Luận án Tiến sĩ Triết học: Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo và sự vận dụng của tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay - Pdf 58

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỦY TIÊN

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
VỀ ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỦY TIÊN

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
VỀ ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: CNDVBC&CNDVLS
Mã số: 92 29 002

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

đỡ và động viên em trong thời gian qua.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 02 tháng 05 năm 2019
Nghiên cứu sinh

Nguyễn Thủy Tiên


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................................1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án....................................................4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................4
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu ..........................................5
5. Những đóng góp mới của luận án ........................................................................5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án ..............................................................6
7. Kết cấu của luận án ..............................................................................................6
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI LUẬN ÁN...........................................................................................................7
1.1. Các công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản xoay quanh quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ............7
1.2. Các công trình nghiên cứu thực trạng vận dụng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở Thừa Thiên Huế.............27
1.3. Các công trình nghiên cứu về phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả vận dụng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở Thừa Thiên Huế....................................32
1.4. Khái quát kết quả của các công trình có liên quan và những vấn đề mà luận án
sẽ tiếp tục nghiên cứu ......................................................................................39
Chương 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN

KẾT LUẬN ............................................................................................................184
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ ...........................................187
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................189
PHỤ LỤC


CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGD & ĐT

:

Bộ Giáo dục và Đào tạo

CP

:

Chính phủ



:

Cao đẳng

CBGV

:

Cán bộ giáo viên


GDNN

:

Giáo dục nghề nghiệp

GDTX

:

Giáo dục thường xuyên

HNTW

:

Hội nghị Trung ương

KHKT

:

Khoa học kỹ thuật



:

Quyết định


UBND

:

Ủy ban nhân dân

XHCN

:

Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Muốn thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [27, tr.25 - 26] thì cần phải tìm cho
được động lực cơ bản để phát triển đất nước.
Trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại với sự bùng nổ
của công nghệ thông tin, “thông tin” trở thành nguồn tài nguyên quan trọng của mọi
quốc gia, việc “tin học hóa” tạo nên những chuyển biến nhanh chóng về lượng cũng
như về chất của nền kinh tế thế giới, con người được vũ trang bằng những tri thức
hiện đại sẽ là động lực cơ bản của sự phát triển. Khi mà trí tuệ đã trở thành yếu tố
hàng đầu thể hiện quyền lực và sức mạnh của một quốc gia, thì các nước trên thế
giới đều ý thức được rằng giáo dục không chỉ là phúc lợi xã hội mà còn là động lực
để phát triển kinh tế - xã hội. Hiện nay, các nước muốn phát triển nhanh thì phải
quan tâm đến giáo dục và coi đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho phát triển.
Nguồn lực căn bản cho phát triển đất nước nói chung và Thừa Thiên Huế nói
riêng là nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao; các nguồn lực

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là yêu cầu khách quan được
bắt nguồn từ thực tiễn của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế,
cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức tiếp tục được đẩy mạnh, đặc biệt
là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tác động đến các nền kinh tế thế giới. Đổi
mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo là quá trình cải biến sâu sắc
toàn diện, đồng bộ, tích cực, khẩn trương, nhưng phải có lộ trình phù hợp. Trong
quá trình cải biến đó, bên cạnh những thuận lợi và thời cơ cũng có không ít khó
khăn và thách thức. Vì thế, để đảm bảo cho sự nghiệp đổi mới tiếp tục đạt được
những thành tựu mong muốn, trước hết cần phải nắm vững và quán triệt các quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào
tạo. Những quan điểm này đặt cơ sở cho việc định hướng để xác định và giải quyết
các nhiệm vụ cấp bách và lâu dài trong lĩnh vực đổi mới giáo dục của các cấp từ
trung ương đến địa phương. Mặt khác, thông qua sự cụ thể hóa, hiện thực hóa, cá
biệt hóa các vấn đề về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở những địa
phương khác nhau để làm cho nội dung những quan điểm trên được phong phú hơn
và sinh động hơn.
2


