VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN BÌNH
ĐẠO BÀ NI TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI CHĂM
Ở NINH THUẬN, BÌNH THUẬN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Mã số: 9 22 90 09
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GIÁO HỌC
Hà Nội, 2018
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội, Viện
Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. Nguyễn Hồng Dương
2. TS. Nguyễn Ngọc Mai
Phản biện 1: PGS. TS. Nguyễn Quang Hưng
Phản biện 2: PGS. TS. Ngô Hữu Thảo
Phản biện 3: PGS. TS. Hoàng Thị Thơ
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Khoa học xã hội, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân,
Hà Nội vào hồi......giờ......phút, ngày.......tháng.......năm
nó hội đủ những yếu tố cấu thành tôn giáo như: niềm tin, giáo lý, giáo
luật, nghi lễ, có đội ngũ tu sỹ, chức sắc, cơ sở thờ tự. Tuy nhiên, cũng có
một số nghiên cứu đã nêu hệ phái Islam cụ thể cho đạo Bà ni nhưng căn
cứ để nhận định còn sơ lược. Ở góc độ tự nhận thức, cho đến năm 2012,
theo một nghiên cứu của Yoshimoto về người Chăm Bà ni ở Bắc Bình,
2
Bình Thuận, người Chăm Bà ni vẫn tự xác định là “tín đồ Hồi giáo” và
không chấp nhận tên gọi Islam cho dù từ Hồi giáo hay đạo Hồi (thuật ngữ
này, chúng tôi sẽ giải thích ở mục 1.3.) khi dịch sang tiếng Anh là Islam,
nhưng đến tháng 6/2017, xung quanh sự kiện ghi danh tôn giáo trên chứng
minh thư cho người Chăm Bà ni ở Ninh Thuận, một chức sắc Bà ni lại có
kiến nghị không được gộp Chăm Bà ni và Chăm Islam vào chung một cái
tên là “đạo Hồi” cho dù vị chức sắc này có ghi nhận đạo Bà ni có nguồn
gốc từ Islam giáo. Do vậy, việc định danh hay xác định hệ phái cho đạo
Bà ni vẫn là vấn đề cần thiết mang tính khoa học.
Các nghiên cứu đi trước ở các mức độ khác nhau đã đề cập đến: sự du
nhập của Islam giáo vào người Chăm, tầng lớp tu sỹ, thực hành tôn giáo,
nghi lễ vòng đời,… nhưng do mục đích nghiên cứu khác nhau nên chưa có
công trình nghiên cứu riêng biệt về đạo Bà ni từ góc độ Tôn giáo học. Từ
thực tiễn và nhu cầu nhận thức khoa học về tôn giáo, chúng tôi chọn đề tài
“Đạo Bà ni trong cộng đồng người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận
hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Tôn giáo học.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án nhằm:
1) Làm rõ những đặc điểm thực hành tôn giáo của người Chăm Bà ni
và góp phần cho sự hiểu biết chung về đạo Bà ni;
2) Lý giải cách thực hành tôn giáo của đạo Bà ni từ góc độ so sánh với
nghiên cứu trước. Ba, Luận án đưa ra một nhận thức mới về thực hành tôn
giáo của đạo Bà ni từ góc độ nhận thức khoa học.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Luận án minh chứng cho việc vận dụng quan điểm của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và phép biện chứng, cùng với lý thuyết thực thể tôn
4
giáo và lý thuyết đa dạng về tôn giáo khi nhận thức một hiện tượng tôn
giáo từ góc độ nhận thức khoa học về tôn giáo.
6.2. Luận án trình bày có hệ thống những đặc điểm cơ bản về thực
hành tôn giáo của đạo Bà ni và cũng trình bày một cách toát yếu các hệ
phái Islam giáo trên thế giới.
6.3. Luận án cung cấp căn cứ khoa học để nhận biết rõ hơn về đạo Bà
ni nói riêng và về sự đa dạng Islam giáo ở Việt Nam nói chung.
6.4. Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu phục vụ nghiên cứu và
giảng dạy môn Islam giáo ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận án
gồm 3 chương, 7 tiết và tiểu kết các chương.
