nhất. Vì thế, các phong trào đều bị đàn áp, thất bại.
Sau một thời kì phát triển, xã hội Đàng Trong cũng không thoát khỏi
khủng hoảng vào nửa sau thế kỉ XVIII. Do nền kinh tế thương nghiệp nhất là
ngoại thương nên chúa Nguyễn phải tăng cường vơ vét, bóc lột nhân dân để
7

bù vào khoảng chi tiêu của giai cấp thống trị. Nạn tiền kẽm mất giá làm trầm
trọng thêm muẫn thuẫn này.
Sự bất bình của mọi tầng lớp nhân dân đã hội tụ dưới ngọn cờ khởi
nghĩa của anh em Tây Sơn. Phong trào Tây Sơn nổ ra đã nhanh chóng lật đổ
chính quyền ở Đàng Trong, đánh tan quân xâm lược nhà Xiêm. Phong trào
Tây Sơn đạt tầm cao mới trở thành lực lượng đại diện cho lợi ích dân tộc. Với
sức mạnh đó phong trào Tây Sơn đã xóa bỏ ách thống trị họ Trịnh thống nhất
đất nước. Tiếp sau đó, Tây Sơn đại phá 29 vạn quân Thanh (1789), tuy nhiên
sự ra đi quá sớm của Nguyễn Huệ đã làm cho những người kế tục ông không
đủ sức gánh vác sứ mệnh dân tộc.
Được sự giúp đỡ của các thế lực bên ngoài, lợi dụng sự yếu kém của
triều Tây Sơn sau khi Quang Trung qua đời, Nguyễn Ánh đã giành được
thắng lợi vào năm 1802, lập ra triều Nguyễn. Mặc dù, triều đình có nhiều cố
gắng trong việc ổn định tình hình đất nước nhưng chính sách của nhà Nguyễn
chủ yếu chỉ tập trung vào việc củng cố quyền lực vương triều.Tiếng súng của

Tả tơi xem hội
Bối rối xem đám ma
Bỏ cửa bỏ nhà mà đi nghe giảng thập điều
Và thực tế là những cố gắng ấy cũng không đem lại kết quả như nhà
Nguyễn mong muốn. Một số nhà nho bế tắc thực sự như Nguyễn Du đã từng
thốt lên:
Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên
Xuân lan thu cúc thành hư sự
Hạ thử đông hàn đoạt thiếu niên
Phật giáo giai đoạn này có sự hồi sinh trở lại. Mặc dù đất nước bị chia
cắt thành Đàng Trong và Đàng Ngoài nhưng Phật giáo vẫn phát triển và tiếp
9

tục ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống của nhân dân. Chúa Nguyễn ở Đàng
Trong sau khi vào trấn thủ đất Thuận Hóa đã cho xây dựng các chùa Thiên Mụ,
chùa Bảo Châu, Kính Thiên, Có thể thấy chúa Nguyễn muốn lấy đạo Phật
làm chỗ dựa tinh thần cho việc củng cố địa vị của dòng họ. Nhân dân Đàng
Trong cũng rất hào hứng khi đón các vị du tăng từ Trung Quốc sang. Chúa
Nguyễn chủ chương lấy tinh thần Phật giáo định hướng cho đời sống dân tộc.
Phật giáo ở Đàng Ngoài tuy không phổ biến như ở Đàng Trong nhưng vẫn có
những ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân. Khi thống nhất đất nước, vua
Quang Trung có quan tâm tới việc chấn hưng đạo Phật, xuống chiếu chỉnh đốn
việc cất chùa, xây dựng các chùa lớn, chọn các tăng nhân có học thức và đạo
đức trông coi chùa. Như vậy Phật giáo giai đoạn này đã có sự phát triển trở lại
và tác động đến mọi mặt của đời sống, xã hội.
Bên cạnh sự phục hồi của Phật giáo thì Đạo giáo cũng từng bước được
ổn định và phát triển. Nhiều đàn phụ tiên được xây dựng, nhiều nhà nho đã lập
đàn phụ thiên tại tư gia. Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền (1868- 1925) khi
làm đốc học ở Ninh Bình đã từng lập đàn phụ thiên ngay tại công đường. Các

