Ọ QU
TRƢ N
Ọ
O
N
Ọ
V N
NV N
N UYỄN T ÙY DUN
DUNG THÔNG NHO – P ẬT –
TƢ TƢỞN
O TRON
Ủ N Ô T Ì N ẬM
LUẬN V N T
SĨ TR ẾT
N
– 2019
Ọ
M s
Ủ TỊ
ỒN
S.TS N UYỄN VŨ
N Ƣ
Ƣ N
D N
P S. TS. N UYỄN T
ẢO
N
– 2019
O
N
Ọ
BÌN
C ƢƠN
1. B I CẢNH KINH TẾ - CHÍNH TRỊ XÃ H I Ở VIỆT
NAM THẾ KỶ XVI – XVIII VÀ TIỀN
NHO – PHẬT –
O TRON
Ề CHO SỰ DUNG THÔNG
TƢ TƢỞNG CỦA NGÔ THÌ NHẬM ... 15
1.1. Khái quát b i cảnh kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam thế kỷ
XVI – XVIII ................................................................................................. 15
1.1.1. Bối cảnh chính trị - xã hội ..................................................................... 15
1.1.2. Bối cảnh kinh tế - xã hội ........................................................................ 21
1.1.3. Bối cảnh văn hóa – giáo dục ................................................................. 24
1.2. Tiền đề tƣ tƣởng cho sự dung thông tam giáo của Ngô Thì Nhậm. 31
1.2.1. Nho giáo (Tống Nho) ............................................................................. 31
1.2.2. Phật giáo (Thiền tông) ........................................................................... 35
1.2.3. Đạo Lão - Trang .................................................................................... 40
1.3. Vài nét về Ngô Thì Nhậm và tác phẩm ................................................ 43
1.3.1. Vài nét về Ngô Thì Nhậm. ................................................................... 43
1.3.2. Một số tác phẩm của Ngô Thì Nhậm .................................................. 47
C ƢƠN
2. NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA SỰ DUNG THÔNG NHO –
PHẬT –
Nho, Phật, Đạo là những học thuyết ít nhiều khác nhau về nội dung, tính chất,
chức năng và vai trò nhưng sự bổ sung, tác động và ảnh hưỡng lẫn nhau của
tam giáo này từ lâu đã trở thành một hiện tượng quen thuộc trong đời sống
văn hóa, tinh thần không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các nước Đông Á.
Về cơ bản, dung thông tam giáo là sự tồn tại hòa bình, ảnh hưởng qua
lại và sự đan hòa vào nhau của tam giáo để hợp thành một thể thống nhất. Tuy
nhiên, nội dung và tính chất, chức năng và vai trò của sự dung thông này lại
khác nhau tùy theo mỗi giai đoạn lịch sử. Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam có
hai giai đoan nổi bật cho sự dung thông tam giáo, đó là giai đoạn Lý – Trần
(thế kỷ XI – XIV) và giai đoạn suy yếu của chế độ phong kiến Việt Nam bắt
đầu từ nhà Mạc (thế kỷ XVI) đến thế kỷ XVIII. Nếu trong thời Lý – Trần,
dung thông tam giáo để củng cố, phát triển đất nước, đoàn kết chống giặc
ngoại xâm và là công cụ tinh thần của giai cấp thống trị lúc bấy giờ thì dung
thông tam giáo thế kỷ XVII – XVIII là để chỉnh đốn nhân tâm, giải tỏa bế tắc,
mâu thuẫn trong xã hội. Chủ thể dung thông trong thời kỳ này là các nhà Nho
đang rơi vào khủng hoảng về mặt tinh thần và ý thức hệ, muốn tìm cho mình
một phương hướng sống, cách giải quyết mâu thuẫn trong hiện thực và để
chấn hưng, bảo vệ Nho giáo, bảo vệ chế độ phong kiến đang trên đà khủng
hoảng, bất lực và dần bị suy thoái.