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2. Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận và thực hành tôn
giáo của người Chăm Bà ni
Chương 3. Các hệ phái Islam giáo trên thế giới và nhận thức về thực
hành tôn giáo của đạo Bà ni ở Ninh Thuận, Bình Thuận
NỘI DUNG
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan các nguồn tài liệu
Trong phạm vi của luận án, chúng tôi chọn lọc những công trình có
liên quan gần nhất với nội dung đề tài, bao gồm sách, luận án, luận văn,
được đề cập trong các nghiên cứu: Người Chàm Hồi giáo miền Tây Nam
phần Việt Nam của Nguyễn Văn Luận (1974), “Lịch sử hình thành và phát
triển cộng đồng Islam tại Tp. Hồ Chí Minh” của Châu Trần (2003), và
“Tương đồng và biệt lập giữa các cộng đồng tôn giáo ở người Chăm thuộc
hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận” của Tạ Long (2008).
1.1.2. Liên quan đến thực hành tôn giáo của đạo Bà ni
Thực hành tôn giáo của người Chăm Bà ni liên quan đến các khía cạnh
như: kinh sách, giáo lý, giáo luật, nghi lễ hành đạo hệ thống tu sỹ,... được
6
đề cập trong các nghiên cứu tiêu biểu như của Châu Văn Kên (2000) với
Mối quan hệ giữa đạo Islam và đạo Bàni; Tín ngưỡng, tôn giáo trong
cộng đồng người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận của Hoàng Minh Đô
(2006); Một số vấn đề cơ bản về tôn giáo, tín ngưỡng của đồng bào Chăm
ở hai tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận hiện nay của Nguyễn Hồng Dương
(2007); Góp phần tìm hiểu: Từ Islam đến Hồi giáo Bà ni ở Việt Nam của
Trần Tiến Thành (2010); Yasuko Yoshimoto (2012) “A Study of the Hồi
giáo Religion in Vietnam: With a Reference to Islamic Religious Practices
of Cham Bani”. Trương Văn Món (Sakaya, 2015) với “Dấu ấn tôn giáo
Islam trong văn hóa Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận” và Nguyễn Bình
(2017) với “Hệ thống hóa đặc điểm Islam giáo trong cộng đồng Chăm
Bàni ở Ninh Thuận và Bình Thuận”.
Khảo sát riêng về một khía cạnh thực hành tôn giáo của đạo Bà ni có
các nghiên cứu của Thành Văn Sưỡng (1994) với Chức sắc Chăm Bàni;
Thập Liên Trưởng (1994), Trần Tiến Thành (2010) về Lễ hội Ramưwan
Bani; Sakaya (2004) với Lễ hội của người Chăm.
Liên quan đến nghi lễ vòng đời có các nghiên cứu của Bá Trung Phụ
(2001): Hôn nhân và gia đình của người Chăm ở Việt Nam; Đoàn Việt
(2001, 2009): “Nghi lễ Katat và vai trò của nó trong đời sống nam thanh
Thứ hai, nhận định về loại hình tôn giáo của đạo Bà ni có thể khái quát
thành 3 nhóm nhận định sau: 1) Một biến thể địa phương của Islam giáo;
2) Tôn giáo riêng của người Chăm hoặc bị bản địa hóa; 3) Thuộc về một
giáo phái Islam giáo cụ thể. Trừ một số nghiên cứu có so sánh, liên hệ
thực hành tôn giáo của đạo Bà ni với phái Shiah thì phần lớn các nhận
định về loại hình/hệ phái tôn giáo Bà ni đều dựa trên so sánh với thực
hành tôn giáo của phái Sunni và xem xét vấn đề từ góc độ chủ thể tiếp
nhận Islam giáo, đồng thời nhấn mạnh tính bản địa hóa các yếu tố ngoại
nhập của nền văn hóa bản địa,.... Như vậy, lý giải cách thực hành tôn giáo
của đạo Bà ni vẫn còn là một vấn đề cần giải đáp.
8
Thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi đặt ra giả thuyết: đạo Bà ni chắc
chắn không thuộc phạm vi thực hành tôn giáo của phái Islam Sunni nhưng
các yếu tố Islam giáo trong đạo Bà ni vẫn cho phép nhận diện cộng đồng
này quy thuộc Islam giáo và cách thực hành tôn giáo của đạo Bà ni có sự
tương đồng với cách thực hành tôn giáo của phái Sufi. Minh định cho giả
thuyết trên, chúng tôi đặt ra 2 câu hỏi cần trả lời: 1) Thực hành tôn giáo
của cộng đồng Chăm Bà ni là như thế nào? 2) Cơ sở nào để suy luận cách
thực hành tôn giáo của đạo Bà ni có sự tương đồng với cách thực hành tôn
giáo của phái Sufi?
