Mã số
- Tên sáng kiến: "Một số giải pháp giúp trẻ 5-6 tuổi phát triển vốn
từ”.
- Lĩnh vực áp dụng: Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
- Họ tên tác giả: Trần Thị Dung
- Đơn vị công tác: Trường Mầm Non Tiên Hường.
Bình Xuyên, năm 2019
Họ tên, chữ ký người chấm điểm
Điểm
Mã số
Người số 1:……………………………………….
Người số 2:……………………………………….
I. Mô tả sáng kiến:
Ở tuổi mẫu giáo, trẻ phải nắm được một vốn từ cần thiết đủ để cho chúng
giao tiếp được với bạn bè, người lớn, tiếp thu các tri thức ban đầu trong trường
mầm non, chuẩn bị học tập ở trường phổ thông, xem các chương trình truyền hình,
truyền thanh, tham gia các sinh hoạt xã hội gần gũi với đời sống của trẻ...Vì thế,
giáo dục mẫu giáo coi việc hình thành vốn từ là nhiệm vụ quan trọng trong nội
dung giáo dục trẻ .
Phát triển vốn từ được hiểu như một quá trình lâu dài của việc lĩnh hội vốn
từ mà con người đã lĩnh hội được trong lịch sử. Nó bao gồm hai mặt: tích lũy số
lượng và nâng cao số lượng. Cô giáo phải giúp trẻ không những hiểu biết từ mà
còn sử dụng được chúng trong giao tiếp. Trong quá trình giao tiếp dần dần trẻ hiểu
được ý nghĩa của từ, thậm chí có nhiều nghĩa khác nhau trong một từ hay nhiều từ
- Khả năng nhận thức của học sinh không đồng đều.
- Số học sinh đông, diện tích lớp chật hẹp, ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu
của trẻ.
- Nhiều trẻ còn nói ngọng, nói lắp.
*Qua kết quả điều tra lúc đầu khi chưa áp dụng các phương pháp trên thì vốn từ
của trẻ còn thấp.
Bảng khảo sát chất lượng trẻ đầu năm
Sĩ
số
Các chỉ tiêu đánh giá
Kết quả
31
trẻ
Trẻ hứng thú tham gia các hoạt
động
64.5%
Trẻ phát âm đúng
67.7%
32.3%
dung bức tranh để cho trẻ hiểu được từ, đặc biệt là các từ khái niệm. Chẳng hạn, để
giúp trẻ hiểu nghĩa của từ tôi sử dụng một số tranh chủ đề: Cảnh sinh hoạt gia đình,
cảnh cánh đồng quê mùa gặt, cảnh vườn cây ăn quả, cảnh đường phố. Bốn bức
tranh này có các từ khái niệm như: ở giữa, bên phải, bên trái, kế bên, ở dưới...
Ví dụ: Tôi sử dụng bức tranh cảnh gia đình đang ăn cơm. Cho trẻ quan sát
và đàm thoại:
Trong mấy người ngồi ăn cơm, ai ngồi ở giữa(bạn nhỏ)
Bên phải bạn nhỏ là ai?(Người mẹ)
Bên trái bạn nhỏ là ai(Người bố)
Kế bên bạn nhỏ là ai(Con mèo)
Có thể dùng biện pháp cho trẻ vẽ tranh để giúp trẻ hiểu nghĩa của từ sâu sắc
hơn.
Có thể sử dụng một số bài tập vẽ sau:
Bài 1: Các cháu vẽ cho cô một hàng cây theo thứ tự: Cây thứ nhất cao nhất,
cây thứ hai thấp hơn, cây thứ ba thấp nhất. Vẽ cho cô một con chim đậu trên cây ở
giữa.
Bài 2: Các cháu vẽ cho cô một vườn hoa có nhiều hoa đẹp, sau đó vẽ hàng
rào ở xung quanh vườn. Ở trên của mỗi bông hoa vẽ một con bướm.
