BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------------------------
BÙI THỊ HẰNG
LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU
TỔNG HỢP I VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------------------------
BÙI THỊ HẰNG
LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU
TỔNG HỢP I VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH
: KẾ TOÁN
MÃ SỐ
đình, bạn bè, đồng nghiệp,…đặc biệt là TS. Nguyễn Tuấn Duy đã quan tâm giúp đỡ,
hướng dẫn tận tình với những góp ý vô cùng quý báu để tôi có thể hoàn thiện được
đề tài nghiên cứu này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo, toàn thể cán bộ
công nhân viên Công ty đã luôn hỗ trợ tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình tôi
thu thập thông tin, tài liệu làm cơ sở thực tế để hoàn thiện luận văn này.
Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu và thực hiện, dù đã cố gắng hết sức
nhưng do kiến thức, khả năng nghiên cứu và kinh nghiệm còn nhiều hạn chế nên
luận văn không tránh khỏi những hạn chế còn tồn tại. Vì vậy, tôi rất mong sẽ nhận
được những lời nhận xét, ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo cũng như của các
nhà khoa học và bạn đọc để luận văn có thể hoàn thiện hơn.
Trân trọng cảm ơn!
Hà nội, ngày01 tháng 08 năm 2018
Tác giả:
Bùi Thị Hằng
7
MỤC LỤC
8
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
2
9
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
STT
Tên bảng biểu, hình vẽ
Trang
1
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty
33
2
Sơ đồ 2.2: Trình tự lập BCTC tổng hợp tại Công ty CP
XNK Tổng hợp I Việt Nam
44
3
Bảng 2.1: Bảng lập một số chỉ tiêu trên Bảng CĐKT văn
phòng Công ty
47
1.1.
1.2.
Về mặt lý luận
Chức năng cơ bản của kế toán là cung cấp thông tin về tình hình tài chính và
kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cho các đối tượng sử dụng thông
tin phục vụ cho việc ra quyết định kinh tế. Để làm tốt được chức năng này đòi hỏi
phải làm tốt cả các khâu của công tác kế toán trong đó lập và trình bày báo cáo tài
chính được xem là mắt xích cuối cùng trong chuỗi công việc của kế toán.
Báo cáo tài chính doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng, bởi đó là sản phẩm
của kế toán tài chính, là đầu ra của hệ thống thông tin kế toán. Báo cáo tài chính là
nguồn thông tin quan trọng cho tất cả đối tượng trong và ngoài DN. Đó là báo cáo
tổng hợp nhất về tình hình tài sản, công nợ, vốn chủ sở hữu cũng như kết quả kinh
doanh của DN. BCTC thể hiện khá toàn diện và đầy đủ vị thế tài chính của doanh
nghiệp tại một thời điểm và kết quả hoạt động kinh doanh của DN đó cho một thời
kỳ. Chính vì vậy, thông tin trình bày trên báo cáo tài chính phải trung thực, hợp lý,
khách quan để những người sử dụng thông tin báo cáo tài chính có thể đánh giá
chính xác tình hình tài chính của đơn vị. Thông qua báo cáo tài chính người ta có thể
đánh giá về thực trạng cũng như triển vọng của DN và để DN đưa ra các quyết sách
cho riêng mình. Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp chứa đựng những thông tin
mang tính tổng hợp khái quát về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau một
thời kỳ hoạt động nhất định. Với các thông tin được trình bày trên các báo cáo tài
chính, người sử dụng thông tin sẽ tiến hành phân tích đánh giá để từ đó có thể đưa ra
những quyết định đúng đắn trong việc phát triển doanh nghiệp cũng như xử lý các
mối quan hệ với doanh nghiệp trong tương lai.
Về mặt thực tiễn
Trên thực tế trong các doanh nghiệp hiện nay, việc lập và trình bày báo cáo tài
chính còn ít được coi trọng, còn có những bất cập trong việc tuân thủ những quy
định của chuẩn mực và chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành về chế độ báo cáo
Về lý luận
- Nghiên cứu, hệ thống hóa lý luận cơ bản về lập và trình bày báo cáo tài chính,
phương pháp lập và trình bày các loại báo cáo theo chuẩn mực và chế độ kế toán
hiện hành nhằm cung cấp một cái nhìn tổng quát nhất về BCTC.
- Làm sáng tỏ những nội dung chủ yếu về nguyên tắc và phương pháp lập, trình bày
báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán.
3.2.
Về thực tiễn
Khảo sát, đánh giá thực trạng lập và trình bày báo cáo tài chính tại Công ty CP
Xuất nhập khẩu Tổng hợp I Việt Nam, chỉ rõ những ưu điểm và hạn chế về lập và
trình bày báo cáo tài chính của công ty. Từ đó đề xuất các giải pháp để hoàn thiện
lập và trình bày báo cáo tài chính cho công ty.