Với lợi thế là một trung tâm giáo dục và đào tạo lớn của khu vực miền Trung
và cả nước, Thừa Thiên Huế đang ra sức thực hiện việc đổi mới căn bản và toàn
diện lĩnh vực giáo dục và đào tạo của tỉnh. Việc vận dụng đúng đắn quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo sẽ góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; tạo nên động lực phát triển kinh tế xã hội của Thừa Thiên Huế. Do đó, để tiếp tục đẩy mạnh đổi mới giáo dục và đào
tạo nhằm đáp ứng các mục tiêu tổng quát về phát triển, Thừa Thiên Huế xác định:
“Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo, đáp
ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của
nhân dân. Giáo dục con người Thừa Thiên Huế phát triển toàn diện và phát huy tốt
nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân. Phấn đấu đến năm 2025, giáo
dục Thừa Thiên Huế đạt trình độ tiên tiến trong khu vực” [146].

căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, luận án làm rõ sự vận dụng những quan
điểm đó ở Thừa Thiên Huế, đồng thời luận giải một số định hướng và giải pháp cơ
bản nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả vận dụng quan điểm của Đảng về đổi mới giáo
dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ của luận án
Để thực hiện mục đích trên, luận án phải giải quyết những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và xác
định những vấn đề mà luận án tiếp tục nghiên cứu.
Thứ hai, phân tích và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của các quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng vận dụng quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở Thừa Thiên Huế.
Thứ tư, đề xuất một số định hướng, nhóm giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
hiệu quả việc đổi mới giáo dục và đào tạo ở Thừa Thiên Huế theo quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo và sự vận dụng quan điểm đó ở tỉnh
Thừa Thiên Huế.

4


3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung:
- Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
- Tập trung vào Nghị quyết 29/NQ - TW “Về đổi mới căn bản, toàn diện

Thứ ba, luận án đề xuất một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm
nâng cao hiệu quả vận dụng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở Thừa Thiên Huế.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần làm rõ một cách có hệ thống các quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; sự vận dụng
quan điểm đó ở Thừa Thiên Huế trong thời gian qua và các giải pháp nâng cao hiệu
quả vận dụng trong giai đoạn hiện nay.
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ việc nghiên cứu và
giảng dạy vấn đề về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo quan điểm
của Đảng.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và danh mục những công
trình đã công bố của tác giả có liên quan đến đề tài luận án, nội dung luận án gồm
có 4 chương với 14 tiết.

6


Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là một trong ba đột phá chiến
lược để phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay. Vì vậy, vấn đề này đã thu hút
sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu. Và cho đến nay, đã có rất nhiều công
trình khoa học đề cập đến. Căn cứ kết cấu nội dung của luận án, tác giả chia các
công trình nghiên cứu thành các nhóm nghiên cứu sau:
1.1. Các công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản xoay quanh quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Khi đề cập đến khái niệm giáo dục và đào tạo, có một số công trình nghiên cứu

thỏa mãn các đòi hỏi hiện tại, trong đó vừa có ý nghĩa dự báo, vừa có ý nghĩa quy
hoạch, vừa có ý nghĩa kế hoạch” [4, tr.422]. Công trình này giúp tác giả luận án hiểu rõ
hơn về bản chất của việc cải cách để phát triển. Tuy nhiên công trình này chưa nói lên
được sự khác nhau căn bản giữa cải cách và đổi mới.
Công trình “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam” của
Ban Tuyên giáo Trung ương, Tổng cục Dạy nghề, Viện Nghiên cứu phát triển
phương Đông [2] đề cập đến nhiều nội dung, trong đó có bàn đến khái niệm đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Theo đó, đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo là quá trình động chạm tới tầng sâu bản chất của hệ thống giáo dục,
để đưa hệ thống giáo dục lên một trình độ mới, hiệu quả hơn, chất lượng hơn. Tuy
nhiên, tầng sâu bản chất của hệ thống giáo dục là cái gì thì tác giả của công trình
chưa nêu rõ. Vì vậy, tác giả của luận án sẽ tiếp tục phân tích và chỉ rõ vấn đề đó.
Khái niệm này còn được đề cập đến trong công trình “Đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo, nội hàm cơ bản và đặc trưng chủ yếu” của Lê Văn Liêm [75].
Tác giả công trình cho rằng: “Về trạng thái, đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục
và đào tạo chỉ sự chuyển biến mang tính tổng thể và sự tiến bộ toàn diện trên các
phương diện của giáo dục như tư tưởng, chế độ, nội dung, phương pháp giáo dục.
Về nội hàm, đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo nổi bật ba điểm sau:
Thứ nhất, là quá trình bắt kịp trình độ tiên tiến ở những giai đoạn phát triển khác
nhau, mục tiêu theo đuổi cũng khác nhau. Thứ hai, là quá trình chuyển đổi từ giáo
8