giải quyết việc nhà Thanh chiếm đất của ta ở miền Tây cùng một số vụ nổi dậy
của thổ hào địa phương. Đầu năm 1873, ông được lệnh về Thăng Long.
Như vậy, từ lúc sinh ra tới năm 40 tuổi Nguyễn Gia Thiều sống trong
phủ chúa Trịnh. Đây cũng là thời kì triều đình vua Lê chúa Trịnh có nhiều
biến cố dữ dội, chứng tỏ sự sa đọa đến cùng cực của tập đoàn phong kiến
thống trị đương thời. Hàng loạt các biến cố liên tiếp xảy ra, vua Trịnh Cương
lấn quyền vua Lê, Trịnh Giang giết Lê Duy Phương và giết cả Nguyễn Công
Khoán tham tụng Lê Anh Tuấn và Quý Thích Trương Nhương. Mâu thuẫn gia
tộc sâu sắc, Trịnh Sâm giết em là Trịnh Đệ, Hoàng Ngũ Phúc giết thái tử Lê
Duy Vỹ. Cuối đời Trịnh Sâm mê Đặng Thị Huệ phế con trưởng, lập con thứ
11

sinh ra bè đảng trong phủ chúa. Nạn kiêu binh hoành hoành ở khắp nơi. Lúc
này Nguyễn Gia Thiều tuy có được thăng chức nhưng ông bị đẩy đi trấn giữ
Hưng Hóa, một miền núi xa xôi khiến ông hết sức thất vọng, chán nản.
Năm 1786, trở đi Nguyễn Gia Thiều sống trong hoàn cảnh quyết liệt và
gay gắt hơn trước. Ông tận mắt chứng kiến những cảnh tượng hết sức đau
lòng. Đó là cảnh Lê Chiêu Thống dựa thế Nguyễn Hữu Chỉnh đốt sạch cơ
nghiệp của chúa Trịnh, cảnh Trịnh Tông chạy trốn Tây Sơn bị tên tuần huyện
Trang phản bội nên phải tự tử, Lê Chiêu Thống chạy trốn Tây Sơn bị Nguyễn
Cảnh Thước trấn sách vàng bạc sau đó lột cả chiếc áo ngự bào vua đang mặc.
Đối với bản thân Nguyễn Gia Thiều, ông phải “giả điên, giả dại uống rượu giả
chết”, suốt nhiều năm liền ông sống trong tâm trạng hối tiếc quá khứ, tuyệt
vọng về hiện tại và tương lai. Có thể nói thế giới quan bị tác động bởi thời đại
và hoàn cảnh đã chi phối rõ rệt đến sáng tác của ông, các tác phẩm thấm đẫm
tư tưởng tôn giáo đương thời.
Bên cạnh đó Nguyễn Gia Thiều là một tài năng đa dạng. Ông nổi tiếng
là người thông minh, học rộng, văn võ toàn tài. Theo các tài liệu cũ để lại,
ngoài hiểu biết sâu rộng các lĩnh vực văn học, sử học, triết học, Nguyễn Gia
Thiều còn am hiểu nhiều môn nghệ thuật khác như: hội họa, âm nhạc, kiến

cũng vọng từ nơi ấy ra. Viết về họ trái tim người nghệ sĩ cũng đau đớn, xót
xa. Giá trị nhân văn cũng từ đó vang vọng mãi.
Cung oán ngâm khúc tiêu biểu cho loại tác phẩm có nhiều chủ đề cùng
tồn tại. Ở đó là chủ đề về người quý tộc thất thế và chủ đề người cung nữ bị
thất sủng cùng đan xen tạo nên âm hưởng buồn “réo rắt” và tạo nên sức hấp
dẫn riêng cho tác phẩm.

13

Chƣơng 2
SỰ THỂ HIỆN TƢ TƢỞNG NHO - PHẬT - ĐẠO
TRONG CUNG OÁN NGÂM KHÚC

2.1. Tƣ tƣởng Nho giáo
Lịch sử tư tưởng Việt Nam cho thấy Nho giáo tuy có mặt ở nước ta từ
rất sớm nhưng phải đến thời Lý nó mới chính thức được tiếp nhận bằng việc
xây dựng Văn miếu thờ Khổng Tử, tổ chức thi cử, dựng Quốc Tử Giám
Sang đến thời Trần, Nho sĩ mới thực sự được nắm quyền, và phải đến thời
Hậu Lê tôn giáo này mới được coi là quốc giáo và sử dụng như một công cụ
đắc lực cho việc cai trị đất nước. Do các triều đại phong kiến tiếp thu và sử
dụng có mục đích nên Nho giáo có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực
đặc biệt nhất là văn học, nó giúp các nhà thơ, nhà văn thể hiện, giãi bày tình
cảm của mình trước vận mệnh đất nước, cuộc sống xã hội đương thời. Tiếp
xúc với những tác phẩm văn học trung đại đặc biệt là Cung oán ngâm khúc
của Nguyễn Gia Thiều ta sẽ thấy sự xuất hiện đậm nét của yếu tố Nho giáo.
Hai thế kỉ XVIII và XIX khi tư tưởng Nho giáo được phục hồi thì các
quan điểm của nó cũng được triều đình phong kiến sử dụng để củng cố quyền
lực và ổn định xã hội. Quan niệm về người phụ nữ, về chữ “trung” của Nho
giáo được đề cao nên văn học giai đoạn này đã có nhiều tác phẩm lên tiếng
bênh vực người phụ nữ, lên tiếng bảo vệ hạnh phúc cá nhân. Nguyễn Gia