4. Đối tượng và phạm vị nghiên cứu của đề tài.
4.1.
Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về lập và trình bày báo cáo tài
chính trong doanh nghiệp, đồng thời cũng nghiên cứu về thực trạng lập và trình bày
báo cáo tài chính tại Công ty CP Xuất nhập khẩu Tổng hợp I Việt Nam.
4.2.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Tại Công ty CP Xuất nhập khẩu Tổng hợp I Việt Nam.
- Về thời gian: khảo sát số liệu năm 2017
Giới hạn về nội dung: Nghiên cứu công tác lập và trình bày Bảng CĐKT và
Báo cáo KQHĐKD. Công ty CP xuất nhập khẩu Tổng hợp I Việt Nam có nhiều đơn
vị cơ sở hạch toán phụ thuộc và các đơn vị hạch toán độc lập,các chi nhánh không
phải là đơn vị kế toán nên chỉ lập báo cáo kế toán gồm các báo cáo: Bảng CĐKT và
Báo cáo KQHĐKD, do đó trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả đã giới hạn
chỉ nghiên cứu về lập BCTC gồm: Bảng CĐKT và Báo cáo KQHĐKD.
BCTC của Công ty.
+ Phương pháp quan sát: Tác giả đã tiến hành quan sát, nghiên cứu các quy
định của Công ty, quy trình kế toán, quy trình lập chứng từ, ghi chép các nghiệp vụ
kinh tế phát sinh của nhân viên kế toán công ty lên phần mềm kế toán; quan sát việc
đối chiếu số dư và khóa sổ kế toán cuối niên độ 31/12/2017 tại Công ty; quan sát
quá trình nhận chứng từ từ các đơn vị cơ sở hạch toán phụ thuộc về phòng kế toán
tại văn phòng Công ty để tiến hành hạch toán và lập BCTC tại văn phòng Công ty.
15
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Tài liệu chungchủ yếu được sử dụng là luật kế toán, chế độ kế toán, các văn
bản quy phạm pháp luật khác liên quan; Các giáo trình về lập và trình bày BCTC
doanh nghiệp nhằm thu thập các thông tin chung, các vấn đề lý luận cơ bản về lập
và trình bày BCTC doanh nghiệp.
Tài liệu Công ty: để lấy số liệu thực tế làm cơ sở để đánh giá thực trạng cũng
như đưa ra các chỉ tiêu định lượng phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài.
+ Một số phương pháp khác: phương pháp thống kê, phương pháp mô tả,…
7. Kết cấu đề tài.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn này gồm 3 chương:
- Chương 1: Lí luận cơ bản về lập và trình bày báo cáo tài chính doanh nghiệp
- Chương 2: Thực trạng lập và trình bày báo cáo tài chính tại Công ty CP xuất nhập
khẩu tổng hợp I Việt Nam
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện lập và trình bày báo cáo tài chính tại Công ty CP
Xuất nhập khẩu Tổng hợp I Việt Nam.
16
Doanh thu là tổng giá trị lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế
toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường góp phần làm
tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu.
Bao gồm: doanh thu bán hàng, doanh thu cung cấp dịch vụ.
Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán
dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các
khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho
cổ đông hoặc chủ sở hữu. Chi phí bao gồm: các chi phí sản xuất kinh doanh phát
sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp và các
chi phí khác.
Kết quả hoạt động kinh doanh trước thuế thu nhập doanh nghiệp phản ánh
tổng số lợi nhuận kế toán thực hiện trong năm báo cáo của doanh nghiệp trước khi
trừ chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp từ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác
phát sinh trong kỳ báo cáo.
Kết quả hoạt động kinh doanh sau thuế thu nhập doanh nghiệp phản ánh
tổng số lợi nhuận thuần (hoặc lỗ) sau thuế từ các hoạt động của doanh nghiệp (sau
khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp) phát sinh trong kỳ báo cáo.
-
Các khái niệm khác:
Kỳ kế toán là khoảng thời gian xác định từ thời điểm đơn vị kế toán bắt đầu
ghi sổ kế toán đến thời điểm kết thúc việc ghi sổ kế toán, khóa sổ kế toán để lập
BCTC. Kỳ kế toán gồm kỳ kế toán năm, ký kế toán quý, kỳ kế toán tháng.
19
Các DN không phải luôn chọn kỳ kế toán hàng năm theo năm dương lịch, mà
có thể chọn một kỳ 12 tháng liên tục bất kỳ. Kỳ 12 tháng mà đơn vị chọn làm kỳ kế
toán năm được gọi là năm tài chính của DN (niên độ kế toán).
