TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH
TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ 3-4 TUỔI
Ở TRƯỜNG MẦM NON HÙNG VƯƠNG PHÚC
YÊN – VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp chăm sóc vệ sinh trẻ em
Người hướng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN THỊ VIỆT NGA
HÀ NỘI, 2017
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thấy cô giáo trường ĐHSP Hà Nội 2,
các thầy cô khoa Giáo dục Mầm non, khoa Sinh – KTNN đã giúp đỡ em trong
quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em hoàn thiện khóa luận tốt
nghiệp này.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô Nguyễn Thị Việt Nga –
Người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong quá trình học tập
và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cô giáo và các em học sinh
trường mầm non Hùng Vương – Phúc Yên – Vĩnh Phúc đã tận tình giúp đỡ
em trong thời gian em thực tập ở trường. Trong quá trình nghiên cứu, không
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài........................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu..................................................................................... 2
3. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu ........................................... 2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 2
5. Phạm vi nghiên cứu....................................................................................... 3
6. Giả thuyết nghiên cứu ................................................................................... 3
7. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 3
8. Đóng góp của đề tài...................................................................................... 3
NỘI DUNG ....................................................................................................... 4
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ................. 4
1.1. Tổng quan về phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ 3-4 tuổi ................ 4
1.1.1. Trên thế giới ............................................................................................ 4
1.1.2. Tại Việt Nam........................................................................................... 4
1.2. Cơ sở lý luận ............................................................................................. 6
1.2.1. Khái niệm, phân loại .............................................................................. 6
1.2.1.1. Khái niệm tai nạn thương tích............................................................. 6
1.2.1.2. Phân loại tai nạn thương tích .............................................................. 7
1.2.2. Đặc điểm phát triển tâm- sinh lý của trẻ 3-4 tuổi .................................. 8
1.3. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 11
CHƯƠNG 2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
PHÒNG TRÁNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ 3-4 TUỔI ........... 13
2.1. Nguyên nhân gây nên tai nạn thương tích ............................................... 13
2.2 . Những tai nạn thương tích thường gặp ở trẻ 3-4 tuổi…………………..13
2.3. Một số biệp pháp nhằm nâng cao chất lượng phòng tránh tai nạn thương
tích cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non Hùng Vương, tx Phúc Yên, Vĩnh Phúc
PHỤ LỤC .......................................................................................................... 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1
Tai nạn, thương tích ở nước ta đã trở thành vấn đề bức xúc của toàn xã
hội. Hiện nay, do tai nạn thương tích mỗi ngày có trên 30 người chết và trên
70 người bị thương gây tàn tật suốt đời. Hàng năm, tỷ lệ tai nạn, thương tích
gây tử vong đối với nhóm tuổi từ 0 – 18 tuổi chủ yếu là do chết đuối, tai nạn
giao thông, ngộ độc, ngã và điện giật. Công tác phòng, chống tai nạn, thương
tích trong các cơ sở giáo dục không chỉ có tác động tới sức khoẻ và tính mạng
của trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo, học sinh, sinh viên mà còn là yếu tố đảm
bảo phát triển giáo dục toàn diện. Tai nạn thương tích trẻ em (do tai nạn giao
thông, đuối nước, bỏng, ngã, bạo lực trong gia đình, xã hội và tự tử…) là thứ
“họa bất kỳ” mà không ai mong muốn.
Nhằm góp phần hạn chế tai nạn thương tích, đảm bảo an toàn tính mạng
cho trẻ ở cơ sở giáo dục mầm non, học sinh, sinh viên và cán bộ công chức
ngành giáo dục và đào tạo. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu: các cơ
sở giáo dục tăng cường công tác phòng, chống tai nạn thương tích. Để thực
hiện nghiêm túc, có hiệu quả “Chính sách quốc gia phòng, chống tai nạn
thương tích”
Tuy nhiên, nhìn vào thực tế số tai nạn thương tích trẻ em đang gia tăng,
chúng tôi nhận thấy, một phần rất lớn những ca tai nạn thương tích đau lòng
của trẻ thường bắt nguồn từ sự bất cẩn và kém hiểu biết của người lớn.