1.2. Cơ sở lý thuyết
Luận án vận dụng 2 lý thuyết là lý thuyết thực thể tôn giáo và lý thuyết
đa dạng tôn giáo. Với lý thuyết thực thể tôn giáo, Luận án coi đó là cơ sở
để hệ thống hóa các nhân tố, thuộc tính của cộng đồng Bà ni trong sự
tương liên với Islam giáo nói chung. Với lý thuyết đa dạng tôn giáo, Luận
án cung cấp một cách đầy đủ hơn về sự đa dạng các hệ phái cũng như các
thực hành tôn giáo trong Islam giáo để từ đó có nhận thức mới về đạo Bà ni.
1.3. Một số thuật ngữ sử dụng trong luận án
Người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận có 3 cộng đồng là Chăm Bàlamôn,
Chăm Bà ni và Chăm Islam, cư trú tại 22 làng ở 12 xã thuộc 6 huyện thị:
Ninh Phước, Thuận Nam, Thuận Bắc, Ninh Hải, Ninh Sơn, và Thành phố
Phan Rang - Tháp Chàm. Cộng đồng Chăm Bàlamôn có khoảng 48.000
người, với 24 cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, 180 chức sắc, trong đó có 03 Cả
sư, 09 Phó Cả sư, sinh tụ tại 15 thôn, tập trung đông nhất ở huyện Ninh
Phước với 10 địa điểm. Cộng đồng Chăm Bà ni ở Ninh Thuận sinh sống ở
7 làng, với hơn 28.000 người, 110 tu sỹ, sinh hoạt tôn giáo ở 7 thánh
đường. Cộng đồng Chăm Islam có khoảng 2.800 người, 60 chức sắc, sinh
hoạt tôn giáo tại 4 thánh đường ở huyện Thuận Nam và huyện Ninh Hải.
2.1.2.2. Sự phân bố cộng đồng tôn giáo của người Chăm ở Bình Thuận
Người Chăm ở tỉnh Bình Thuận có 2 cộng đồng tôn giáo là Chăm
Bàlamôn và Chăm Bà ni, với hơn 34.690 người, định cư và sinh sống chủ
yếu ở 24 làng thuộc 6/10 đơn vị hành chính, gồm: Bắc Bình, Tuy Phong,
Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân và Tánh Linh, trong đó tập
10
trung ở huyện Bắc Bình. Cộng đồng Chăm Bàlamôn sinh sống ở 14 làng,
với hơn 25.000 người. Cộng đồng Chăm Bàni ở Bình Thuận sinh sống ở
10 làng, với 3.767 hộ, 19.261 khẩu. Chức sắc, tu sỹ có 330 người, trong
đó: 09 Sư cả, 169 Imam, 10 Katip và 142 Acar, sinh hoạt tôn giáo ở 10
thánh đường. Ở Bình Thuận, không có tín đồ Chăm Islam giáo.
2.2. Niềm tin và hệ thống thực hành tôn giáo của người Chăm Bà ni
2.2.1. Về niềm tin
Người Chăm Bà ni tùng phục đức tin đối với Allah và tông đồ của
Ngài là Muhammad; thực hiện nghiêm những quy định liên quan đến biểu
đạt niềm tin, như: kiêng ăn thịt lợn/heo, sử dụng Kinh Qur’an trong nghi
lễ thờ phượng và hướng dẫn trong đời sống hằng ngày, thực hiện nghi
thức tẩy thể trước khi làm lễ, thực hành tháng lễ Ramadan, cơ sở thờ tự
giáo, cặp vợ chồng phải tuyên thệ trước Allah. Các nhân vật chính trong
đám cưới như người chủ lễ, người làm chứng, cô dâu, chú rể phải đóng
vai Muhammad, Abu Bakr, Ali, Fatimah và có sự chứng kiến của “hai
thiên thần” Hô Thanh và Hô Thai (có thể là phiên âm của Hasan và
Husayn - con của Fatimah và Ali - con gái và con rể của Nhà tiên tri
Muhammad - NB).
(3) Nghi lễ tang ma
Cộng đồng Chăm Bà ni tuy có sự phân cấp số lượng tu sỹ thực hiện
đám tang tùy theo vị thế của người qua đời, nhưng cũng thực hiện những
tập tục phổ biến về tang ma của Islam giáo: địa táng và chôn cất trong
vòng 24 giờ đồng hồ; không dùng quan tài; huyệt mộ được đào sâu từ 1,5
đến 2 mét, đáy vách huyệt phía Tây được khoét lõm để thi thể đặt nằm
nghiêng, mặt trước của thi thể hướng về Thánh địa Mecca, đầu hướng
Bắc, chân hướng Nam.