Bài 3: Các cháu vẽ cho cô một đàn cá đang bơi. Trong đó bơi đầu đàn là con
cá mẹ to nhất, bơi tách rời đàn các con. Bơi đằng sau con cá mẹ là những con cá
bằng nhau và con cá cuối cùng là con nhỏ nhất và bơi cách xa nhất.
Như vậy khi trẻ tự vẽ tranh, với sự hướng dẫn và giải thích của cô giáo
chúng sẽ dần hiểu được nghĩa của các từ đó.
Tóm lại khi cho trẻ xem tranh kết hợp với hệ thống câu hỏi đàm thoại sẽ
giúp trẻ phát triển vốn từ một cách nhanh chóng, vốn từ của trẻ phong phú hơn rất
nhiều.
*Giải pháp 2: Sử dụng các trò chơi học tập
Ở trường mầm non trẻ được “ học bằng chơi, chơi mà học”.Vì vậy việc sử
a. Sử dụng lời kể của cô giáo.
Lời kể của cô giáo dễ gây hứng thú cho trẻ khi quan sát và giúp trẻ tri giác
toàn bộ đối tượng, thấy được các mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, điều này
làm cho trẻ dần dần hiểu đầy đủ hơn ý nghĩa của từ. Lời kể của cô giáo còn tạo ra
mẫu mực ngôn ngữ cho các cháu noi theo(giọng nói, ngữ điệu, điệu bộ...) Khi kể
cho trẻ nghe, tôi luôn kể thật rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu đối với trẻ, chủ yếu mô tả
các đặc điểm, tính chất của đối tượng. Tôi luôn cố gắng kể làm sao thật ngắn gọn
nhưng vẫn có đầy đủ logic các phần: Mở đầu, mô tả, kết thúc. Mở đầu của lời kể là
giới thiệu về đối tượng cho trẻ làm quen và sau đó mô tả các chi tiết,các đặc điểm,
tính chất của đối tượng. Kết thúc lời kể là những nhận xét, đánh giá lời kể của trẻ.
b. Cho trẻ quan sát trực quan kết hợp với lời giải thích.
Đây là một biện pháp tích cực hóa vốn từ của trẻ. Khi trẻ tự kể chuyện, trẻ sẽ
gọi tên, kể ra các đặc điểm của các loại hoa quả, con vật...đó là điều kiện để các từ
ngữ ở trạng thái bị động chuyển thành chủ động, tích cực.
Để giải thích cho trẻ hiểu từ trong tác phẩm văn học bằng biện pháp này thì
trước hết tôi chọn từ có nghĩa cụ thể. Có như vậy thì việc sử dụng đồ dùng trực
quan kết hợp với lời giải thích mới có hiệu quả.
Ví dụ:Trong bài thơ “ Giữa vòng gió thơm” tôi sẽ lựa chọn một số từ có nghĩa
cụ thể sau để giải thích:
“Khép rủ” trong câu “Cái màn khép rủ”
“Phe phẩy” trong câu “Phe phẩy quạt nan”
“Rung rinh” trong câu “Rung rinh góc màn”
Để giải thích được những từ này thì tôi lựa chọn đồ dùng trực quan phù hợp
với từ đó, kết hợp với lời giải thích. Lời giảng giải luôn ngắn gọn, cô đọng, dễ hiểu
và hấp dẫn đối với trẻ.
