1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả luận án
Lê Xuân Cường
LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận án xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành, sâu sắc đối với
TS Nguyễn Văn Thủy và GS.TS Ngô Sỹ Hiền đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ, có nhiều định hướng khoa học có giá trị giúp cho tác giả hoàn thành
luận án này.
Tác giả trân trọng cảm ơn tập thể Bộ môn Đạn, Khoa Vũ khí; Bộ
môn Vật liệu, Khoa Cơ khí; Phòng Sau đại học, Học viện Kỹ thuật Quân
sự; Lữ đoàn Công binh 543, Quân khu II; Trung tâm DASI, Đại học Bách
khoa Hà Nội; Phòng Giám định hoá học và Phòng Tham mưu, Viện Khoa
học hình sự; các nhà khoa học và bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi, cung cấp nhiều tài liệu, các kiến thức khoa học hiện đại và
đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho luận án.
Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn đối với những người thân
trong gia đình đã thông cảm, động viên và chia sẻ những khó khăn trong
suốt thời gian làm luận án.
2
Tác giả luận án
Diện tích miden của mảnh
mm2
ρkk
Mật độ không khí
kg/m3
v
Tốc độ mảnh
m/s
m
Khối lượng mảnh
g
v0
Tốc độ ban đầu của mảnh
m/s
vc
K
Hằng số
kPa.Pa.s
T
Chu kỳ dao động riêng của các tòa nhà
s
Q
Nhiệt lượng nổ
Kcal/kg
D
Tốc độ nổ của thuốc nổ
m/s
dкр
Đường kính tới hạn của thuốc nổ
mm
Lmax
Chiều sâu xuyên của mảnh vào vật cản
mm
Bề dày mảnh
mm
X
Khoảng cách từ tâm đến vật cản
m
d
Đường kính vật nổ
mm
Hệ số nhồi
%
Diện tích xung quanh của mảnh
mm2
SVĐ
Sóng va đập
PTHH
Phần tử hữu hạn
DV,VC
Dấu vết, vật chứng
SPN
Sản phẩm nổ
SEM
Kính hiển vi điện tử quét
BXL
Bộ xử lý
IMS
Phổ ion di động
GC/MS
thuốc nổ… để vận dụng các phương pháp phân tích hoá học, hoá lý, mô
phỏng thực nghiệm hiện trường nổ và tính toán các thông số cơ bản để xác
định loại thuốc nổ, vật nổ, nguyên lý gây nổ, giúp cơ quan điều tra truy
nguyên nguồn gốc vật nổ, đối tượng gây án.
Hiện nay, tuy việc nghiên cứu dấu vết hình sự của hiện trường nổ
đã và đang được triển khai, nghiên cứu, ứng dụng trên cơ sở các thành tựu
của khoa học hình sự (KHHS) thế giới, kết hợp với kinh nghiệm đúc rút từ
thực tế công tác điều tra đã đạt được những kết quả đáng kể. Song công
7
tác giám định này đến nay vẫn còn là vấn đề phức tạp và chưa được nghiên
cứu một cách thấu đáo bởi việc tiếp cận đồng bộ lý thuyết của các chuyên
ngành khác nhau và áp dụng các trang thiết bị, tài liệu có liên quan còn gặp
nhiều khó khăn. Xuất phát từ thực tiễn và trên bình diện lý luận của vấn
đề nghiên cứu đặt ra đều có những đòi hỏi mang tính cấp thiết. Chính vì
vậy, tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu xác định loại vật nổ thông qua dấu
vết ở hiện trường các vụ án có sử dụng chất nổ” làm đề tài luận án tiến sĩ
kỹ thuật của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của luận án
Sử dụng các công cụ khoa học của ngành cơ kỹ thuật như Vật lý nổ,
biến dạng, phá huỷ, va đập tương tác để phân tích quá trình nổ, tác dụng
vụ nổ và các dấu vết còn lại trên hiện trường vụ nổ nhằm xác định một số
đặc trưng của vật nổ.
Bổ sung và hoàn thiện lý luận KHHS, giúp nâng cao chất lượng, hiệu
quả công tác KNHT và giám định vật nổ của lực lượng KTHS.
3. Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu:
Một số loại vật nổ điển hình được tội phạm sử dụng gần đây, trong
Ý nghĩa khoa học:
+ Bổ sung cơ sở lý luận cho khoa học hình sự trong nghiên cứu về quá
trình nổ của các loại vật nổ; khảo sát, phân tích dấu vết hiện trường và trong
phòng thí nghiệm để xác định các tham số của vật nổ và loại vật nổ;
+ Nghiên cứu khai thác, ứng dụng phần mềm Ansys Autodyn3D mô
phỏng quá trình nổ và tương tác của sản phẩm với vỏ bọc, kết hợp với tính
toán bổ sung cho phép xác định các thông số đặc trưng của vật nổ;
9
+ Xây dựng các phương pháp khoa học xác định vật nổ trong nghiên cứu
điều tra, phân tích hiện trường. Làm sáng tỏ thêm cơ chế hình thành dấu vết
hiện trường của vụ nổ bằng các mô hình lý thuyết, mô phỏng số và thực
nghiệm.
Ý nghĩa thực tiễn:
Việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu dấu vết hiện trường của
vụ nổ và xây dựng được quy trình xác định loại vật nổ của luận án cho
phép xác định loại vật nổ tương đối hiệu quả và có thể ứng dụng trong
thực tiễn điều tra các vụ án có sử dụng vật nổ.
6. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình của tác giả,
danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu thành 4
chương:
Chươ ng 1: Tổng quan v ề vật n ổ và các nghiên cứu xác định vật nổ
Giới thiệu tổng quan v ề v ật nổ, trình bày về quá trình biến đổi nổ,
tác dụng của vật nổ để tạo ra dấu vết trên hiện trườ ng và vai trò của
công tác điều tra. Chương 1 cũng trình bày về tình hình nghiên cứu về
vật nổ hiện nay ở trong nước và trên thế giới, đề cập đến những vấn đề
còn tồn tại về các phương pháp xác định định dấu vết nổ để từ đó đề ra
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ VẬT NỔ
VÀ CÁC NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH VẬT NỔ
1.1. Vật nổ và tình hình sử dụng vật nổ của tội phạm
1.1.1. Nguyên lý kết cấu vật nổ
Vật nổ là tên gọi thông dụng trong điều tra hình sự của các thiết
bị nổ, bao gồm một khối thu ốc nổ và cơ cấu kích nổ. Dướ i tác độ ng của
xung kích thích ban đầu, xảy ra biến đổi nổ, tạo ra tiếng nổ và phá hủy
môi trường xung quanh.
Như vậy, vật nổ phạm tội sử dụng có thể là loại đạn dượ c quân
dụng (như đạn pháo, mìn, lựu đạn,…), cũng có thể chế tạo từ vật liệu
nổ quân dụng hay vật liệu nổ công nghiệp, thậm chí từ vật liệu nổ tự
chế. Về nguyên tắc, kết cấu vật nổ gồm các bộ phận cơ bản: vỏ bọc,
thuốc nổ và ngòi nổ.
Vỏ bọc vật nổ: là bộ phận ngoài cùng, có tác dụng để chứa
thuốc nổ, bộ phận gây nổ hoặc để ngụy trang.
Có thể chia vỏ bọc vật nổ thành 2 loại: vỏ bọc kim loại (gọi t ắt là
vỏ hay vỏ kim loại) và vỏ bọc bao gói (bằng các vật liệu khác như gỗ,
nhựa...).
+ Vỏ bọc kim loại:
Vỏ bọc kim loại điển hình là các loại dùng để chế tạo vũ khí quân
dụng như vỏ đạn pháo, cối, lựu đạn... Vật liệu dùng để chế tạo vỏ đầ u
đạn là một trong những yếu tố h ết s ức quan tr ọng, v ật li ệu có ảnh
hưởng trực tiếp đến tính năng kỹ, chiến thuật của đầu đạn như độ phá
mảnh, độ an toàn khi bắn.