Trong thế kỷ XVIII, khi mà xã hội và chế độ phong kiến Việt Nam lâm
vào tình trạng rối loạn, trật tự kỷ cương, luân thường đạo lý của Nho gia được
đề cao trong các thời kỳ trước đó thì đến lúc này đang dần suy đồi, biến đổi từ
3
những tư tưởng chuẩn mực căn bản cốt lõi nhất như trung hiếu, chính danh,
định phận, các chuẩn mực đạo đức khác trong tam cương, ngũ thường. Các
giáo lý trụ cột của Nho gia giờ đây không còn đủ năng lực và sự chính danh
để giải thích cho hiện thực xã hội đang quá rối loạn cũng như tỏ ra không còn
tam giáo trong tư tưởng của Ngô Thì Nhậm còn góp phần nhận thức rõ được sự
mềm dẻo, linh hoạt, uyển chuyển song cũng rất có ý thức trong tư tưởng của
các trí thức Nho học nói chung và của Ngô Thì Nhậm nói riêng trong bối cảnh
rối loạn, suy yếu của chế độ phong kiến Việt Nam thế kỷ XVIII.
Vì những lý do trên đây, chúng tôi chọn vấn đề: “Dung thông Nho –
Phật – Đạo trong tư tưởng của Ngô Thì Nhậm” làm đề tài luận văn Thạc sĩ
Triết học của mình để tìm hiểu, làm rõ được phần nào những điều kiện, tiền
đề cho sự dung thông và chủ yếu là nội dung, cách thức dung thông Nho –
Phật – Đạo thể hiện trong tư tưởng của Ngô Thì Nhậm.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo là ba học thuyết du nhập và phát
triển khá lâu dài trong lịch sử tư tưởng nước ta. Sự tồn tại và mối quan hệ
của ba học thuyết này tùy từng thời kỳ, tùy từng điều kiện lịch sử cụ thể
mỗi lúc mà có những tên gọi khác nhau như tam giáo đồng nguyên, tam
giáo qui nhất, tam giáo hòa đồng, tam giáo hội nhập,…. Trong quá trình
nghiên cứu, tác giả luận văn đã tham khảo được một số công trình tiêu
biểu nghiên cứu về điều kiện, tiền đề cho sự ra đời tư tưởng của Ngô Thì
Nhậm và các công trình nghiên cứu về mối quan hệ tam giáo trong lịch sử
tư tưởng Việt Nam nói chung và sự dung thông Nho – Phật – Đạo trong tư
tưởng của Ngô Thì Nhậm nói riêng.
Thứ nhất, một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về điều kiện và
tiền đề cho sự ra đời tư tưởng của Ngô Thì Nhậm
Hoàng Lê nhất thống chí (Nxb Văn học, Hà Nội, 2001) của Ngô gia văn
phái là một cuốn tiểu thuyết lịch sử về thời Trịnh Nguyễn phân tranh do người
5
trong dòng họ Ngô Thì biên soạn. Đây là tác phẩm không thể thiếu khi nghiên
cứu về Ngô Thì Nhậm và thời đại ông sống. Cuốn sách mô tả rất rõ về thân thế
Nguyễn Duy Chính, trong cuốn Lê mạt sử ký (Nxb Khoa học Xã hội,
2016) đã ghi chép về những biến cố chính trị cuối thời nhà Lê và trong cuốn
Núi xanh nay vẫn còn đó (Nxb Văn hóa Văn nghệ, 2016) đã cung cấp những
sử liệu mới về cuộc chiến tranh nổ ra giữa quân Đại Việt và Trung Quốc thế
kỷ XVIII, mối quan hệ ngoại giao hòa bình giữa nhà Tây Sơn và triều Thanh,
những bất ổn nội tại trong triều Tây Sơn dẫn đến sự sụp đổ nhanh chóng của
triều đại này sau khi vua Quang Trung mất. Những nghiên cứu này dựa trên
một phương pháp tiếp cận khách quan vào những tư liệu đáng tin cậy từ nhiều
nguồn như sử trong nước, sử nhà Thanh, những ghi chép đương thời của các
nhà truyền giáo,… nên đã tái hiện được bức tranh tương đối xác thật về tương
quan giữa các thế lực kinh tế, chính trị, quân sự lúc bấy giờ. Trong Núi xanh
nay vẫn còn đó, Nguyễn Duy Chính khẳng định rằng, cuộc khởi nghĩa Tây
Sơn và triều đại Tây Sơn là những bước đi tất yếu của lịch sử dân tộc. Sức
mạnh quân lực đã giúp họ thực hiện được sứ mệnh thống nhất đất nước vẻ
vang và vị thế ngoại giao với nhà Thanh được nâng lên một bậc.