Sắc đẹp cung phi làm lu mờ nhan sắc của nàng Tây Thi, Hằng Nga,
những giai nhân tuyệt sắc trong lịch sử. Không chỉ có nhan sắc tuyệt vời,
người cung nữ còn có tài năng xuất chúng, ở nàng tập trung đầy đủ tài nghệ
của tao nhân mặc khách: cầm, kì, thi, họa và giỏi cả uống rượu. Điều đặc biệt
là tài nghệ nào cũng trội hơn hết thảy những nghệ sĩ, tài tử trứ danh nhất trong
15

lịch sử. Thơ hay hơn Lí Bạch, vẽ đẹp hơn Vương Duy, đàn hay hơn cả Tư Mã
Tương Như, thổi sáo tài hơn Tiêu Sử, cờ cao như Đế Thích, uống rượu như
Lưu Linh, lại ca vũ tuyệt xảo hơn cả bầy nghê thường vũ trên cung trăng. Để
miêu tả vẻ đẹp của người cung nữ, Nguyễn Gia Thiều đã sử dụng bút pháp
nghệ thuật tượng trưng đậm nét, tất cả đều mang màu sắc ước lệ, được phóng
đại, mĩ hóa và cách điệu. Có lẽ cũng xuất phát từ quan niệm cố hữu của Nho
giáo mà cả Thúy Kiều và nàng cung nữ đều có một nhan sắc khiến vạn vật
ganh tị, khiến nàng không thể thoát khỏi kiếp “hồng nhan bạc mệnh” do sự đố
kị của chữ “tài” chữ “mệnh” – hai thái cực mà theo Nho giáo chẳng bao giờ
có sự song hành.
Với vẻ đẹp và tài năng như vậy người cung nữ có thể tin tưởng vào
cuộc sống hạnh phúc của mình sau này. Ta thấy rõ sự tự ý thức của nàng:
Câu cẩm tú đàn anh họ Lý
Nét đan thanh bậc chị chàng Vương
Cờ tiên rượu thánh ai đang?
Lưu Linh Đế Thích là làng tri âm
Cầm điểm nguyệt phỏng tầm tư mã
Sáo lầu thu lạ gã tiêu lang
Dẫu mà tay múa miệng dang
Thiên tiên cũng ngảnh nghê thường trong trăng.
Ta có thể bắt gặp vẻ đẹp ấy, tài năng ấy ở nàng Kiều:
Làn thu thủy nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh

đơn, sầu tủi, oán hờn đau đớn đến tột cùng với kẻ đã gây ra thảm cảnh này.
Bị bỏ quên trong lãnh cung, nàng chợt nhận ra bản chất của kẻ bạc tình.
Đuốc vương giả chỉ tôn là thế
Chẳng soi cho đến khóe âm nhai.
17

Cung phi hiểu rằng sai lầm lớn nhất của đời nàng là sự ngộ nhận về đức
chung tình của đấng quân vương. Có lẽ vì thỏa mãn cuộc sống cuộc sống ân
ái với nhà vua trong khoảnh khắc mà người cung nữ tội nghiệp đã bị đánh lừa.
Nàng nguyện là người tình chung thủy của bậc đế vương.
Chữ đồng lấy đấy làm chi
Mượn điều thất tịch mà thề bách niên.
Nhưng nàng không biết đòi hỏi sự chung tình của một vị vua chỉ là ảo
tưởng, hão huyền. Thật thương xót khi nàng nhận ra rằng:
Khoảnh làm chi bấy chúa xuân
Chơi hoa cho rữa nhị dần lại thôi
Cùng với sự “ruồng rẫy” của đấng chí tôn, nàng bị đẩy vào tình cảnh
xót xa “thân này nước chảy hoa trôi”. Nàng thấm thía nỗi đau, nếm sự bẽ
bàng rồi đến tuyệt vọng.
Ví sớm biết lòng trời đeo đẳng
Dẫu thuê tiền cũng chẳng mang tình
Nghĩ mình lại ngán cho mình
Cái hoa đã trót gieo cành biết sao
Sự nghiệt ngã của chế độ phong kiến cùng những luật lệ hà khắc của nó
đã biến cuộc đời tài sắc của cung phi trở thành trò đùa trong đấng quyền uy.
Họ làm vợ mà không phải làm vợ. Cả cuộc đời họ bị giam chặt trong bốn bức
tường tiêu lạnh ngắt, danh tiếng cung phi sẽ trở thành oan nghiệt đeo đẳng
suốt đời. Họ không bao giờ có quyền được quay về làm thân phận thường dân
để có thể làm lại cuộc đời mà cứ phải tồn tại để ôm cái hạnh phúc hư ảo, mãi
mãi làm phi tần. Người cung nữ chỉ có thể chấp nhận số phận mà thôi, bởi