BCTC định kỳ: Là hệ thống báo cáo được lập định kỳ theo yêu cầu quản lý của Nhà
nước, của DN. Theo qui định hiện hành, hệ thống báo cáo tài chính định kỳ gồm
báo cáo tài chính năm, báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ và dạng
tóm lược.
Báo cáo tài chính năm là hệ thống báo cáo được lập vào tời điểm cuối năm tài
20
chính để cung cấp thông tin đầy đủ về tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ
sở hữu tại thời điểm kết thúc năm tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và tình
hình lưu chuyển các luồng tiền của DN trong năm tài chính. BCTC năm gồm: Bảng
CĐKT; Báo cáo KQHĐKD; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Bản thuyết minh BCTC.
BCTC giữa niên độ dạng đầy đủ là hệ thống báo cáo được lập vào thời điểm
cuối mỗi quí để cung cấp thông tin đầy đủ về tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn
vốn chủ sở hữu tại thời điểm kết thúc quí báo cáo, kết quả hoạt động kinh doanh và
tình hình lưu chuyển các luồng tiền của DN trong quí báo cáo. Báo cáo tài chính
giữa niên độ dạng đầy đủ ngoài việc phải cung cấp thông tin đầy đủ về tình hình tài
chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp trong quí báo
cáo tương tự như báo cáo tài chính năm, còn phải cung cấp thông tin về tình hình
kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp lũy kế từ đầu năm tài chính đến cuối
quí báo cáo. Riêng bản thuyết minh BCTC giữa niên độ được trình bày tóm lược
những thông tin cơ bản về đặc điểm hoạt động và các sự kiện, các giao dịch trọng
yếu của doanh nghiệp trong quí báo cáo. BCTC giữa niên độ dạng đầy đủ, gồm:
Bảng CĐKT giữa niên độ dạng đầy đủ; Báo cáo KQHĐKD giữa niên độ dạng đầy
đủ; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giữa niên độ dạng đầy đủ; Bảng thuyết mình BCTC
chọn lọc.
BCTC giữa niên độ dạng tóm tắt là hệ thống báo cáo được lập vào thời điểm
cuối mỗi quí để cung cấp các thông tin chủ yếu, mang tính tổng hợp cao về tình
hình tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, tình hình kinh doanh và các luồng
mẹ hoạt động theo mô hình có công ty con phải lập theo qui định để tổng hợp và
trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ
sở hữu tại thời điểm kết thúc kỳ báo cáo; kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình
lưu chuyển các luồng tiền trong kỳ báo cáo của toàn Công ty, Tổng công ty. BCTC
hợp nhất được lập dựa trên cơ sở hợp nhất báo cáo của công ty mẹ và các công ty
con.
BCTC tổng hợp: Là hệ thống báo cáo mà các đơn vị kế toán cấp trên có các đơn vị
kế toán trực thuộc, các Tổng công ty hoạt động theo mô hình không có công ty con
phải lập theo qui định để phản ánh và cung cấp thông tin về tình hình tài chính và
kết quả hoạt động kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ của toàn đơn vị, Tổng
công ty. BCTC tổng hợp được lập dựa trên cơ sở hợp cộng báo cáo của đơn vị cấp
trên và các đơn vị thành viên.
1.1.3. Mục đích, ý nghĩa của lập và trình bày báo cáo tài chính.
Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 – Trình bày báo cáo tài chính (VAS21)
quy định: Mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp các thông tin về tình hình tài
chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu
cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh
tế, đó là: các nhà đầu tư hoặc có tiềm năng đầu tư, những người cung cấp tín dụng,
các nhà phân tích tài chính, các văn phòng nhà nước, và các nhà quản trị doanh
nghiệp, trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Cụ thể:
Đối với các nhà quản lý doanh nghiệp:
Thông tin trên BCTC giúp cho các nhà quản lý DN đánh giá được thực trạng
tài chính, tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của DN sau một thời kỳ. Từ đó,
họ có thể phân tích tìm nguyên nhân, đưa ra các biện pháp khắc phục tồn tại và các
quyết định dinh doanh ngắn hạn, dài hạn phù hợp với xu hướng phát triển của
doanh nghiệp.
Mặt khác, việc công bố công khai các thông tin trên BCTC định kỳ về tình
hình hoạt động của DN sẽ giúp các nhà quản lý DN cạnh tranh và thuyết phục
các nhà đầu tư, các chủ nợ về khả năng kinh doanh có hiệu quả cao, hạn chế rủi
ro để tìm nguồn vốn.
Tài sản;
Nợ phải trả;
Vốn chủ sở hữu;
Doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ;
Các luồng tiền.