12
C60
0,60 0,65
Mn
0,50÷0,8
0
Si
0,17÷0,40
P
S
Cu
0,06
0,30
0,06
0,30
0,06
16mm
12mm
КЧ 403
40
3
4
201
КЧ 354
35
4
5
201
КЧ 303
30
3
15
Hình 1.2. Vật nổ có vỏ bọc bên ngoài bằng ni lông, giấy
* Vỏ bọc bằng chai l ọ th ủy tinh
Loại vỏ bọc này đối tượng thường nhồi trực tiếp thuốc nổ vào trong,
thậm chí còn bố trí thêm các vật gây sát thương như sỏi, đá, mảnh kim loại,
đinh hay bi kim loại (hình 1.3) rồi ngụy trang để dễ gây án 4 , 29 , 51 .
Hình 1.3. Vật nổ có vỏ bọc bên ngoài bằng chai thủy tinh
16
* Vỏ bọc bằng hộp nhựa, ống tre, gỗ: Vỏ bọc bằng nhựa cũng đa
dạng, tội phạm thường lợi dụng các vật dụng có sẵn là các ống nhựa, sau đó
chế tạo lại cho phù hợp với ý đồ và mục đích của chúng (hình 1.4). Riêng đối
với vỏ bọc bằng tre, gỗ thường thấy phổ biến ở các vùng miền có nhiều tre,
gỗ 4 , 29 .
Hình 1.4. Vật nổ có vỏ bọc bên ngoài bằng ống tre, chai nhựa
Thuốc nổ: là hợp chất hóa học đơn lẻ hoặc hỗn hợp cơ học của
chúng, dưới tác động của bên ngoài (các xung kích thích) có khả năng biến
đổi hóa học tự lan truyền với sự tạo thành các sản phẩm khí và tỏa ra nhiệt
lượng lớn 7 , 8 , 9 , 12 , 29 , 34 .
Dựa vào chế độ biến hoá nổ đặc trưng và điều kiện kích thích, phù
+ Kiểu ngòi nổ nhiệt: Vật nổ sử dụng ngòi nổ nhiệt thường được
chế tạo bằng cách sử dụng dây cháy chậm để dẫn lửa gây nổ kíp nổ đốt
(hình 1.7). Nhiều trường hợp, đối tượng tự chế tạo ngòi nổ 4 , 29 , 50 ,
51 .
Hình 1.7. Vật nổ sử dụng ngòi nổ nhiệt
+ Kiểu ngòi nổ điện: Trong tất cả các loại vật nổ thường gặp thì
kiểu ngòi nổ điện là đa dạng nhất. Các nguồn điện được ứng dụng trong
các thiết bị gia dụng, công nghiệp đều có thể trở thành nguồn điện kích nổ
vật nổ. Một số kiểu ngòi nổ điều khiển từ xa, hẹn giờ được các đối tượng
19
sử dụng phổ biến hiện nay như sử dụng điện thoại di động, điều khiển
phương tiện, đồ chơi điện tử 4 , 29 , 50 , 51 .
Để kích hoạt ngòi nổ, có một cơ cấu bẫy lắp với ngòi khi cài đặt vật
nổ: là bộ phận (chi tiết) kết nối với bộ phận kích thích của ngòi nổ, làm
cho bộ phận kích thích hoạt động khi ai đó vô tình tác động đến nó, ví dụ
dây vướng nổ trong ngòi nổ cơ, công tắc nguồn thiết bị dân dụng.
1.1.2. Tình hình sử dụng vật nổ của tội phạm
Trong nh ững năm gần đây, tình hình tội phạm hình sự có liên quan
đến sử dụng vũ khí, vật liệu nổ ở nướ c ta có chiều hướ ng gia tăng, tính
chất vụ việc nghiêm trọng, diễn biến ph ức t ạp và ngày càng nguy hiểm
3 , 4 , 10 , 18 .