Thứ hai, các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa Nho, Phật,
Đạo
Trong bài Tam giáo đồng nguyên – hiện tượng tư tưởng chung của
các nước Đông Á trên tạp chí Hán Nôm, số 3 năm 1999 của tác giả
Nguyễn Tài Thư cho rằng, hiện tượng “Tam giáo đồng nguyên” tùy theo
từng người, từng lúc mà có tên gọi khác nhau như “Tam giáo đồng
nguyên”, “Tam giáo nhất thể”, “Tam giáo nhất trí”, “Tam giáo đỉnh lập”,
“Tam giáo quy nhất”, “Hội tam quy nhất”, “Tam giáo nhất gia”, “Tam
giáo nhất nguyên”, “Tam giáo dung hợp”,…. Mỗi tên gọi có một ý nghĩa
riêng nhất định nhưng về cơ bản thì giống nhau trong quan niệm.
7
Nguyễn Công Lý, Tinh thần dung hợp tư tưởng Phật – Lão – Nho
thời kỳ nhất định, một trong Tam giáo nổi lên vị trí chủ đạo. Nhưng nhìn
chung nó là đa cực, là tương hỗ bổ sung chứ không phải nhất cực độc tôn
của bất kỳ một giáo nào.
Bài Về mối quan hệ tam giáo trong tư tưởng Nguyễn Trãi của Trần
Nguyên Việt đăng trên Tạp chí Triết học, số 7 (170), tháng 7 năm 2005.
“Ở bài viết này, mối quan hệ của tam giáo trong tư tưởng của Nguyễn
Trãi, về cơ bản, được xem xét trong sự thống hợp, tức là tam giáo có sự
thống nhất và bổ sung cho nhau để thành một cái gì đó mang tính chỉnh
thể”. Tác giả cũng khẳng định Nguyễn Trãi là nhà Nho, trong bất cứ
trường hợp nào ông cũng không bỏ được đạo Nho. Song đến một thời
điểm nào đó, Nguyễn Trãi đã tìm đến giáo lý của Phật giáo và Đạo giáo
để mở rộng và làm sâu sắc thêm những suy nghĩ của mình.
Về Quá trình hội nhập Nho – Phật – Lão hay sự hình thành tư
tưởng “Tam giáo đồng nguyên” ở Việt Nam của Trần Nghĩa, Tạp chí Triết
học, số 1 (244), tháng 1 năm 2010, tác giả cho rằng, quá trình hội nhập
Nho – Phật – Lão gồm ba bước: một là, tam giáo đỉnh lập; hai là, tam giáo
dung hợp; ba là, tam giáo đồng nguyên. Tam giáo đồng nguyên có thể
xem như hệ quả của quá trình vừa cạnh tranh, vừa tiếp nhận lẫn nhau, để
cuối cùng đi đến hội nhập trong đa dạng về phương diện tư tưởng. Trần
Nghĩa khẳng định, chính việc tam giáo “cầu đồng tồn dị” để xích lại gần
nhau trong tiến trình lịch sử của chúng đã kết thành một mạng lưới tạo
nên sức mạnh.
Trong bài Tam giáo đồng nguyên và tính đa nguyên trong truyền
thống văn hóa Việt Nam của Nguyễn Tài Đông trên Tạp chí Khoa học xã
hội Việt Nam, số 5 (66) năm 2013. Tác giả đưa ra một số vấn đề: Thứ
nhất, tam giáo đồng nguyên từ góc nhìn lịch đại cho rằng, Tam giáo đồng
nguyên vẫn là xu hướng chính. Sự chấp nhận, chia sẻ, tiếp thu, cùng bao
9
Nhậm về Thiền học, cái chiếm vị trí quan trọng là Nho giáo. Tư tưởng Thiền
học của Ngô Thì Nhậm cũng chính là sự kế thừa và tiếp thu tư tưởng Thiền
học của Tam tổ Trúc Lâm một cách duy lý, thể hiện rõ khuynh hướng hành
động nhập thế tích cực. Tác giả đánh giá cao tinh thần nhập thế của Ngô Thì
Nhậm và khẳng định rằng, đây là nội dung cơ bản trong tư tưởng Thiền học
của ông.
