BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
----------*----------
裴龙(PEI LONG)
Bùi Long
NGHIÊN CỨU QUAN HỆ GIỮA HÁT CỬA ĐÌNH
CỦA NGƯỜI KINH (VIỆT) TỈNH QUẢNG NINH (VIỆT NAM)
VÀ CỦA NGƯỜI KINH TỈNH QUẢNG TÂY (TRUNG QUỐC)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
----------*----------
裴龙(PEI LONG)
Bùi Long
NGHIÊN CỨU QUAN HỆ GIỮA HÁT CỬA ĐÌNH
CỦA NGƯỜI KINH (VIỆT) TỈNH QUẢNG NINH (VIỆT NAM)
Nghiên cứu sinh
裴龙(Pei Long)
Bùi Long
2
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .................................................................................................. 1
DANH MỤC BẢNG .............................................................................................. 4
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU HÁT CỬA ĐÌNH
Ở VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC, CƠ SỞ LÝ LUẬN..................................... 10
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài ...................................................... 10
1.2. Cơ sở lý luận .................................................................................................. 40
Tiểu kết ................................................................................................................. 47
CHƯƠNG 2: MỐI QUAN HỆ GIỮA HÁT CỬA ĐÌNH CỦA NGƯỜI KINH
(VIỆT) TỈNH QUẢNG NINH (VIỆT NAM) VÀ CỦA NGƯỜI KINH TỈNH
QUẢNG TÂY (TRUNG QUỐC) ......................................................................... 48
2.1. Lịch sử phát triển hát múa trong hội Ha tiết người Kinh Quảng Tây, Trung
Quốc...................................................................................................................... 48
2.2. Học hỏi người Việt tỉnh Quảng Ninh để phục hồi hát múa trong hội Ha tiết .... 84
Tiểu kết ................................................................................................................. 99
Chương 3: SO SÁNH HÁT CỬA ĐÌNH CỦA NGƯỜI KINH (VIỆT) TỈNH
QUẢNG NINH (VIỆT NAM) VÀ CỦA NGƯỜI KINH TỈNH QUẢNG TÂY
(TRUNG QUỐC)...................................................................................................100
3.1. Điểm giống nhau giữa hát múa cửa đình của người Việt tỉnh Quảng Ninh và hát
múa trong hội Ha tiết của người Kinh tỉnh Quảng Tây ......................................... 101
3.2. Điểm khác biệt giữa hát múa cửa đình của người Kinh(Việt) tỉnh Quảng
- QTTQ
: Quảng Tây, Trung Quốc
- TCN
: Trước công nguyên
- TK
: Thế kỷ
- Tr
: Trang
- TƯ
: Trung ương
- UBND
: Ủy ban nhân dân
- UNESCO
: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc
- UBQG
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Ở Việt Nam, dân tộc Việt (Kinh) là dân tộc chủ thể, còn ở Trung Quốc, dân
tộc Kinh là một dân tộc thiểu số trong cộng đồng 56 dân tộc. Người Kinh là dân tộc
xuyên biên giới, tuy sinh sống ở hai quốc gia khác nhau, nhưng lại có cùng một
nguồn gốc. Về văn hóa, họ cũng có những đặc điểm chung và những đặc điểm riêng
có độc đáo. Lễ hội hát múa trong hội Ha tiết (Cáp tiết -
哈节)
của người Kinh ở
Trung Quốc và nghệ thuật hát cửa đình của người Kinh( Việt) ở Việt Nam là một ví
dụ. Đây đều là loại hình nghệ thuật biểu diễn dân gian truyền thống. Tùy theo mức
độ giao lưu văn hóa giữa hai nước, đồng bào sinh sống tại biên giới Việt- Trung
cũng lấy việc giao lưu văn hóa văn nghệ dân gian này để vun đắp cho tình hữu nghị
Việt Nam – Trung Quốc
Hát cửa đình của người Kinh ở Việt Nam chủ yếu phân bố ở đồng bằng và
trung du Bắc Bộ. Hát cửa đình còn được người Kinh tại Tam Đảo, thành phố Phòng
Thành, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc bảo tồn đến tận hôm nay. Tùy vào bối cảnh văn
hóa khác nhau, nghệ thuật hát cửa đình hay Cáp tiết giữa hai quốc gia cũng có sự
phát triển và biến đổi nhất định. Ngoài ra, một bộ phận người Việt Nam mà đa phần
là người Kinh còn định cư tại Mỹ, Thái Lan, Lào, Anh, Pháp và một số quốc gia
khác. Liệu họ có còn bảo tồn được nghệ thuật hát cửa đình truyền thống hay không?