2.2.3. Thực hành tôn giáo quy thuộc Islam giáo
2.2.3.1. Lễ cầu nguyện
Các thời điểm hành lễ cầu nguyện của tu sỹ Bà ni cũng được thực hiện
như các cộng đồng Islam khác, chỉ khác nhau là được thực hiện trong
12
tháng Ramadan. Các thời điểm hành lễ cầu nguyện gồm: 1) Ngay trước
lúc rạng đông (Sub hik); 2) Giữa trưa (Wah rik); 3) Giữa buổi chiều
(Essak rik); 4) Sau khi hoàng hôn (Grip băk) và 5) Khi màn đêm buông
xuống (Esha - vào bất cứ thời điểm nào trong buổi tối, nhưng tốt nhất là
trước nửa đêm). Trình tự mỗi lễ cầu nguyện bao gồm các bước (đều giống
nhau ở Ninh Thuận và Bình Thuận): 1) Tẩy thể; 2) Đánh trống báo hiệu;
3) Gọi dự lễ; 4) Đọc kinh; 5) Kết thúc lễ.
2.2.3.2. Lễ tháng Ramadan
Với người Chăm Bà ni, lễ tháng Ramadan cũng là mùa lễ quan trọng
mãn tháng Ramadan.
2.2.3.3. Các nghi lễ khác
Sau lễ mãn tháng Ramadan (Eid ul-Fitr), tín đồ Islam giáo còn một lễ
quan trọng khác, gọi là lễ Eid ul-Adha (Lễ hiến sinh). Lễ này được tổ chức
vào ngày thứ 10 của tháng cuối cùng theo lịch Islam giáo nhằm kỷ niệm
sự tự nguyện hiến sinh người con trai của Abraham vì lợi ích của Thượng
đế. Người Chăm Bà ni cũng thực hiện nghi lễ hiến sinh vào đúng ngày
này với tên gọi lễ Waha.
Trong thực hành tôn giáo của người Chăm Bà ni còn phải kể đến Kinh
hội xoay vòng - Suk Yung. Theo quan niệm của người Chăm Bà ni, không
có Suk Yung thì không có Ramadan. Ở Ninh Thuận, Suk Yung được tổ
chức 3 năm một lần, tiến hành vào các ngày thứ Sáu, lần lượt qua 7 thánh
đường. Ở Bình Thuận, một năm tổ chức một lần, cũng vào thứ Sáu hằng
tuần, lần lượt qua 6 thánh đường.
2.2.4. Thực hành tôn giáo mang dấu ấn văn hóa Chăm
2.2.4.1. Lễ tảo mộ
Trước khi bước vào tháng Ramưwan, trong khoảng thời gian từ ngày
25 - 29 tháng thứ 8 theo giáo lịch, các làng Chăm Bà ni đều tổ chức lễ tảo
mộ và cúng tổ tiên. Đây là nghi lễ cộng đồng quan trọng nhất trước mùa
Ramưwan. Chủ lễ tảo mộ là vị tu sỹ thuộc hàng chức sắc cao nhất trong
dòng họ. Nếu dòng họ không có tu sỹ, phải nhờ tu sỹ ở dòng họ khác.
Những người chưa làm lễ Katat, không được tham dự vào cầu nguyện tại
14
mộ phần của tổ tiên trong dòng họ. Sau ngày lễ cúng gia tiên, tất cả nam
nữ tín đồ Bà ni làm lễ tẩy thể, không được sát sinh, không thực hiện các
hoạt động vui chơi, giải trí, luôn giữ cho tinh thần được thanh thản, mặc lễ
phục để vào thánh đường dự lễ Ramưwan.
2.2.4.2. Các nghi lễ Shaman giáo mang yếu tố Islam giáo
Nghi lễ tôn chức vũ sư (Rija Praung) là một nghi lễ của riêng cộng
đồng Chăm Bà ni, mang tính chất họ tộc, được thực hiện khi có người bị
bệnh mà chữa trị không khỏi, hoặc khi tộc họ cần tôn chức vũ sư - người
trông coi “chiết atâu” của tộc họ. Căn cứ vào nhiều nguồn tư liệu, các nhà
nghiên cứu cho rằng, nghi lễ Rija Praung có nguồn gốc từ Mã Lai và ảnh
hưởng văn hóa Islam giáo.
Ngoài ra, cả hai cộng đồng Chăm Bà ni và Chăm Bàlamôn vẫn còn
thực hiện nhiều nghi thức tôn giáo dân gian Chăm, trong đó có sự tham
gia, phối hợp của tu sỹ cũng như tín đồ của hai tôn giáo, như các nghi lễ
liên quan đến thủy lợi, liên quan đến chu kỳ sinh trưởng của cây lúa,....