dục truyền thống sang giáo dục hiện đại vừa bao gồm sự tiến bộ một cách toàn diện
về tư tưởng, nội dung, phương pháp giáo dục, vừa bao gồm sự phát triển toàn diện,
hài hòa của các cấp, các loại hình giáo dục. Thứ ba, là quá trình không ngừng cải
cách giáo dục sao cho phù hợp với nhu cầu phát triển của kinh tế - xã hội, cải cách
là động lực mang tính nền tảng cho đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào
tạo” [75, tr. 32 - 33]
Công trình “Bàn về giáo dục” của nhiều tác giả [100]. Tác giả Trần Nam

lẽ chưa phải tầm của công cuộc đổi mới lần này mà phải thực sự “nhúng” sâu trong
môi trường quốc tế. Với bài viết này tác giả luận án có thể tham khảo để phân tích
vấn đề đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong xu thế đổi mới để hội
nhập và phát triển.
Công trình “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục có mang tính quy luật”
của Trần Trí Dũng [179] lại nhìn nhận rằng đổi mới giáo dục ở nước ta là phù hợp
với quy luật khách quan, khi mà cái cũ không còn phù hợp với điều kiện và hoàn
cảnh nữa thì đòi hỏi cái mới ra đời trong sự phát triển của đời sống xã hội; mọi
chủ trương, quyết sách cũng phải tuân theo các quy luật này. Đổi mới căn bản và
toàn diện giáo dục là tuân theo quy luật phủ định của phủ định trong phép biện
chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nếu tuân theo đúng các quy luật khách
quan thì đó là sự phát triển hợp lý và tiến bộ, ngược lại sẽ cản trở đến sự phát triển
của đất nước. Tác giả bài viết khẳng định đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục
và đào tạo là mang tính quy luật phù hợp với điều kiện đổi mới giáo dục và đào
tạo hiện nay.
Công trình “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực” của Nguyễn Bá Dương [181] khẳng định: Đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực là cấp thiết giúp chúng ta vượt
qua khó khăn, thách thức của thời cuộc và phát triển bền vững. Tuy nhiên, nếu
không quyết liệt đổi mới, hoặc đổi mới “nhỏ giọt”, cục bộ, từng phần, tức là giáo
dục, đào tạo vẫn không khác hơn kiểu cũ thì nguy cơ tụt hậu xa hơn vẫn tồn tại,
đường lối đổi mới của Đảng sẽ mất dần động lực phát triển, chúng ta sẽ không thể
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Tác giả luận án cũng
nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề phát triển nguồn nhân lực đối với đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo và cho rằng đây là cơ sở để tác giả phân tích rõ
hơn nội dung này trong luận án.
10