Đây thực sự là một vấn đề rất đáng để tiếp tục suy ngẫm và nghiên cứu.
Hát cửa đình là một thể loại âm nhạc dân gian liên quan đến tín ngưỡng cúng
tế thành hoàng làng, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu thuộc lĩnh
vực văn hóa học và âm nhạc dân tộc học. Hát cửa đình của người Kinh (Việt) ở Việt
Quảng Ninh (Việt Nam) và người Kinh Quảng Tây (Trung Quốc), hầu như còn rất ít
được nghiên cứu. Nghệ thuật hát cửa đình của tỉnh Quảng Ninh (Việt Nam) được
hình thành trong bối cảnh văn hóa của đình làng Việt, là một loại hình nghệ thuật
dung hòa trong nó rất nhiều yếu tố văn hóa Việt Nam, là sản phẩm văn hóa đặc
trưng mang giá trị nghệ thuật cao. Nghệ thuật hát múa trong hội Ha tiết của dân tộc
Kinh ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) được hình thành từ sự tán tụng các vị tổ tiên
có công khai thiên lập địa của người Kinh ở Quảng Tây (Trung Quốc) vùng đất này,
là hoạt động văn hóa dân gian được hợp thành từ hoạt động tôn giáo, thờ cúng tổ
tiên và vui chơi giải trí. Ở Việt Nam, nghệ thuật hát cửa đình chủ yếu phân bố ở
miền Bắc, tương đối phong phú đa dạng. Còn các công trình nghiên cứu về nguồn
gốc lịch sử của nghệ thuật hát cửa đình của dân tộc Kinh ở tỉnh Quảng Tây (Trung
Quốc) vô cùng ít ỏi. Chính vì vậy, luận án tập trung nghiên cứu so sánh giữa hát cửa
7
đình của người Kinh (Việt) ở tỉnh Quảng Ninh (Việt Nam) và hát múa trong hội Ha
tiết của người Kinh ở Quảng Tây (Trung Quốc).
3. Phương pháp nghiên cứu
Với hệ thống quan hệ thực tế trong xã hội, văn hóa và tín ngưỡng đi nghiên
cứu hát cửa đình, phải kết hợp những phương pháp của các khoa học như xã hội học,
sử học, nhân học ,văn hóa học,
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: lý thuyết vùng văn hóa, lý thuyết nội
dung và hình thức, lý thuyết biến đổi văn hóa, trong đó bao gồm việc nghiên cứu
các tư liệu, số liệu, sử dụng phương pháp nghiên cứu văn hóa học, dân tộc nhạc học,
âm nhạc học, sử học. Trên cơ sở nghiên cứu tư liệu, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích,
tổng hợp và so sánh để nêu lên các đặc điểm của văn hóa bản địa và âm nhạc dân gian.
- Phương pháp nghiên cứu điền dã: Trong quá trình sử dụng phương pháp
thực nghiệm, chúng tôi tiến hành khảo sát, điều tra, phỏng vấn trên thực tế. Cụ thể,
người viết luận án đã có quá trình và điều tra điền dã ở Việt Nam trong 4 năm.
Đề tài sẽ góp phần vào việc bảo vệ và phát huy di sản văn hóa ở cả Việt Nam
và Trung Quốc.
