ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––––
TRẦN HOÀNG TINH
QUẢN LÝ GIÁO DỤC TÍNH KỶ LUẬT
CHO SINH VIÊN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC
QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
2
THÁI NGUYÊN 2019
2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––––
TRẦN HOÀNG TINH
QUẢN LÝ GIÁO DỤC TÍNH KỶ LUẬT
CHO SINH VIÊN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC
QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
Ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 9140114
tình của cán bộ, giảng viên Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh Đại học
Thái Nguyên, cùngcác trung tâm bạn đã cung cấp các tư liệu, để tác giả hoàn
thành luận án. Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và
đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ trong quá trình học tập và hoàn thành luận án.
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 5 năm 2019
Tác giả
Trần Hoàng Tinh
6
7
MỤC LỤC
8
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
SỐ
VIẾT TẮT
TT
1
2
3
4
Giảng viên
Hoạt động ngoại khóa
Kỷ luật
Lực lượng giáo dục
Quốc phòng – An ninh
Sinh viên
Tính kỷ luật
Nội dung
9
DANH MỤC CÁC BẢNG
10
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ
Biểu đồ:
Sơ đồ:
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ hệ thống trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh trên toàn
quốc
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức của các trung tâm giáo dục quốc phòng và an
ninhthuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo
Sơ đồ 3.1: Tổ chức hệ thống Bảo tàng Quân đội Nhân dân Việt Nam
11
Trong những năm gần đâyở nước ta đã thành lập các trung tâm giáo dục
quốc phòng và an ninh (GDQPAN) trên phạm vi cả nước, để GDQPAN cho
SVcác trường đại học và cao đẳng.
Mục đích của GDQPAN là giúp SV có những hiểu biết về quốc phòng và an
ninh (QPAN), có kiến thức cơ bản về đường lối QPAN, công tác quản lý nhà
nước về QPAN, có những kỹ năng quân sự, an ninh cần thiết, đồng thời giáo
dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng, ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của
công dân, nâng cao tinh thần cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực
thù địch, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
Hàng năm, SV của các trường đại học được đưa vào các trung tâm
GDQPAN học tập, rèn luyện trong khoảng thời gian từ 4 đến 5 tuần, các em
được ăn, ở, tập luyện, được sinh hoạt trong một môi trường có nội quy sinh hoạt
chặt chẽ như trong các nhà trường quân đội, tuy nhiên, còn nhiều SV do chưa có
thói quen và kỹ năng sống nề nếp, trật tựnên gặp những khó khăn trong sinh
hoạt, thậm chí còn vi phạm nội quy, kỷ luật (KL) của trung tâm. Do đó, cần phải
giáo dục TKL cho SV trong các trung tâm trước hết để nâng cao chất lượng các
đợt tập huấn, sau đó là để hình thành ý thức và hành vi sống và lao động có KL
sau này.
Giáo dục TKL cho SV là một biện pháp đảm bảo cho sự thành công của
cáckhóa học, cho chất lượng đào tạo của các trường đại học, nhưng sâu xa hơn
là đểhình thành một phẩm chất quan trọng của người lao động chuyên nghiệp
trong xã hội công nghiệp mà chúng ta đang hướng tới.
Về mặt lý luận, cho đến nay ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu
về giáo dục TKL cho học sinhở các trường phổ thông, SV ở các trường đại học
và học viên ở các nhà trường quân đội. Đặc biệt từ khi Luật GDQPAN được ban
hành, đã có một số công trình nghiên cứu về GDQPAN cho SV, nhưng chưa có
công trình nào nghiên cứu về quản lý giáo dục TKL cho SV trong các trung tâm
GDQPAN.
trung tâm GDQPAN: một là của các trường đại học do Bộ Giáo dục và Đào tạo
quản lý, hai là của các trường quân đội do Bộ Quốc phòng quản lý. Luận án khảo
sát tại 5 trung tâm do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý. Luận án nghiên cứu khảo
14
sáttại 5 trung tâm: Trung tâm GDQPAN Đại học Huế, Trung tâm GDQPAN Đại
học Sư Phạm Hà Nội 2, Trung tâm GDQPAN Đại học Quốc gia Hà Nội,Trung tâm
GDQPAN Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh,Trung tâm GDQPAN Đại
học Thái Nguyên và tiến hành thực nghiệm tại Trung tâm GDQPAN Đại học Thái
Nguyên.
Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2014 đến năm 2018
5. Giả thuyết khoa học
Tính kỷ luật là một phẩm chất quan trọng của nhân cách, có cấu trúc tâm lý
phức tạp, sự hình thành tính kỷ luật cho SV là một quá trình dưới sự tác động
của nhiều yếu tố, trong đó giáo dục và trải nghiệm là hai yếu tố cốt lõi. Quản lý
giáo dục TKL cho SV ở các trung tâm GDQPAN là một vấn đề khoa học và thực
tiễn, nếu ta có những biện pháp quản lý phù hợp với tâm lý lứa tuổi SV,phát huy
được tính chủ động, tích cực, sáng tạo và tự giác của SV và phù hợp với môi
trường giáo dục quân sự ở các trung tâm GDQPAN thì chất lượng giáo dục sẽ
được cải thiện, góp phần thực hiện tốt mục tiêu GDQPAN theo Luật GDQPAN.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục TKL cho SV tại cáctrung
tâm GDQPAN.
Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý giáo dục TKL cho SV tại các trung
tâm GDQPAN.
Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục TKL cho SV tại các trung tâm
của giảng viên (GV) và cán bộ quản lý sinh viên (CBQL SV).
Hình thức quan sát: Thông qua dự giờ và theo dõi các hoạt động ngoài giờ lên
lớp.
7.2.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích của điều tra: Nhằm tìm hiểu nhận thức của các nhà quản lý, GV và
SV về việc giáo dục TKL và quản lý, giáo dục TKL cho SV tại các trung tâm
GDQPAN.
Nội dung điều tra:
+ Đối với cán bộ quản lý (CBQL) trung tâm và GV: khảo sát trình độ nhận
16
thức, thái độ và thực trạng công tác quản lý giáo dục TKL cho SV tại các trung
tâm.
+ Đối với CBQL SV: Đánh giá việc chấp hành KL của SV trong thời gian
học tập tại trung tâm GDQPAN.
+ Đối với SV: Nhận thức của SV về các mục đích, yêu cầu và sự cần thiết
phải chấp hành KL, thái độ và thực trạng hành vi chấp hành KL, đánh giá công
tác quản lý, phương pháp giáo dục TKL tại các trung tâm.
7.2.2.3. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tổng kết, đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhânđể rút ra những bài học
kinh nghiệm trong công tác quản lý giáo dục TKL cho SV tại các trung tâm GDQPAN.
7.2.2.4. Phương pháp phỏng vấn
Sử dụng phương pháp phỏng vấn để có thêm thông tin của các đối tượng
nghiên cứu, nhằm làm sáng tỏ hơn kết quả khảo sát về thực trạng các nội dung
có liên quan đến TKL, công tác giáo dục TKL và quản lý giáo dục TKL cho SV
tại trung tâm GDQPAN.
7.2.2.5. Phương pháp khảo nghiệm
Mục đích khảo nghiệm: Xác định mức độ tin cậy của các biện pháp quản lý
vượt trội hơn so với các môi trường khác trong quá trình đào tạo ở các trường đại
học.
Quản lý giáo dục TKL cho SV tại trung tâm GDQPAN là một tổ hợp các
biện pháp,phù hợp vớiđặc điểm tâm lý lứa tuổi SV,vớimôi trườngquân sự góp
phần tích cực vào việc thực hiện mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ GDQPAN và mục
tiêu đào tạo của các trường đại học.
9. Câu hỏi nghiên cứu:
Bản chất của tính kỷ luật là gì ? quá trình hình thành TKL của SV tại các
trung tâm GDQPAN diễn ra như thế nào ?
Giáo dục TKL cho SV tại các trung tâm GDQPAN có những đặc điểm gì ?
có những yếu tố tác động nào ?
Thực trạng TKL, giáo dục TKL và quản lý giáo dục TKL cho SV ở các
trung tâm GDPAN hiện nay ra sao ?
Quản lý giáo dục TKL cho SV ở các trung tâm GDQPAN cần sử dụng các
biện pháp nào để đạt được hiệu quả cao nhất ?
18
10. Kết quả mới của luận án
Về mặt lý luận: Hệ thống hóa cơ sở lý luận vềKL, TKL, giáo dục TKL và
quản lý giáo dục TKL cho SV tại trung tâm GDQPAN.
Về mặt thực tiễn:
Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng TKL, giáo dục TKL, quản lý giáo
dục TKL và những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý giáo dục TKL cho
SV tại trung tâm.
Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục TKL cho SV phù hợp với đặc
điểm tâm lý lứa tuổi và môi trường thực tiễn tại trung tâm GDQPAN.