Khi tìm hiểu về “Tư tưởng của Ngô Thì Nhậm về con người và giáo dục
con người”, Tạp chí Triết học, số 4 (179), tác giả Nguyễn Bá Cường nhận
định, quan niệm của Ngô Thì Nhậm về vấn đề sinh thành con người, bản tính
con người dựa trên những tư tưởng triết học của Nho giáo, Phật giáo và Đạo
giáo, từ đó dẫn đến quan niệm của Ngô Thì Nhậm về tư tưởng giáo dục con
người, coi trọng và sử dụng người hiền tài. Tác giả khẳng định, “tư tưởng của
Ngô Thì Nhậm về con người, về nhân tài, về đào tạo những con người tài đức
đã thể hiện một tầm khái quát ly luận sắc sảo từ lý luận truyền thống cũng như
từ thực tiễn phong phú đương thời” và “Ngô Thì Nhậm được khẳng định là một
nhân tài về triết học, chính trị học, quân sự học, văn học, giáo dục học...”.
Trần Thị Thúy Ngọc (2009), với bài viết “Trúc Lâm tông chỉ ngyên
thanh” – Một tác phẩm Thiền?”, đăng trong Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo (4),
tr. 17 - 22 đã đưa ra những luận điểm quan trọng nhất của Thiền phái Trúc Lâm
Việt Nam về bản thể luận và nhân sinh quan. Tác giả bài viết này còn khẳng
định, Thiền phái Trúc Lâm đã đưa ra một lẽ sống tích cực và lẽ sống ấy đã
mang lại cho lịch sử Việt Nam những trang sử đáng tự hào nhất. Tuy nhiên,
thông qua những phân tích tư tưởng của Ngô Thì Nhậm thể hiện trong tác
phẩm này, tác giả bài viết khẳng định, Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh không
phải là một tác phẩm Thiền theo đúng nghĩa. Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh
với ý muốn khôi phục lại Thiền phái Trúc Lâm, một dòng Thiền Việt Nam tích
cực nhập thế và có khả năng cố kết nhân tâm đã không thành.
12
phát triển lý luận trong truyền thống hòa đồng Tam giáo của Việt Nam nói
riêng mà còn cho trình độ phát triển tư duy lý luận của tư tưởng Việt Nam tới
thế kỷ XVIII nói chung.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu những biểu hiện cụ thể của sự
dung thông tam giáo Nho – Phật – Đạo trong tư tưởng của Ngô Thì Nhậm,
luận văn rút ra một số giá trị và hạn chế cơ bản trong tư tưởng này.
Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, luận văn triển khai làm rõ những
nội dung sau:
1/ Phân tích bối cảnh kinh tế - chính trị, xã hội và tiền đề cho sự dung
thông tam giáo thế kỷ XVI – XVIII ở Việt Nam.
2/ Phân tích làm rõ những biểu hiện chủ yếu của sự dung thông Nho – Phật –
Đạo trong tư tưởng của Ngô Thì Nhậm (qua tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên
thanh).
3/ Đưa ra và bước đầu phân tích một số giá trị nổi bật và hạn chế cơ bản
của sự dung thông Nho – Phật – Đạo trong tư tưởng của Ngô Thì Nhậm.
4.
ơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về xã hội và con người.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn vận dụng phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của Triết học Mác – Lênin là chủ yếu và kết hợp với
một số phương pháp nghiên cứu khoa học khác như logic – lịch sử, phân tích
– tổng hợp, so sánh, đối chiếu, quy nạp – diễn dịch, khái quát hóa… để
C ƢƠN
1. B I CẢNH KINH TẾ - CHÍNH TRỊ XÃ H I Ở VIỆT
NAM THẾ KỶ XVI – XVIII VÀ TIỀN Ề CHO SỰ DUNG THÔNG
NHO – PHẬT –
O TRON
TƢ TƢỞNG CỦA NGÔ THÌ NHẬM
1.1. Khái quát b i cảnh kinh tế, chính trị, x hội Việt Nam thế kỷ
XVI – XVIII
1.1.1. Bối cảnh chính trị - xã hội
Nước ta từ khi Ngô Quyền đánh đuổi được quân Nam Hán, vua Đinh
Tiên Hoàng dẹp yên được loạn mười hai sứ quân lập thành một nước tự chủ,
đời nọ qua đời kia kế truyền được gần 600 năm. Đến đầu thế kỷ XVI, “bởi vì
vua nhà Lê hoang dâm vô độ, bỏ việc chính trị đổ nát, cho nên trong nước
loạn lạc, nhà Mạc nhân dịp mà làm sự thoán đoạt” [73; tr. 250]. Nhà nước tập
quyền phong kiến Lê sơ bước vào thời kỳ suy thoái. Kể từ vua Uy Mục trị vì
(1505 – 1509), Tương Dực (1509 – 1516), chính quyền nhà Lê sơ đã suy yếu
và mục nát. Ở triều đình, các phe phái tranh giành quyền lực và địa vị. Vua
Uy Mục ươn hèn lao vào cuộc sống trụy lạc, không còn quan tâm đến chính
sự, bỏ mặc cho hoạn quan và ngoại thích, người đương thời gọi ông vua này
là quỷ vương. Còn hoạn quan và ngoại thích thì nhân lúc nhà vua hèn kém,
bất lực, ăn chơi xa đọa và bỏ bê chính sự mà ngang ngược hoành hành.