5. Phạm vi nghiên cứu
Hát cửa đình của người Kinh (Việt) ở Việt Nam là một trong 24 thể loại/loại
hình âm nhạc được xác định bởi các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, âm nhạc dân
tộc học Việt Nam. Đó chính là Ca trù. Không gian lưu truyền/phổ biến của Ca trù
rộng suốt từ Bắc vào Nam, sau năm 1954, phát triển cả ở thành phố Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, Luận án chỉ đề cập đến hát cửa
đình của người Việt ở tỉnh Quảng Ninh (Việt Nam)
Ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), người Kinh là một dân tộc thiểu số, chủ yếu
sinh sống ở vùng Tam Đảo, địa phương có nhiều di sản văn hóa phi vật thể. Trong phạm
vi của đề tài, luận án cũng chỉ nghiên cứu hát cửa đình của người Kinh ở Quảng Tây
(Trung Quốc) .
Luận án tập trung nghiên cứu về quá trình truyền bá của hát cửa đình từ Việt
Nam sang Trung Quốc cũng như dưới ảnh hưởng của văn hóa Việt - Trung, nghệ
thuật hát cửa đình ở hai nước đã có những thay đổi và khác biệt gì.
6. Đóng góp khoa học của luận án
Luận án sẽ làm rõ quá trình phát triển, truyền bá của hát múa trong hội Ha
tiết của người Kinh, huyện Phòng Thành tỉnh Quảng Tây, chỉ ra nguồn gốc của nó
từ người Kinh (Việt) tỉnh Quảng Ninh.
Trên cơ sở so sánh hát cửa đình của người Kinh (Việt) ở tỉnh Quảng Ninh
(Việt Nam) và của người Kinh, huyện Phòng Thành, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc),
9
chỉ ra giá trị của một loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian của một tộc người
xuyên quốc gia.
Từ kết quả nghiên cứu, xem xét một số vấn đề đặt ra như sáng tạo truyền
thống/truyền thống sáng tạo, sự phát triển xuyên quốc gia của một loại hình nghệ
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
HÁT CỬA ĐÌNH Ở VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC, CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Hát cửa đình của người Việt tỉnh Quảng Ninh (Việt Nam) và hát múa trong
hội Ha tiết của người Kinh tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) đều thuộc loại hình nghệ
thuật trình diễn dân gian, được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân
gian ở Trung Quốc và Việt Nam.
1.1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu hát cửa đình của người Việt ở Việt
Nam
Hát cửa đình ở Việt Nam có lịch sử nghiên cứu từ rất sớm. Ghi chép sớm
nhất có liên quan đến hát cửa đình (hát Ả đảo, Ca trù...) của người Việt ở Việt Nam
được tìm thấy trong Đại Việt sử ký toàn thư [45]. Khi ghi chép về 17 loại nhạc cụ
của Đại Việt, sách có ghi về đàn đáy, một nhạc cụ liên quan đến ca trù, trong đó có
hát cửa đình. Phạm Đình Hổ (1768-1839) trong Vũ trung tùy bút chép rằng “những
đồ nhạc khí chốn giáo phường có một cái nhịp bằng tre già, hình dẹp, dài độ ba bốn
thước; khi các nhạc công đủ rồi, thì một mụ già gõ để làm nhịp cho các tiếng âm
nhạc, còn như những cái trúc địch, yêu cổ, đới cầm, địch cổ, thì mỗi người quản