Trong công trình “Đổi mới tư duy lý luận – khâu đột phá trong sự nghiệp đổi



điểm của C.Mác – Ph. Ănghen góp phần đáp ứng yêu cầu mới của công tác tư
tưởng, lý luận và trong công tác xây dựng phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản
lý giáo dục.
Công trình “Quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác về giáo dục và
ý nghĩa của nó đối với vấn đề đổi mới giáo dục ở nước ta hiện nay” của Cao Thu
Hằng [46] cho rằng giáo dục không chỉ được coi là phương thức làm giàu tri thức
cho con người, phục vụ cho xã hội, mà quan trọng hơn, giáo dục là cách thức làm
cho con người được phát triển toàn diện các năng lực của mình. Muốn làm được
điều này, Việt Nam phải không ngừng đổi mới cải cách giáo dục toàn diện.
Công trình“Triết học giáo dục hiện đại” của Khổng Khang Hoa và Lương
Vị Hùng [51] cho rằng: Giáo dục là con đường tất yếu và cơ bản để sức lao động ở
dạng tiềm tàng, khả năng chuyển hóa thành sức lao động hiện thực; giáo dục là hoạt
động thực tiễn xã hội cơ bản của việc sản xuất và tái sản xuất tự thân của nhân loại,
từ đó chỉ ra quan điểm của C.Mác về giáo dục – đào tạo đó là “giáo dục sẽ sản sinh
ra sức lao động”.
Công trình “Tư tưởng của C.Mác về giáo dục và ý nghĩa đối với Việt Nam hiện
nay” của Mai Đức Ngọc [106]. Trên cơ sở phân tích tính lịch sử, tính giai cấp, mục
đích, nội dung giáo dục toàn diện, quan hệ giữa giáo dục và phát triển, tiến bộ xã hội,
cũng như dự báo về sự hình thành và phát triển của nền giáo dục cộng sản chủ nghĩa,
tác giả đã khẳng định tính khoa học, cách mạng, ý nghĩa và giá trị trường tồn trong
quan niệm của C.Mác về giáo dục và sự vận dụng trong điều kiện hiện nay để phát
triển và đổi mới thành công sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước nhà. Đây là những tài
liệu có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn, tác giả luận án sử dụng tham khảo để giải
thích quan điểm của C.Mác - Ph.Ăngghen, V. Lênin về giáo dục và đào tạo.
Công trình “Quan điểm của triết học Mác về sự tha hóa con người – cơ sở lý
luận cho nhận thức về phát triển con người thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ
tư” [56]. Tác giả Nguyễn Minh Hoàn, cho rằng quan điểm của triết học Mác về bản
chất con người là cơ sở lý luận cho việc nhận thức các tiền đề và điều kiện đối với

về giáo dục từ mục tiêu cho đến nội dung, phương pháp giáo dục. Tuy nhiên, công
trình chỉ mới sưu tầm biên soạn mà chưa có những phân tích đánh giá quan điểm
của Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo.
Công trình Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4 [91]; Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5
[92]; Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8 [93]; Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9 [94]. Những
13


công trình này nói đến mục tiêu của giáo dục; nội dung của giáo dục và đào tạo; đạo
đức cách mạng; vai trò của người thầy giáo trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
Những công trình sau đây nói về cơ sở thực tiễn hình thành quan điểm của
Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo:
Công trình “Một số quan điểm cơ bản của Đảng về giáo dục – đào tạo trong
thời kỳ đổi mới” của Nghiêm Đình Vỳ [184] đã trình bày quan điểm của Đảng về
giáo dục và đào tạo qua các giai đoạn phát triển của đất nước; trên cơ sở đó, tác giả
cho chúng ta thấy, việc tiến hành đổi mới giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện
nay là phù hợp với quy luật và tính tất yếu khách quan của lịch sử. Đây là một trong
những cơ sở để tác giả luận án khái quát và hệ thống lại quá trình tiến hành đổi mới
giáo dục và đào tạo ở Việt Nam.
Công trình “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và vai trò, sứ mạng của
các trường đại học khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đào tạo đội ngũ nhân lực
chất lượng cao” của Trần Khánh Đức [32], cho rằng: “Cuộc cách mạng công nghiệp
lần thứ tư với xu hướng chủ đạo là “số hóa” và dựa trên những thành tựu khoa học và
công nghệ hiện đại đã và đang làm thay đổi nhanh chóng mọi diện mạo của đời sống
kinh tế, xã hội của các quốc gia. Trong tiến trình đó, vai trò, vị thế của các trường đại
học nói chung và các trường đại học khoa học và công nghệ nói riêng trong đào tạo
nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao ngày càng được đề cao để thực sự trở
thành đầu tàu cho quá trình phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”
[32, tr.1]. Đây là những nội dung quan trọng để tác giả luận án tham khảo và phân
tích vấn đề giáo dục với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