Loại tội phạm này có thể coi là một trong số nhóm các loại tội
phạm nguy hi ểm nh ất hi ện nay và đang dần hiện hữu trở thành mối lo
ngại tiềm tàng đối với lực lượ ng chức năng trong công tác đấ u tranh
phòng, chống tội phạm, b ởi vì khi tiến hành điều tra, các đố i tượ ng
̉
ố vụ
nổ
Thuố
c nổ
quân
STT
sự
Thuố
c nổ
công
nghiệ
p
Thuố
c nổ
tự
chế
Thuố
c nổ
khác
Có
Có
thành
47
2
1
6
76
156
21
Năm 2011
2
11
9
55
8
3
22
6
65
10
9
4
87
2 215
13
6
63
21
11
57
6 189
Vật liệu nổ quân dụng là vật liệu nổ sử dụng trong lĩnh vực quốc
phòng, an ninh [4], [32]. Nhóm này thường gồm các loại thuốc nổ và phụ
kiện nổ (hình 1.9).
Vật liệu nổ quân dụng thường được các đối tượng trộm cắp, mua
bán trái phép, sau đó chế tạo thành vật nổ để đi gây án. Một số loại thuốc
nổ thường được các đối tượng sử dụng như: TNT, Hexogen hay một số
loại thuốc nổ hỗn hợp trên cơ sở các loại thuốc nổ này. Loại này rất phổ
biến ở các vùng còn nhiều dấu tích bom, mìn, đạn pháo, đạn cối… còn sót
lại sau chiến tranh, ở các khu công nghiệp quốc phòng hoặc gần khu quân
sự.
23
a)
b)
Hình 1.9. Mẫu thu trong vụ án (a) bánh thuốc nổ TNT,
(b) nụ xòe, dây cháy chậm
Vật nổ sử dụng vật liệu nổ công nghiệp: Vật liệu nổ công nghiệp
rất phổ biến ở nước ta vì các công ty, xí nghiệp khai khoáng thường hay sử
dụng [4]. Công tác quản lý trong quá trình sử dụng loại vật liệu nổ này còn
nhiều bất cập, đôi lúc để sơ xuất dẫn đến đối tượng chiếm đoạt rồi đem
tiêu thụ trên thị trường. Vật liệu nổ loại này thường gồm thuốc nổ Amônít,
ANFO, nhũ tương, kíp nổ điện, kíp nổ đốt (hình 1.10) và các loại vật liệu nổ
nhập khẩu khác.
ứng hóa học xảy ra với tốc độ rất cao và tỏa nhiều nhiệt. Sóng nổ sinh ra
trong phản ứng đó sẽ va đập, làm biến dạng và kích động lớp tiếp theo, lan
truyền sau một thời gian không quá phần nghìn giây. Sự lan truyền nổ tiếp
theo dọc theo liều thuốc phụ thuộc vào cường độ của quá trình trong lớp
đầu tiên. Nếu xung kích thích của lớp này đủ mạnh thì sự truyền nổ tiếp
theo dọc liều thuốc và sự nổ ổn định của nó được đảm bảo, ngược lại quá
trình bị hạn chế bởi sự bùng nổ cục bộ hay bị dập tắt ở các đoạn đầu tiên
của liều thuốc.
Thuốc nổ được đặc trưng bằng một số các tham số: mật độ ρ0, nhiệt
lượng nổ Q, tốc độ nổ D, đường kính tới hạn dкр, đường kính giới hạn dпр,
chỉ số đẳng entropi k. Nhiệt lượng Q cho phép xác định năng lượng nổ của
liều thuốc nổ đã cho E: E=mTNQ, ở đây mTN – khối lượng liều thuốc.
Tốc độ nổ là hằng số (thường đạt giá trị hàng ngàn m/s) và không phụ
thuộc vào đường kính của liều thuốc đã cho (thường xét liều thuốc hình trụ)
nếu đường kính của nó lớn hơn đường kính giới hạn nào đó dпр (trên đoạn
đầu tại vị trí kích nổ, tốc độ nổ có thể biến đổi). Khi giảm đường kính liều
thuốc nhỏ hơn dпр tốc độ nổ giảm và khi giảm đến đường kính tới hạn dkр tốc
độ nổ đạt giá trị cực tiểu. Đối với liều thuốc có đường kính nhỏ hơn tới hạn
thì không có nổ ổn định. Đặc trưng điển hình của sự thay đổi tốc độ nổ D
theo đường kính liều thuốc d cho trên hình 1.12.