Việc nhiều nhà vua cho xây dựng nhiều đền đài, cung điện đồ sộ, nguy
nga đã khoét thêm mâu thuẫn vốn có giữa triều đình và nhân dân các địa
phương. Nguyễn Dực trong sách Hồng thuận trung hưng ký viết: “Xây nhà
phe phái, Mạc Đăng Dung, một võ quan đã lợi dụng cơ hội này để leo dần đến
chức tể tướng. Từ năm 1516 đến năm 1519, Mạc Đăng Dung dưới danh nghĩa
phù Lê Chiêu Tông đã tiêu diệt các phe phái đối lập, một mặt tập trung đàn áp
các cuộc khởi nghĩa, mặt khác ông đưa họ hàng vào nắm các chức vụ chủ chốt
ở triều đình và các trấn. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, vua Lê Chiêu Tông và một
số triều thần trốn khỏi kinh thành mộ quân đánh lại Mạc Đăng Dung. Mạc
Đăng Dung nhân cơ hội đó lập hoàng đệ là Xuân lên thay thế rồi đưa về Hải
16
Dương. Năm 1522, Mạc Đăng Dung giết vua Lê Chiêu Tông và bức hại vua Lê
Cung Hoàng (Xuân) năm 1526. Nhà Lê sơ tồn tại vừa 100 năm thì bị nhà Mạc
thay thế.
Mạc Đăng Dung cướp ngôi đã gây ra sự phản ứng dữ đội trong số các
con cháu công thần và một số sĩ phu khoa bảng như Nguyễn Thái Bạt, Lê
Tuấn Mậu, Đàm Thận Huy, Nguyễn Duy Tường, Nguyễn Hữu Nghiêm,… có
người khởi binh chống lại, có kẻ chửi mắng Mạc Đăng Dung, có kẻ tìm cái
chết “khí tiết”. Đây là phản ứng của những sĩ phu Nho giáo theo kiểu “trung
thần bất sự nhị quân” mang dáng dấp của một nhân cách sĩ khí anh hùng của
thế kỷ trước còn lại, cũng là phản ứng chung của nhiều nhà Nho và phần lớn
dân chúng vì sự hoài niệm nhà Lê.
Nhà Mạc tồn tại trong thế chênh vênh, yếu đuối. Mạc Đăng Dung và
các vua kế vị phải tìm cách hòa hoãn với nhà Minh, cắt mấy xã biên giới
thuộc Yên Quảng cho Trung Quốc, mặt khác tìm cách đối phó với các cựu
thần nhà Lê và ra sức xây dựng chính quyền, ổn định trật tự xã hội. Nhà Mạc
đã liên tục mở nhiều khoa thi Nho học để tạo ra một tầng lớp sĩ phu mới làm
chỗ dựa. Tổ chức nhà nước của triều Mạc về căn bản là vẫn theo mẫu hình Lê
sơ, tức là bộ máy nhà nước phong kiến hành chính quan liêu.
Việc xác lập vương triều Mạc không những không giải quyết được
Để khỏi phải thuần phục họ Trịnh, họ Nguyễn đã tìm cách mở rộng ảnh
hưởng về phía Nam. Dù gặp khó khăn, họ Nguyễn không ngừng củng cố việc
cai trị, tập luyện binh sĩ, rèn vũ khí để đối phó với cuộc đụng độ không thể tránh
khỏi với họ Trịnh. Hai thế lực Trịnh - Nguyễn đã nhân danh vua Lê mà lao vào
một cuộc đọ sức kéo dài 50 năm không dứt với 7 cuộc chiến lớn: họ Trịnh quyết
bảo vệ uy quyền của vua Lê bị họ Nguyễn chẳng coi ra gì, còn họ Nguyễn
dương ngọn cờ giành lại cho vua Lê quyền hành mà lúc bấy giờ đang bị họ
18
Trịnh chiếm đoạt. Cuộc chiến tranh này tiếp tục lôi kéo nhân dân vào vòng binh
lửa, đất nước bị chia cắt làm hai miền là Đàng Trong và Đàng Ngoài.