Tai nạn thương tích luôn rình rập quanh ta nhất là đối với trẻ nhỏ vì vậy
là giáo viên mầm non cần tìm hiểu và trang bị cho bản thân những kiến thức
- Xác định cơ sở lí luận và thực tiễn của biện pháp phòng tránh tai nạn
thương tích của trẻ 3-4 tuổi.
- Đề xuất các biện pháp đảm bảo an toàn cho trẻ nhằm nâng cao kiến
thức và kỹ năng tự phục vụ và bảo vệ bản thân khi cần thiết, hình thành nhân
cách ban đầu, kỹ năng sống cho trẻ ngay từ trong trường mầm non.
3
- Thực nghiệm sư phạm về các biện pháp được đề xuất
5. Phạm vi nghiên cứu
- Lớp mẫu giáo 3 – 4 tuổi trường mầm non Hùng Vương, thị xã Phúc
Yên, Vĩnh Phúc.
- Số lượng trẻ nghiên cứu: 30 trẻ
6. Giả thuyết nghiên cứu
- Nếu xác định được thực trạng của biện pháp phòng tránh tai nạn
thương tích của trẻ 3-4 tuổi, đồng thời đề ra những biện pháp phù hợp thì sẽ
nâng cao chất lượng cách phòng tránh tai thương tích của trẻ.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Phương pháp điều tra thực trạng.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
8. Đóng góp của đề tài
- Đánh giá thực trạng của một số biện pháp phòng tránh tai nạn thương
tích cho trẻ 3-4 tuổi
- Tìm hiểu nguyên nhân gây nên tai nạn thương tích và từ đó đề xuất một
số biện pháp phòng tránh tai nạn thương tích ở trẻ
- Cung cấp một số giáo án về phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ 3-4
tuổi
5
gấp đôi số ca tử vong do bệnh truyền nhiễm (5,6%). Thương tích giao thông
đường bộ là nguyên nhân gây tử vong cao nhất, sau đó là ngã và đuối nước.
Bên cạnh đó tai nạn thương tích là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ
em (lứa tuổi 0-17) chiếm 88% các trường hợp tử vong do tai nạn thương tích
là do vô tình. Trong đó đuối nước là nguyên nhân hàng đầu gây thương tích
và tử vong ở trẻ em và thanh thiếu niên (0-19 tuổi). Kết quả Khảo sát quốc gia
về tai nạn thương tích của Việt Nam cho thấy có hơn 35.000 trường hợp tử
vong do tai nạn thương tích ở Việt Nam trong năm 2010. Tại hội nghị khoa
học toàn quốc về phòng chống tai nạn thương tích do Bộ Y tế, Tổ chức Y tế
Thế giới và Quỹ Nhi đồng LHQ được tổ chức tại Hà Nội vào ngày
25/10/2011 thứ trưởng Nguyễn Viết Tiến cho biết: Mỗi năm, Việt Nam có
khoảng 900.000 người bị TNTT và hơn 34.000 người tử vong. Trong đó,
chiếm số lượng cao nhất là tử vong do tai nạn giao thông là 45% với 15.000
người chết mỗi năm. 10 địa phương có số người tử vong cao nhất là Hà Nội,
Đồng Nai, Thanh Hóa, Nghệ An, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Hải
Dương, Quảng Bình, Bình Thuận.
Tai nạn thương tích ở trẻ em hiện nay là một vấn đề vô cùng nghiêm
trọng và cần được quan tâm. Tai nạn thương tích rất dễ xảy ra vì ở trẻ 3-4 tuổi
vì các em thường hiếu động, thích tò mò, nghịch ngợm và chưa có kiến thức,
kỹ năng phòng tránh nên rất dễ bị tai nạn thương tích. Theo ước tính của tổ
chức Y tế thế giới hàng năm, có hàng trăm triệu trẻ em tử vong bởi các
nguyên nhân có thể phòng tránh được, trong đó nguyên nhân tai nạn thương
tích góp phần đáng kể. Tai nạn thương tích tử vong và tàn tật do thương tích
là gánh nặng lớn đối với bản thân gia đình và xã hội, nó đòi hỏi toàn xã hội
phải có những hành động thiết thực để ngăn chặn những nguy cơ tai nạn
thương tích đe dọa tính mạng và sức khỏe của trẻ em.