giáp (kép) cầm một cái, trúc địch tục gọi là sáo, thường phải hòa với các tiếng âm
nhạc, chứ không hay thổi một mình, vì thổi sáo ít người giỏi, yêu cổ tục gọi là trống
cơm, tang trống như cái thùng nhỏ mà dài, lúc sắp dùng thì phải xoa cơm nếp cài
hai mặt trống cho nó âm tiếng, hai bên ứng hòa với nhau. Địch quản tục gọi là
quyển nhị, hòa với các tiếng âm nhạc hay thổi một mình nghe cũng hay. Đới cầm
tục gọi là đàn đáy, cũng giống như đàn tàu ba dây, nhưng đáy nó vuông, dọc đàn dài,
trên dọc gắn mười sáu phím” [98, tr 58]. Từ ghi chép của Phạm Đình Hổ, có thể
thấy rằng đàn đáy chính là loại tương ứng với đàn tam huyền, nhưng có một tính
chất riêng trong đó. Vào những năm Hồng Đức (1470-1497) thời vua Lê Thánh
Tông, ca trù có rất nhiều ca khúc khác nhau, trong đó một số khúc điệu cổ dần dần
11
12
tập này đều nhắc đến phương pháp gõ trống trong lúc nghe nhạc. Đả cổ pháp tuy chỉ
có bát thiên, nhưng nó nói lên một cách rõ ràng về ý nghĩa của việc gõ trống. Nghe
nhạc cùng với nghe tiếng trống chính là cách đánh giá tốt nhất về ca trù, khi hát tốt
thì bắt đầu gõ trống, đồng thời gõ rất nhiều tiếng, đào nương và tiểu sinh thì lấy
tiếng trống đề làm hiệu lệnh. Đầu tiên, 5 tiếng trống dài thể hiện sự chuẩn bị, đào
nương liền vào vị trí, quản giáp gảy đàn; tiếp theo là 3 tiếng trống để nhắc nhở việc
vào vị trí để chuẩn bị hát; nếu vẫn chưa kịp, có thể tiếp tục đánh thêm 2 tiếng nữa
để hối thúc. Đến lúc hát, dựa trên mỗi chữ, mỗi câu hoặc khi hát xong một bài thì
bắt đầu gõ 1, 2, 3 tiếng, hình thức như là ngắt đoạn ngắt câu trong đọc sách.
Về việc ghi chép trên văn bia: văn bia chủ yếu điêu khắc trên đá, như ghi
trên bia của đình làng, bia của giáo phường, bia của ca trù, bia ca hát v.v... Dù tên
gọi khác nhau nhau, nhưng nội dung về căn bản là giống nhau, đều là những thể loại
hát cửa đình trong các hợp ước khế ước mua bángiữa các giáo phường với nhau.
Trong những văn bia này, văn bia sớm nhất được khai quật vào năm 1657, muộn
nhất là năm 1913. Đa số các văn bia này tập trung ở Hà Nội, Phú Thọ, Vĩnh Phúc,
Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, niên đại trải dài, địa điểm phân bố rộng và có số
lượng lớn. Giáo phường chính là tổ chức quản lý đào nương (nữ giới) và quản giáp
(nam giới), những người chuyên đi biểu diễn ca trù. Giáo phường muốn tổ chức cho
đào nương và quản giáp đi biểu diễn, phải mua bản quyền hát cửa đình. Ngược lại,
trong những thời gian nhàn rỗi, họ thông qua việc biểu diễn lấy tiền thù lao để duy
trì cuộc sống; Thứ hai, khế ước, hợp ước của các bia đá này làm nên tiền tài, quan
hệ quyền lực rất rõ ràng và nghiêm trọng, họ đem nguyện vọng của mình khắc trên
bia đá, để các hoạt động trên khế ƥ�民族出版社,广西.
153. 范宏贵 Phạm Hồng Quý, 刘志强 Lưu Chí Cường (2008), 越南语言文化研
究 (Nghiên cứu văn hóa ngôn ngữ Việt Nam) 北京民族出版社, 北京.
154. 范宏贵 Phạm Hồng Quý, 刘志强 Lưu Chí Cường, 中越边境民族研究(Nghiên
cứu dân tộc biên giới Việt Trung), 社会科学文献出版社.