Các thông tin này cùng với các thông tin trình bày trong Bảng thuyết minh báo
cáo tài chính giúp người sử dụng dự đoán được các luồng tiền trong tương lai và
đặc biệt là thời điểm và mức độ chắc chắn của việc tạo ra các luồng tiền và các
khoản tương đương tiền.
Mục tiêu cuối cùng của kế toán là ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin về tài
sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu, thu nhập khác, chi phí và kết quả hoạt
động kinh doanh, và các luông tiền của một doanh nghiệp. Các thông tin này được
trình bày dưới hình thức các báo cáo tài chính để công bố cho những người ngoài
doanh nghiệp sử dụng.
23
Báo cáo tài chính là sản phẩm quan trọng nhất của quy trình kế toán; nó là
công cụ cơ bản để công bố thông tin kế toán của doanh nghiệp. Nó tổng hợp và
truyền đạt tất cả các số liệu kế toán được phản ánh trên các tài khoản kế toán, hoặc
cả số liệu từ các chứng từ kế toán được lập và trình bày báo cáo tài chính để đáp
ứng tốt nhất mọi nhu cầu của người sử dụng thông tin kế toán.
1.2. Yêu cầu, nguyên tắc về lập và trình bày BCTC.
1.2.1. Yêu cầu đối với thông tin kế toán trên BCTC
Thông tin kế toán trình bày trên BCTC để cung cấp cho các đối tượng dử dụng
cần đáp ứng được các yêu cầu sau:
Trung thực: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo
trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng,
bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Được lập và trình bày trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và
các qui định có liên quan hiện hành. Trong phần thuyết minh báo cáo tài chính, DN
cần khẳng định như là lời cam đoan là BCTC được lập và trình bày phù hợp với
chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam. Trường hợp DN sử dụng chính sách kế toán
khác với quy định của chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành dù đã thuyết minh
đầy đủ trong chính sách kế toán của phần thuyết minh BCTC.
-
Để lập và trình bày BCTC trung thực và hợp lý, DN phải:
+ Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp với đặc điểm hoạt
động kinh doanh của DN trong khuôn khổ qui định của các chuẩn mực kế toán;
+ Trình bày và cung cấp các thông tin, kể cả các chính sách kế toán thích hợp
với nhu cầu ra quyết định của người sử dụng thông tin; đáng tin cậy; so sánh được
và dễ hiểu;
+ Cung cấp các thông tin bổ sung khi qui định trong chuẩn mực kế toán không
đủ để giúp cho người sử dụng hiểu được tác động của những giao dịch hoặc những
sự kiện cụ thể đến tình hình tài chính, tình hình và KQKD của DN.
1.2.3. Nguyên tắc lập và trình bày BCTC.
Việc lập và trình bày BCTC phải tuân thủ sáu (06) nguyên tắc đã được quy
định tại Chuẩn mực kế toán số 21 - Trình bày BCTC, bao gồm:
-
Hoạt động liên tục:
BCTC phải được lập trên giả định là DN đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục
hoạt động kinh doanh bình thường trong một tương lai gần, trừ khi DN có ý định
cũng như buộc phải ngừng hoạt động, hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động
của mình.
+ Một chuẩn mực kế toán khác yêu cầu có sự thay đổi trong việc trình bày.
Khi có thay đổi, DN phải phân loại lại các thông tin mang tính so sánh và phải
giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi có trong phần thuyết minh BCTC.
Trọng yếu và tập hợp
Từng khoản mục trọng yếu phải được trình bày riêng biệt trong BCTC. Các
khoản mục không trọng yếu thì không phải trình bày riêng rẽ mà được tập hợp vào
những khoản mục có cùng tính chất hoặc chức năng.
Khi trình bày BCTC, một thông tin được coi là trọng yếu nếu không trình bày
hoặc trình bày thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo
tài chính làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng BCTC. Tính
trọng yếu phụ thuộc vào quy mô và tính chất của các khoản mục được đánh giá
trong các tình huống cụ thể nếu các khoản mục này không được trình bày riêng biệt.
Tùy theo các tình huống cụ thể, tính chất hoặc quy mô của từng khoản mục có thể là
nhân tố quyết định tính trọng yếu. Ví dụ, các tài sản riêng lẻ có cùng tính chất và
chức năng được tập hợp vào một khoản mục, kể cả khi giá trị của khoản mục là rất
lớn. Tuy nhiên, các khoản mục quan trọng có tính chất hoặc chức năng khác nhau
phải được trình bày một cách riêng rẽ.
Theo nguyên tắc trọng yếu, doanh nghiệp không nhất thiết phải tuân thủ các
quy định về trình bày BCTC của các chuẩn mực kế toán cụ thể nếu các thông tin đó
không có tính trọng yếu.
Bù trừ