“Tai nạn thương tích” là:
7
- Thương tổn có chủ định hoặc không chủ định.
- Liên quan đến va chạm giao thông, ngã, tai nạn lao động, va chạm, điện
giật, chất hóa học, nhiệt độ .
- Tổn thương: chảy máu, bong gân, phù nề xây xát, gãy xương, gãy
răng, vỡ thủng nội tạng, chấn thương sọ não, bỏng, ngạt/đuối nước, ngộ độc,
tự tử .
- Cần đến sự chăm sóc y tế, phải nghỉ học/nghỉ làm hoặc bị hạn chế sinh hoạt
ít nhất 1 ngày.
1.2.1.2. Phân loại tai nạn thương tích
Có các loại tai nạn thương tích khác nhau (WHO) :
- Chấn thương nặng: Đây là một thương tích dẫn đến tử vong do rủi ro hoặc
do các biến chứng phát sinh từ rủi ro này. Độ dài của thời gian giữa các rủi ro
và sau đó không ảnh hưởng đến sự phân loại thương tích gây tử vong.
- Thương tật: Đây là những thương tích được xác định bởi cơ quan y tế có
thẩm quyền về khả năng mất sức khỏe vĩnh viễn hoặc một phần sức khỏe ảnh
hưởng đến đối tượng không thể hoạt động nghề nghiệp nhất định. Ngoài ra,
những mất mát, hoặc thiệt hại của việc hoạt động cả hai tay, hoặc cả hai chân,
hoặc cả hai mắt, hoặc kết hợp bất kỳ của các bộ phận cơ thể như là kết quả
của một rủi ro duy nhất sẽ được xem xét như là một thương tật toàn bộ vĩnh
viễn.
- Tàn tật: Là những tai nạn thương tích không dẫn đến tử vong, được giám
định bởi cơ quan y tế có thẩm quyền, đối tượng mất vĩnh viễn bất kỳ khả năng
hoạt động của một phần cơ thể: ngón tay cái hoặc chân cái..(trừ các trường
hợp: Răng, 4 ngón chân/tay nhỏ hơn, thoát vị, tóc, móng chân, móng tay, da
va mô dưới da)
đóng vai theo chủ đề, trẻ được thỏa mãn nguyện vọng là sống và hoạt động
9
như người lớn và những mối quan hệ qua lại giữa họ trong xã hội. Qua trò
chơi trẻ hiểu mỗi người trong xã hội đều có quyền và nghĩa vụ của mình.
Ở độ tuổi 3 tuổi, hoạt động vui chơi mà trung tâm là trò chơi đóng vai
theo chủ đề là hoạt động chủ đạo. Tuy nhiên vì mới được chuyển sang vị trí
chủ đạo nên hoạt động vui chơi chưa đạt tới dạng chính thức mà chỉ ở dạng sơ
khai của nó. Chính vì vậy mà hoạt động vui chơi ở độ tuổi mẫu giáo bé có
những đặc điểm sau:
Do vốn sống của trẻ còn quá ít ỏi nên việc mô phỏng lại đời sống xã hội
của người lớn còn rất hạn chế.
Nét đặc trưng của trò chơi đóng vai theo chủ đề là ở chỗ trẻ phải hoạt
động cùng nhau để mô phỏng lại những mối quan hệ của người lớn trong xã
hội. Nhưng ở tuổi mẫu giáo bé trẻ chưa quen phối hợp hoạt động với nhau.