187
167. 谢林 Tạ Lâm (2008), 京族“哈节”祭祀仪式的音乐文化研究 (Nghiên cứu
văn hóa âm nhạc trong nghi lễ Hát múa trong hội Ha tiết người Kinh)
中国少数民族音乐学会第十一届年会论文集.
168. 薛艺兵 Tiết Nghệ Binh (2003), 神圣的娱乐——中国民间祭祀仪式及其音
乐的人类学研究 (Nghiên cứu dân loại học về âm nhạc và nghi lễ dân
gian Trung Quốc) 北京,宗教文化出版社.
169. 苏润光 Tô Nhuận Quang (1984), 京族民间故事集选 (Tuyển tập dân gian
người Kinh) 中国民间文艺出版社.
170. 广西省民族委员会 tỉnh Quảng Tây dân tộc Ủy ban (1954), 防城越族情况调
查 (Điều tra tình hình người Việt Phòng Thành).
171. 张兆和 Trương Triệu Hòa, 跨国族群意识与非物质文化遗产——广西中越
边境京族文化边界的个案研究 (Nghiên cứu một số vấn đề về biên giới
văn hóa người Kinh Trung Việt về di sản Văn hóa Phi vật thể và ý thức
tộc người) 文化遗产研究.
172. 张兆和 Trương Triệu Hòa , 广西中越边境京族边境文化研究——非物质文
化遗产和边境民族群众意识 (Ý thức quần chúng dân tộc xuyên quốc
gia và di sản văn hóa phi vật chất-đề án nghiên cứu của văn hóa biên
giới dân tộc Kinh tại vùng biên giới Trung Việt tỉnh Quảng Tây).
173. 陈增瑜 Trần Tăng Du (2007), 京族喃字史歌集 (Tuyển tập sử ca Hán Nôm
của dân tộc Kinh), 北京, 民族出版社.
174. 徐方宇 Từ Phương Vũ (2012), 越南雄王信仰研究 (Nghiên cứu tín ngưỡng
Hùng Vương Việt Nam) 世界图书出版公司, 广州.
188
Thành hoàng Trung Việt), 东南亚纵横.
182. 于在照 Vu Tại Chiếu (2001), 越南文学史 (Văn học sử Việt Nam), 世界图书
出版社, 广州.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
NGHIÊN CỨU QUAN HỆ GIỮA HÁT CỬA ĐÌNH
CỦA NGƯỜI KINH (VIỆT) TỈNH QUẢNG NINH (VIỆT NAM)
VÀ CỦA NGƯỜI KINH TỈNH QUẢNG TÂY (TRUNG QUỐC)
PHỤ LỤC LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội - 2018
191
MỤC LỤC
Phụ lục 1: Bản đồ lưu hành hát múa trong hội Ha tiết tỉnh Quảng Tây Trung
Quốc
......................................................................................................
193
TỈNH QUẢNG NINH VIỆT NAM
194
PHỤ LỤC 3: ẢNH MINH HỌA
Ảnh: Sắc phong Thanh Xa Đại vương, NCS chụp, ngày18 tháng 5 năm 2016
Ảnh:Sắc phong Thanh Xà Đại vương năm Gia Long, NCS chụp, ngày 18 tháng 5 năm 2016
Ảnh: Sắc phong Mãn Đường Hoa Công Chúa năm Gia Long, NCS chụp, ngày18 tháng 5 năm 2016
195
Ảnh: Sắc phong Ca Công Phường năm Khải Định, NCS chụp,
ngày 18 tháng 5 năm 2016 Năm
Ảnh: Sắc phong Thanh Xà Đại vương năm Thành Thái,
NCS chụp, ngày18 tháng 5 năm 2016
196
Ảnh:Sắc phong Mãn Đường Hoa Công Chúa,
NCS chụp, ngày 18 tháng 5 năm 2016
Ảnh: Sắc phong Mãn Đường Hoa Công Chúa năm Khải Định,
NCS chụp, ngày 18 tháng 5 năm 2016