11. Kết cấu của luận án
Luận án ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và
lao động. Tổ chức lao động xã hội của chủ nghĩa tư bản dựa vào kỷ luật đói
khát. Tổ chức lao động xã hội của chủ nghĩa cộng sản mà bước đầu là chủ
nghĩa xã hội thì dựa vào sự tự giác, tự nguyện của những người lao động ”.[39,
tr.16]
Trong lĩnh vực Xã hội học Erich Fromm cho rằng: “Không có kỷ luật, cuộc
sống của chúng ta sẽ trở nên chao đảo và thiếu tập trung. Nếu hành động của
chúng ta tùy theo tâm trạng và ý thích của mỗi người thì tất cả những điều đó
không hơn gì một trò tiêu khiển và chúng ta sẽ chẳng bao giờ trở nên xuất sắc
nếu ta không thực hiện những điều chúng ta đặt ra, những mục tiêu mà chúng ta
hướng tới với tinh thần kỷ luật tự giác cao. Là một người lãnh đạo, để có thể
“lãnh đạo” được người khác, hiển nhiên là chúng ta phải “lãnh đạo bản thân”,
điều này chỉ thực hiện được khi chúng ta có TKL tự giác”. [79]
Trong lĩnh vực giáo dục A.X. Macarenko cho rằng: “ Kỷ luật là tập hợp
những quy tắc hành vi, những thói quen đã được hình thành ở con người thông
qua quá trình giáo dục, nó là sản phẩm của toàn bộ quá trình giáo dục, bao gồm
20
cả quá trình giảng dạy, giáo dục chính trị, quá trình hình thành tính cách, cọ xát
và giải quyết xung đột trong tập thể” [47, tr.49].Theo ông điều quan trọng nhất
của KL chính là sự chấp hành những qui định, luật lệ cụ thể, từ đó dẫn tới hình
thành một phẩm chất rất quan trọng đó là năng lực chấp hành các yêu cầu của tổ
chức, đây là nhân tố quyết định làm cho các chuẩn mực, qui tắc của mọi tổ chức
được hiện thực hóa, đảm bảo cho hoạt động của tổ chức, của tập thể và cá nhân
diễn ra theo một trật tự nhất định.
Ở khía cạnh Tâm lý học V.Đ.Culacôp cho rằng“TKL là một phẩm chất gắn
chặt với những phẩm chất khác của nhân cách. Bản chất của nó là khả năng
điều chỉnh hành vi theo đúng yêu cầu của các điều lệ, các qui định…”[12, tr.29].
A.I.Êvenmenco coi “TKL là sự thống nhất giữa sự hiểu biết, niềm tin và
việc thực hiện yêu cầu đó trở thành những điều cần thiết đối với mỗi cá nhân.”.
Tác giả viết tiếp: “Giáo dục một hành vi đẹp, một thói quen tốt cho thanh niên
theo đúng yêu cầu, điều lệ, mệnh lệnh c ủa tổ ch ức, ch ỉ có thể làm đượ c điề u
này trên cơ sở sự giác ngộ, sự tin tưở ng sâu sắc của họ vào sự đúng đắ n
của những điều lệ, mệnh lệnh …” . [13, tr.31]
Nhấn mạnh vai trò của giáo dục TKL cho học sinh A.X.Macarenko cho
rằng: “Sự rèn luyện TKL là một quá trình phức tạp, là kết quả chung của toàn bộ
quá trình giáo dục” [47,tr.37] và KL tạo ra “Vẻ đẹp cho bộ mặt văn hóa của nhà
trường”,“Trường học mà thiếu KL thì giống như cái cối xay nước mà không có
nước” và nhiệm vụ của trường học là phải tìm ra những biện pháp giáo dục
TKL cho học sinh, bởi vì “Kỷ luật làm cho quá trình giáo dục tiến hành có kết
quả và ngược lại kỷ luật là kết quả nỗ lực của cả tập thể học sinh trong các
hoạt động hàng ngày…”. Trong xã hội của chúng ta, kỷ luật là đạo đức. Tính vô
KL hay sống không có kỷ luật là đi ngược lại với lợi ích của cộng đồng xã hội.
Trẻ em cần được giáo dục để chúng hiểu rằng muốn học tập tu dưỡng tốt thì
cần phải có TKL tốt.[46]
I.A.Cairop cho rằng giáo dục TKL trong nhà trường có ảnh hưởng rất lớn
đến kết quả học tập của học sinh. Do đó,muốn nâng cao hiệu quả dạy học phải
chú ý đến việc rèn luyện TKL học tập cho học sinh.[10]
Thomas Gordon trong tác phẩm “Giáo dục không trừng phạt” đã trích dẫn lời
của Glasser: “Những nhà quản lý hiện đại là những người sẵn sàng chia sẻ quyền
lực, ông đưa ra mô hình quản lý ủng hộ sự tham gia của học sinh, việc nhà quản lý,
giáo viên và học sinh cùng ra quyết định và cùng giải quyết những vấn đề phát sinh
là yếu tố chính hình thành và phát triển KL, trật tự, thông hiểu lẫn nhau”.[21, tr.137]
Ân Thực Trước trong tác phẩm Bàn về KL tự giác đã có những đánh giá cao
về vai trò của yết tố môi trường trong quá trình hình thành TKL cho học sinh.