Tuy trẻ đã biết bắt chước một số hành động phối hợp với nhau trong sinh hoạt
của người lớn, nhưng việc vui chơi đó vẫn còn mang tính chất của việc chơi
một mình. Phải đến cuối tuổi mẫu giáo bé, nhất là vào tuổi mẫu giáo nhỡ, thì
trò chơi đóng vai theo chủ đề mới vào dạng chính thức, và lúc đó nó mới thực
sự đóng vai trò chủ đạo và giữ vị trí trung tâm trong hoạt động của trẻ. Sở dĩ
trò chơi đóng vai theo chủ đề giữ vai trò chủ đạo ở lứa tuổi mẫu giáo, đó là vì
trước hết nó giúp cho trẻ thiết lập những mối quan hệ với nhau (quan hệ thực
với quan hệ chơi )
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ diễn ra với tốc độ nhanh :
Giai đoạn từ 0- 5 tháng tuổi còn gọi là giai đoạn tiền ngôn ngữ của trẻ.
Khoảng 3 tháng tuổi trẻ đã biết „„hóng chuyện‟‟, trẻ đã phát ra những chuỗi
âm liên tục không rõ ràng. Đến giai đoạn 6- 12 tháng tuổi trẻ phát âm bập bẹ,
bi bô như „„ bà bà, bố bố, măm măm…‟‟. Từ 12- 18 tháng tuổi vốn từ của trẻ
động sang kiểu tư duy trực quan-hình tượng.
Bước vào tuổi mẫu giáo, ý thức bản ngã được xác định rõ ràng cho phép
trẻ thực hiện các hành động một cách chú tâm hơn, nhờ đó các quá trình tâm
lý mang tính chủ định rõ rệt. Ở trẻ 3-4 tuổi „„cái tôi‟‟ xuất hiện kèm theo
„„khủng hoảng tuổi lên ba‟‟.
11
Trẻ mẫu giáo rất ham học hỏi, tìm tòi và có năng lực sáng tạo. Vì vậy
giáo viên cần tổ chức cho trẻ hoạt động nhiều để giúp trẻ phát triển. Cần tạo
ra môi trường phong phú lành mạnh, kích thích trẻ tích cực hoạt động để giáo
dục trí tuệ cho trẻ.
1.3. Cơ sở thực tiễn
- Trường mầm non Hùng Vương thuộc tổ 10, phường Hùng Vương, là
một phường có nền kinh tế -chính trị ổn định. Toàn phường có 3 cấp học:
mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trong đó trường mầm non và trường
trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia cấp độ 1, trường tiểu học đạt chuẩn quốc
gia cấp độ 2. Năm 2016, trường mầm non Hùng Vương phấn đấu đạt chuẩn
quốc gia cấp độ 2.
- Toàn trường có 48 đồng chí cán bộ, giáo viên, nhân viên, trong đó: Ban
giám hiệu có 3 đồng chí, giáo viên có 37 đồng chí, 01 nhân viên y tế, 01 nhân
viên kế toán, 06 nhân viên nhà bếp.
- Số trẻ toàn trường là 464 trẻ / 18 lớp
- Trường có phòng y tế riêng, trang bị thiết bị tương đối đầy đủ
- Đã có nhân viên y tế trình độ trung cấp y, phụ trách công tác chăm sóc
sức khỏe cho trẻ
Đối với giáo viên mầm non việc phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ
không phải là điều mới mẻ nhưng thông qua quá trình thực hiện và điều tra
thực trạng tại trường mầm non tôi thấy một số thuận lợi, khó khăn sau :
CHƯƠNG 2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG PHÒNG TRÁNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ
3-4 TUỔI
2.1. Nguyên nhân gây nên tai nạn thương tích
- Do sự thiếu giám sát chăm nom của cha mẹ cô giáo, hoặc người trông trẻ
nên có thể dễ tiếp xúc với các nguy cơ gây tai nạn thương tích một cách dễ
dàng
- Do người lớn chăm sóc trẻ nhưng không được hướng dẫn cách sơ cứu
cho trẻ và không có tủ thuốc cấp cứu
- Do công tác truyền thông, giáo dục chưa đủ mạnh để có thể chuyển đổi
hành vi ứng xử trong cộng đồng, nhất là gia đình và trường học trong việc
phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ
- Do điều kiện, môi trường sinh hoạt và học tập của trẻ còn nhiều bất cập,
chưa bảo đảm đầy đủ an toàn phòng trống tai nạn thương tích
2.2. Những tai nạn thương tích thường gặp của trẻ 3-4 tuổi
- Ngãvà những chấn thương do ngã là những tai nạn rất thường gặp ở trẻ
em, ở mọi lứa tuổi, mọi giới, mọi lúc và mọi nơi. Ngã để lại những hậu quả
trước mắt và lâu dài, nhiều khi ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng cũng
như tính mạng của trẻ.