lượng then chốt cho mọi sự phát triển nói chung, là tốc độ, định hướng cho sự phát
triển xã hội và đất nước trong giai đoạn mới. Với tư cách hiền tài, nguyên khí quốc gia,
việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao này cần phải trên cơ sở tư duy mới,
những quan niệm mới, cách làm mới, phù hợp với những quy tắc mới của kinh tế tri
thức. Tác giả luận án tiếp thu và phát triển vấn đề đào tạo nguồn nhân lực trong điều
kiện kinh tế thị trường đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo hiện nay.
Công trình “Kế hoạch hóa nguồn nhân lực xã hội ở Việt Nam – nhìn từ góc
độ lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Thị Huệ [57] khẳng định: Phát triển và nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột
phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học,
công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh
15


tranh, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững để đưa đất nước lên một
tầm cao mới.
Kết quả của những công trình nghiên cứu trên tạo nên kho dữ liệu đa dạng,
phong phú giúp tác giả luận án có những luận chứng khoa học để phân tích và giải
thích cơ sở thực tiễn hình thành quan điểm của Đảng về giáo dục và đào tạo.
Liên quan đến kinh nghiệm và bài học thế giới có những công trình nghiên
cứu sau đây:
Công trình “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” của Tsunesaburo Makiguchi do
cán bộ giảng dạy khoa Anh văn - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố
Hồ Chí Minh dịch [82], cho rằng: “Giáo dục là tìm thấy giá trị trong môi trường
sống và từ đó phát hiện ra những nguyên lý vật lý và tâm lý chi phối cuộc sống của
ta, rồi ứng dụng những nguyên lý mới phát hiện này vào cuộc sống thực tế để sáng
tạo nên những giá trị mới” [82, tr.260]. Công trình này giúp tác giả luận án có thể
tham khảo về giáo dục Nhật Bản để từ đó có thể rút ra bài học kinh nghiệm cho quá
trình đổi mới giáo dục và đào tạo ở Việt Nam.
Công trình “John Dewey về giáo dục” của Reginald D.Archambault bản dịch

cho rằng: Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học là một trong những vấn đề được các
quốc gia, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức và mạng lưới khu vực và quốc tế
đặc biệt quan tâm. Việc nghiên cứu một số mô hình đảm bảo chất lượng được các
quốc gia trên thế giới sử dụng sẽ rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong bối
cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo hiện nay.
Công trình “Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, y tế ở Việt Nam” của Nguyễn
Minh Phương [120], đã nêu lên kinh nghiệm huy động các nguồn lực xã hội để phát
triển giáo dục và đào tạo của một số nước trên thế giới, như Thái Lan, Singapore,
Hàn Quốc, Úc, Cộng hòa Liên bang Đức, Thụy Điển, Pháp, Anh, Nga, Mỹ, Canađa.
Trên cơ sở đó, gợi mở cho Việt Nam những bài học kinh nghiệm để tiến hành đổi
mới giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay.
Công trình “Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về quản lý giáo
dục và bài học kinh nghiệm áp dụng vào Việt Nam” của Nguyễn Đức Ca [10], cho
rằng ở nước ta hiện nay việc đổi mới quản lý giáo dục còn nhiều bất cập, mang tính
bao cấp, ôm đồm, sự vụ và chồng chéo, phân tán, trách nhiệm và quyền hạn quản lý
chuyên môn chưa đi đôi với trách nhiệm quyền hạn quản lý về nhân sự và tài chính”
[10, tr.103]. Những kinh nghiệm quản lý giáo dục của một số quốc gia trên thế giới
17


như Hàn Quốc, Anh, Singapore, Phần Lan sẽ góp phần gợi mở cho quá trình đổi
mới cải tiến quản lý giáo dục ở Việt Nam.
Nhìn chung, các công trình trên đã phân tích sự ảnh hưởng của quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức, toàn cầu hóa, hội nhập
quốc tế cũng như sự ảnh hưởng của cách mạng 4.0 đối với giáo dục. Tuy nhiên,
những vấn đề khác cũng có liên quan và ảnh hưởng không nhỏ đối với quá trình đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo như vấn đề cơ chế, chính sách, điều
kiện, hoàn cảnh của đất nước. Những vấn đề này tác giả sẽ tiếp tục triển khai và làm
rõ trong luận án.
Tóm lại, những công trình trên đã nghiên cứu ở từng góc độ khác nhau về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status