Trong lúc các tập đoàn phong kiến tranh giành quyền hành địa vị, đất
nước bị phân chia, thiên tai dịch họa, nạn đói diễn ra thường xuyên, thêm vào
đó là sưu cao thuế nặng, quan lại cường hào áp bức, tất cả đã gieo những thảm
họa, đau khổ cho dân chúng, các mâu thuẫn xã hội ngày càng gia tăng, trật tự,
kỷ cương trong xã hội ngày càng bị vi phạm nghiêm trọng. Đến đầu thế kỷ
XVIII, nông nghiệp và kinh tế hàng hóa ở Đàng Ngoài gặp nhiều khó khăn.
Ruộng đất công nhiều nơi bị thu hẹp nghiêm trọng. Xã hội phong kiến Việt
Nam ở Đàng Ngoài phân hóa ngày càng sâu sắc, giàu nghèo ngày càng cách
biệt, ruộng đất công, ruộng tư chênh lệch quá mức là một trong những nguyên
nhân đưa đến xã hội ngày càng khủng hoảng.
Nạn đói trầm trọng bắt đầu từ năm 1739. Nhà nước phong kiến Lê –
Trịnh bất lực trước khủng hoảng xã hội, không có biện pháp kinh tế nào để
làm cho xã hội ổn định lâu dài. Cuộc nổi dậy của Lê Duy Mật đã mở đầu cho
một loạt các cuộc nổi dậy lớn khác của quần chúng nhân dân. Cũng từ 1739
trở đi, phong trào đấu tranh của nông dân Đàng Ngoài nổi lên ngày càng rầm
rộ. Các đoàn nông dân nghèo khổ lưu vong làm lực lượng hậu bị. Khởi đầu là
khởi nghĩa của Nguyễn Dương Hưng.
Lê, nhưng cũng không ít sĩ phu thức thời từ bỏ chính quyền Lê – Trịnh mà
hợp tác đắc lực với Tây Sơn.
Song bước đi tiếp theo của phong trào Tây Sơn cũng do thời đại quy
định. Những thủ lĩnh của phong trào sau chiến thắng lại chuyển thành vương
triều phong kiến [42; tr.406]. Một nhà nước phong kiến được tái lập. Vương
triều Tây Sơn là một hỗn hợp không chặt chẽ giữa các võ tướng xuất thân là
nông dân Đàng Trong chuyển hóa thành quan lại, nắm giữ các chức vụ chủ
chốt ở triều đình cùng với các văn thần mới được thu dụng. Năm 1792 vua
Quang Trung mất, các nho thần Bắc Hà như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích,
20
Nguyễn Thế Lịch, Ninh Tốn... như “bóng nhạn cô đơn” (lời Phan Huy Ích).
Sau đó họ không được tin dùng, có người trở ra Bắc hay về quê. Chính quyền
Tây sơn suy yếu và cuối cùng bị thế lực Gia Long khởi binh, từ Gia Định tiến
ra Bắc Hà đánh đổ vào năm 1802.
1.1.2. Bối cảnh kinh tế - xã hội
Trong lúc các tập đoàn phong kiến đang tranh giành quyền vị, đất nước
bị phân chia thì nhân dân ta, mặc dù đã tổn hại nhiều sức lực và của cải trong
chiến tranh vẫn không ngừng lao động cần cù, tạo dựng cuộc sống. Kinh tế
đất nước nhìn chung trong các thế kỷ XVI – XVIII vẫn phát triển trong mức
độ nhất định. Trong các làng xã, các hộ gia đình nông dân tư hữu ngày càng
phát triển. Ở Đàng Ngoài, nhiều vùng đất khai hoang được mở rộng, xóm
làng mọc lên nhiều. Các vùng ven biển Hải Dương, Sơn Nam, Thanh Hóa,
sản xuất nông nghiệp có nhiều lúc, nhiều nơi được phát triển. Những vùng
không có chiến tranh và những vùng xa thời chiến tranh thì vẫn ổn định. Ở
Đàng Trong, nhờ khẩn hoang, thường xuyên mở rộng các vùng Thuận Hóa,
Quảng Nam, đã trở thành khu vực kinh tế phát triển. Đất Ô Châu thời Dương
Văn An, cuối thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVII thì làng xóm chen nhau, ruộng