- Ngộ độc : Khi một chất vô cơ hoặc hữu cơ dạng khí, lỏng hoặc rắn lọt vào
cơ thể và gây tác động xấu cho sức khoẻ được gọi là Ngộ độc. Có hai loại ngộ
độc, ngộ độc cấp và ngộ độc mãn.
+ Ngộ độc cấp: khi chất độc vào cơ thể và gây nguy hại tức thì hoặc sau
một vài giờ thì gọi là ngộ độc cấp, ví dụ như uống phải thuốc trừ sâu, chất axít
hoặc chất kiềm mạnh, các loại thuốc tẩy rửa, ăn thức ăn ôi thiu...
+ Ngộ độc mãn: Khi con người thường xuyên tiếp xúc với chất độc liều
lượng thấp, các loại hoá chất lâu dần dần tác hại đến các cơ quan nội tạng thì
14
15
động của hệ hô hấp, hệ tuần hoàn. Dòng điện sẽ gây cháy bỏng và co rút
các cơ bắp gây cảm giác đau nhức, người bị điện giật sẽ khó thở, rối loạn
nhịp tm. Nếu bị nặng, đầu tiên sẽ ngừng thở sau đó tim ngừng hoạt
động, nạn nhân chết trong tình trạng ngạt, bỏng nặng và co rút, tê liệt các cơ
bắp.
- Đuối nước: Khi có sự xâm nhập đột ngột và nhiều của nước hoặc chất
dịch vào đường thở (mũi, mồm, khí phế quản, phổi) làm cho không khí có
chứa oxy không thể vào phổi được gọi là đuối nước. Hậu quả là não bị thiếu
oxy, nếu không được cấp cứu kịp thời nạn nhân sẽ bị chết hoặc để lại di
chứng não nặng nề. Đa phần trường hợp đuối nước rơi vào trẻ em độ tuổi từ
1
– 15. Trẻ em sức yếu nên rất dễ bị ngạt thở chỉ trong vòng thời gian 2 phút
và với trẻ nhỏ, chỉ với lượng nước nhỏ như một xô nước cũng có thể làm trẻ
chết đuối.
2.3. Một số biệp pháp nhằm nâng cao chất lượng phòng tránh tai nạn
thương tích cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non Hùng Vương, tx Phúc
Yên, Vĩnh Phúc
2.3.1. Xây dựng cơ sở vật chất an toàn cho trẻ
Trường mầm non Hùng Vương, tx Phúc Yên, Vĩnh Phúc được xây dựng
hai tầng rất khang trang, tuy nhiên khi thiết kế thi công các kỹ sư chưa lường
trước được những nguy hiểm có thể xấy ra đối với trẻ, bản thân là người giáo
viên mầm non ngày ngày tếp xúc với trẻ tôi đã nhận thấy một số bất cập
về cơ sở vật chất vì thế tôi đã mạnh dạn đề xuất ý kiến với ban giám hiệu,
được sự nhất trí của ban giám hiệu và sự ủng hộ của phụ huynh. Nhà trường
đã có những biện pháp sửa chữa, nâng cấp một số khu vực có thể gây
nguy hiểm cho trẻ.