Ví dụ: Khi giải thích từ “phe phẩy” trong câu thơ “phe phẩy quạt nan” thì tôi
đọc cho trẻ nghe cả câu một đến hai lần hoặc cả một đoạn thì từ mới không bị tách
rời khỏi ngữ cảnh, và như vậy trẻ sẽ cảm nhận tốt hơn. Tiếp theo tôi dùng biện
pháp sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với lời giải thích để giúp trẻ hiểu được
giải thích để trẻ thấy khỏe mạnh là người có sức khỏe tốt và làm được nhiều việc,
còn người mà “ốm yếu” thì sức khỏe không tốt và không làm được nhiều việc. Tôi
đưa ra từ trái nghĩa nhằm làm cho từ cần giải thích được nổi bật và tạo cho trẻ có
ấn tượng. Có thể dùng câu hỏi như: Người mà ốm yếu có làm được công việc nặng
nhọc không? Người khỏe mạnh làm được những công việc gì? Với những câu hỏi
này giúp trẻ có được những hình ảnh về người khỏe mạnh và như vậy trẻ sẽ hiểu
sâu xa hơn nghĩa của từ này.
Từ “chịu khó” trong câu “Anh chịu khó cày ruộng cho ta trong ba năm”.
Đây cũng là từ mà không thể dùng trực quan để giải thích cho trẻ hiểu được. Để
giải thích từ này cho có hiệu quả thì tôi giảng giải bằng cách đưa ra một từ đồng
nghĩa quen thuộc với trẻ là từ “chăm chỉ”, “chịu khó” là “chăm chỉ” hoặc đưa ra từ
trái nghĩa là “ lười biếng” là không chăm chỉ, không chịu khó.
Khỉ sử dụng biện pháp này tôi luôn theo dõi phản ứng chung của trẻ trong
lớp, nếu trẻ tỏ ra lúng túng thì tôi sẽ chọn từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa quen thuộc
hơn để giúp trẻ hiểu. Với biện pháp này trẻ sẽ dễ dàng hiểu được nghĩa của từ một
cách ngắn gọn, dễ nhớ, dễ gây ấn tượng đối với trẻ. Biện pháp này còn ảnh hưởng
tích cực đến sự phát triển khả năng tư duy, suy luận của trẻ. Ngoài việc hiểu được
nghĩa của từ bằng các tác phẩm, trẻ còn hiểu được từ như thế nào là đồng nghĩa
hoặc trái nghĩa với nhau. Từ đó trẻ có thể sử dụng chúng trong hoạt động lời nói
của mình. Tôi luôn lựa chọn từ đồng nghĩa hay trái nghĩa phù hợp với trẻ, phù hợp
với ngữ cảnh đó để giải thích cho trẻ hiểu.
*Giải pháp 4: Mở rộng vốn từ cho trẻ mọi lúc, mọi nơi.
Để giúp trẻ phát triển vốn từ một cách tốt nhất tôi luôn dạy trẻ mọi lúc, mọi
nơi, qua các giờ hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ hằng ngày.
Ví dụ: Trong giờ đón, trả trẻ tôi luôn dạy trẻ chào hỏi lễ phép với ông bà,
cha mẹ, cô giáo. Trong giờ hoạt động học, hoạt động vui chơi tôi cho trẻ xem tranh
ảnh, vật thật được trang trí trên lớp, tường, các góc chơi theo chủ đề, kích thích trẻ
trả lời câu hỏi của cô, cho trẻ làm quen với các từ mới, từ khó, dần dần vốn từ của
điều kiện cô giáo phải sử dụng đồ dùng đồ chơi đó sao cho đúng lúc đúng chỗ phù
hợp với nội dung bài dạy, lứa tuổi trẻ. Vì thế hàng ngày hàng giờ tôi cùng các chị
em trong trường, cùng phụ huynh sưu tầm các nguyên vật liệu thiên nhiên, tận
dụng những nguyên vật liệu sẵn có như chai, lọ, vải vụn….để làm ra những đồ
chơi đẹp, hấp dẫn lôi cuốn trẻ vào bài học.