Theo Ông: "Lớp học là môi trường chính yếu để giáo dục KL học tập cho học
sinh. Việc xây dựng một chính sách, một nội quy lớp học thống nhất với sự tham gia
của học sinh, trong đó phản ánh yêu cầu của việc giáo dục KL học tập cho học sinh,
nhân sẽ làm cho tập thể đó trở thành tập thể có KL. TKL cao của mỗi quân nhân
là một nhân tố quan trọng tạo nên TKL của cả tập thể quân nhân, còn động cơ,
hành vi KL quyết định đến tính chất có KL của các hành vi đó và là hạt nhân của
mỗi hành vi KL của quân nhân.
Nguyễn Ngọc Phú [53]: Một số vấn đề tâm lý học quân sự trong xây dưng
quân đội.Tác giả khẳng định: Động cơ hành vi KL chiếm giữ vị trí quan trọng
hàng đầu là các động lực thúc đẩy bên trong hướng quân nhân vào việc tuân thủ
các đòi hỏi của pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ quân đội, mệnh lệnh chỉ
thị của cấp trên... Động cơ hành vi KL là cơ sở trực tiếp của hành vi có KL của
quân nhân và là một thành phần quan trọng nhất trong cấu trúc tâm lý của TKL.
Phạm Minh Thụ [60], khi bàn về sử dụng tổng hợp các phương pháp giáo
dục thói quen hành vi KL cho học viên sĩ quan ở các trường đại học quân sự, tác
giả cũng đã nhấn mạnh vai trò vô cùng quan trọng của KL và khẳng định sự cần
24
thiết phải sử dụng tổng hợp các phương pháp giáo dục hành vi KL cho học viên
sĩ quan ở các trường đại học quân sự. Đề tài đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn
của việc sử dụng các phương pháp giáo dục vào giáo dục KL, qua đó đưa ra cách
thức sử dụng tổng hợp các phương pháp giáo dục nhằm hình thành, phát triển và
hoàn thiện thói quen hành vi KL cho học viên sĩ quan ở các trường đại học quân
sự, đồng thời tác giả cũng đã đề cập đến hoạt động quản lý quá trình giáo dục
KL cho học viên.
Phạm Đình Hòe [30]:“Hệ thống biện pháp giáo dục KL cho học viên văn
hóa nghệ thuật quân đội”. Theo tác giả, thông qua những đặc điểm tâm lý quân
nhân, sự tác động của học tập và rèn luyện để hình thành nhân cách quân nhân là
một việc làm hết sức cần mẫn, tỉ mỉ và lâu dài của cán bộ, chỉ huy, đòi hỏi ở mỗi
cán bộ chỉ huy (mà trực tiếp là những cán bộ, chỉ huy trực tiếp) cần phát huy tính
năng động, sáng tạo, khoa học trong phương pháp giáo dục, để kích thích mỗi quân
rõ vai trò, bản chất của KL, TKL; cơ sở lý luận, thực tiễn và tính cấp thiết của
việc giáo dục TKL quân sự cho quân nhân và xây dựng quân đội cách mạng,
chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục, quản lý giáo dục TKL cho quân nhân.
Trong những nghiên cứu về giáo dục TKLcác tác giả đã bàn đến những
biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục TKL cho người quân nhân trong môi
trường quân sự, đã làm rõ tác dụng, hiệu quả của cácphương pháp giáo dục như
nêu gương, thuyết phục, khen thưởng, trách phạt...
1.1.2.3. Những công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục tính kỷ luật cho sinh
viên
Vấn đề quản lý giáo dục TKL cho SVcác trường đại học cũng được nhiều
tác giả đề cập tới.
Trước hết có một số nhà khoa học đã nghiên cứu những lý thuyết về quản
lý và quản lý giáo dục, tiêu biểu là các tác phẩm “Đại cương khoa học quản lý”
của tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã tập trung làm rõ về
khái niệm quản lý, hoạt động quản lý, chức năng, quy trình và vai trò trong quản
lý...
“Những cơ sở của lý luận quản lý giáo dục” của Nguyễn Trọng Hậu, đã đề
cập một cách hệ thống về lịch sử phát triển của lý luận quản lý giáo dục, về
quan hệ giữa lý luận quản lý giáo dục và lý luận quản lý nói chung; về xây dựng
các mô hình quản lý giáo dục và những vấn đề chung về lý luận quản lý giáo
dục.
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc nghiên cứu quản lý dưới góc độ tâm lý học,
theo tiếp cận hành vi, trong đó bàn rất kỹ về hành vi cá nhân trong tổ chức, nhóm
và quá trình xã hội, các quá trình của tổ chức...
Trong lĩnh vực quân sự, tác giả Lâm Văn Khuy có đề tài: Quản lý giáo dục
TKL cho học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội ở Trường Đại học Chính
trị hiện nay. Đã tiến hành nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục TKL