Nghĩ mệnh bạc tiếc niên hoa
Gái tơ mấy chốc xảy ra nạ dòng
19

Người cung nữ cũng vậy, nàng thoảng thốt trước thời gian, sợ hãi trước
số phận:
Hoàng hôn rồi lại hôn hoàng
Nguyệt hoa thôi lại thêm buồn nguyệt hoa
Buồn vì nỗi nguyệt tà, ai trọng?
Buồn vì điều hoa rụng, ai nhìn?
Với tâm trạng như vậy, người cung nữ không héo mòn sao được, xót
thương thay cái cảnh: “nghiêng bình phấn mốc mà dồi má deo”. Nỗi đau như
được nhân lên gấp bội trước sự thật phũ phàng khi con người nhận ra những
giá trị của mình đang mất dần theo năm tháng. Đó là sự ý thức về tuổi trẻ,
hạnh phúc vĩnh viễn mất đi không bao giờ quay trở lại.
Bừng tỉnh sau giấc mộng hư vô về cuộc sống ái ân, người cung nữ tự
vấn nguồn cơn sự thật nhưng không thể tìm ra lời đáp. Nàng tự nhận mình là
“là người vị vong” (người đàn bà góa chồng):
Ai ngờ bỗng một năm một nhạt
Nguồn cơn kia ai tát mà vơi?
Suy di đâu biết cơ trời
Bỗng không mà hóa ra người vị vong!
Người chồng nàng thật đáng mỉa mai - đức quân vương vẫn còn đang
sống và hưởng lạc thú cùng những người đẹp khác nơi “cái én ba ngàn”. Nỗi
oán hận bật thành tiếng:
Vốn đã biết cái thân câu chõ
Cá no mồi cũng khó dử lên
Lời thơ không chỉ phạm thượng bất kính mà còn chứa đựng sự oán thù
sâu sắc, bởi mĩ nhân coi việc lấy vua như “câu chõ”, thất kính hơn, nàng ví
vua như cá no mồi khó dử. Thời bấy giờ Nguyễn Gia Thiều dám hạ bút viết

phong kiến khi đàn ông có thể năm thê bảy thiếp con người phụ nữ chính
21

chuyên chỉ có một chồng. Chính vì thế mà có hàng ngàn cung nữ bị bắt vào
cung rồi để họ chết úa theo thời gian. Cho nên, vái bi thảm của hiện tại thật vô
lí, sự bất bình này ở “khách quần hoa” đã bật thành khát vọng giải phóng. Mĩ
nhân muốn đạp tung mọi xiềng xích chốn thâm cung.
Đang tay muốn dứt tơ hồng
Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra.
Cung phi muốn dứt đứt sợi dây tơ hồng đã buộc mình với quân vương.
Ý thức phản khánh mạnh mẽ, nàng muốn chống lại số phận để giải thoát bản
thân khỏi chốn tiêu phòng tăm tối. Đằng sau thái độ, giọng điệu mạnh mẽ ấy
là xu thế của một thời đại, một võ tướng đang u uất nỗi bất mãn như nhà quý
tộc Nguyễn Gia Thiều. Như vậy ta thấu hiểu thêm phần nào nỗi thất vọng
cùng cực của người cung nữ. Vì thất vọng nên kiếp hồng nhan mới có ý tưởng
liều lĩnh chống lại quan niệm Nho giáo, chống lại chế độ phong khiến.
Cũng giống như người quý tộc thất thế, người cung nữ nhận ra sự giả
dối của vinh hoa phú quý, công danh quyền lực
Miếng cao lương phong lưu nhưng lợm
Mùi hoắc lê thanh đạm mà ngon
Người cung nữ mơ ước một cuộc sống bình dị chốn thôn quê, tuy
nghèo khổ nhưng ấm áp tình nghĩa
Thà rằng cục kịch nhà quê
Dẫu lòng nũng nịu nguyệt kia hoa này.
Khát vọng có một cuộc sống như bao người phụ nữ khác, một gia đình
thật sự khi vợ chồng con cái xum vầy. Đây không chỉ là ước muốn của
Nguyễn Gia Thiều mà còn là ước muốn của cả một lớp trí thức bấy giờ. Xã
hội rối ren không có kỉ cương, một tâm trạng bế tắc như vậy con người ta
muốn thoát ra nhưng không thể, để thấy xã hội Việt Nam thế kỉ XVIII bế tắc,
khủng hoảng đến nhường nào. Dù có thương cảm cho kiếp người hay oán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status