Trong các giờ học, tôi luôn chú ý đến việc lựa chọn đồ chơi cho phù
hợp với lứa tuổi. Trẻ 5-6 tuổi tôi sử dụng các đồ chơi lắp ghép nhiều bộ phận(Đoàn
tàu, ngôi nhà)
Có thể sử dụng nhiều đồ chơi khác nhau cùng một lúc. Ban đầu chúng được giấu
kín trong túi, sau được đưa ra lần lượt cho trẻ xem, sử dụng trao đổi về nó...Trẻ
phải gọi tên chính xác đồ chơi, màu sắc và các bộ phận của nó(tàu hỏa màu xanh,
có đầu tàu, các toa tàu nối đuôi nhau. Trong đầu tàu có chú lái tàu. Các bánh xe
bám vào đường ray. Trên các toa tàu có các hành khách và hàng hóa...)
Tôi luôn chú ý cho trẻ được sử dụng đồ chơi(tháo lắp, cho trẻ hoạt động...)
Sau khi thực hiện biện pháp này tôi thấy trẻ rất hứng thú tham gia vào
hoạt động học cũng hoạt động chơi, từ đó trẻ thường xuyên trao đổi, diễn đạt
nhừng gì trẻ biết với cô giáo và các bạn. Qua đây, vốn từ của trẻ ngày càng phong
phú, trẻ diễn đạt được bằng lời nói những suy nghĩ hay mong muốn của bản thân
mình với mọi người xung quanh.
2 .Về khả năng áp dụng của sáng kiến: Sáng kiến có khả năng áp dụng
rỗng rãi cho trẻ 5-6 tuổi trong các trường mầm non.
II. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
giải pháp trong đơn theo ý kiến của tác giả với các nội dung sau:
Sau một thời gian nghiên cứu và thử nghiệm đề tài, tôi thấy việc phát triển
vốn từ cho trẻ là rất quan trọng. Nó quyết định đến sự thành công của giáo viên
trong quá trình giảng dạy. Tôi thấy rằng các biện pháp mà tôi đưa ra đã giúp cho
hiểu được:
*Những từ ngữ về cuộc sống riêng:
Kết quả khảo sát trẻ trước khi áp dụng sáng kiến(9/2018)
Sĩ
số
Các chỉ tiêu đánh giá
Kết quả
31
trẻ
Trẻ hứng thú tham gia các hoạt
động
64.5%
Trẻ phát âm đúng
67.7%
32.3%
Hiểu được nghĩa của từ
61,3%
39,7%
Phát triển ngôn ngữ- diễn đạt tốt
Hiểu được nghĩa của từ
96,8%
3,2%
Phát triển ngôn ngữ- diễn đạt tốt
93,5%
6,5%
Đạt
Chưa đạt
3,2%
BẢNG SO SÁNH KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN
S
T
T
Nội dung
Khảo sát trước khi
thực hiện
Đạt
61,3%
Khảo sát sau khi
thực hiện
Đạt
Không
đạt
So sánh
Tỉ lệ đạt
Tăng
3,2%
32,3%
90,3%
9,7%
22,6%
39,7%
96,8%
3,2%
*Điều kiện về cơ sở vật chất:
- Các trang thiết bị cần thiết: Máy tính, máy chiếu.
- Các đồ dùng, đồ chơi sẵn có và tự tạo...
- Lớp học đầy đủ trang thiết bị cần cho trẻ.
*Điều kiện về giáo viên:
Giáo viên mầm non, yêu nghề, nhiệt tình, ham học hỏi, sáng tạo, nhiều năm
kinh nghiệm.
*Điều kiện về trẻ:
- Trẻ lớp 5 - 6 tuổi.
V. Về khả năng áp dụng của sáng kiến cho những đối tượng, cơ quan, tổ
chức nào hoặc những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu
có): Sáng kiến có khả năng áp dụng rộng rãi cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường mầm
non.
Tôi làm đơn nay trân trọng đề nghị Hội đồng sáng kiến xem xét và công nhận sáng kiến.
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật, không xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ của người khác và hoàn toàn chịu trách nhiệm về thông tin đã nêu trong
đơn.
Bình Xuyên, ngày tháng năm 2019
NGƯỜI VIẾT ĐƠN.
Trần Thị Dung