Tiểu kết Chương 2
Thực hành tôn giáo của người Chăm Bà ni có thể khái quát thành một
hệ thống bao gồm ít nhất 3 phân loại: loại thứ nhất bao gồm các nghi lễ và
tập quán pháp thể hiện sự gắn kết với Islam giáo; loại thứ hai là các nghi
lễ tiếp biến các nghi lễ Shaman giáo bản địa với thần thoại Islam giáo thể
hiện nhân sinh quan gắn với thế giới thiêng của Islam giáo; loại thứ ba là
các nghi lễ liên quan đến sản xuất nông nghiệp. Dù được phân loại như
vậy nhưng đáng lưu ý là những nghi lễ này đều có điểm chung là ít nhiều
phải có yếu tố Islam giáo, ít nhất là thể hiện qua việc các tu sĩ cấp Acar
tụng đọc Kinh Qur’an.
Với một hệ thống thực hành tôn giáo như vậy nên khi so sánh với thực
hành tôn giáo của phái Islam Sunni, nhiều nghiên cứu đã cho rằng đạo Bà
ni không còn bản chất của Islam giáo nữa. Nhận xét này không sai nhưng
lại là một hạn chế của những nghiên cứu đi trước vì mới chỉ so sánh với
một dòng phái trong Islam giáo. Vì vậy, ở nội dung tiếp theo, chúng tôi sẽ
thoát ra khỏi cách so sánh gần như cố định này, đặt trong bối cảnh một
16
Islam giáo đa dạng về hệ phái để luận giải một nhận thức mới về đạo Bà
17
Phái Sunni
Nhóm tín đồ phủ nhận Ali là Caliph kế sau Uthman hình thành nên
phái Sunni. Sunni xuất phát từ chữ Sunnah, có nghĩa là biểu thị sự tôn trọng
triệt để đối với cách thực hành tôn giáo thông thường của Nhà tiên tri
Muhammad. Về sau, khi các thế hệ tiếp nối dòng phái này truyền bá Islam
giáo tới nhiều nền văn hóa khác nhau đã dẫn tới sự hình thành 4 trường phái
giáo luật: Hanafi, Maliki, Hanbali và Shafi’i.
Phái Shiah
Nhóm tín đồ ủng hộ Ali là người lãnh đạo cộng đồng Islam được gọi là
Shiah Ali, nghĩa là phái Ali (gọi tắt là Shi’i, hoặc Shiah, Shiite). Phái
Shiah có 3 phái chính: Zaydis, Ismailis, Twelver. Sự chia rẽ Shiah thành 3
chi phái cũng xuất phát từ việc lựa chọn người kế tục dẫn dắt cộng đồng,
nhưng cả ba chi phái đều thống nhất một niềm tin chung là người lãnh đạo
hợp pháp duy nhất cộng đồng Islam giáo phải là hậu duệ của Ali và
Fatimah - vợ Ali, con gái của Nhà tiên tri Muhammad.
Dòng tu Sufi
Dòng tu Sufi là một cách biểu đạt quan trọng lòng mộ đạo cá nhân và
tổ chức xã hội, bắt đầu hình thành ở thế kỷ 12 Công lịch. Các dòng tu Sufi
có vai trò quan trọng trong việc truyền bá Islam giáo tới các vùng đất khác
nhau. Nhiều nơi ở Châu Phi và Đông Nam Á, Sufi là một lực lượng chủ
yếu trong các cộng đồng Muslim. Các tu sỹ Sufi phải tu hành dưới sự
hướng dẫn của một đạo sư và phải tin tưởng vào việc thực hành “thiền”
(Meditation) - thuật ngữ Islam giáo là Dhikr/Zikr, để đạt được mục đích
của mình. Thực hành “thiền” của Sufi là sự tập trung tinh thần vào việc
tụng niệm những danh xưng của Thượng đế, các đoạn kinh Qur’an, hoặc
những lời nói của Nhà Tiên tri Muhammad nhằm vinh danh Allah.
3.1.2.2. Các hệ phái Islam giáo ở Đông Nam Á
Ở Đông Nam Á cũng có sự hiện diện của 3 hệ phái Islam giáo, ví dụ, ở
Indonesia có 0,5% tổng số tín đồ Islam là tín đồ Shiah; ở Malaysia có
xa lạ với 5 trụ cột thực hành tôn giáo của đại đa số tín đồ Islam giáo.
19
Mặt khác, họ lại có những nghi lễ cầu nguyện giống với một dạng cầu
nguyện của các dòng tu Sufi được thực hiện sau lễ cầu nguyện tối ngày
thứ Năm và sau lễ cầu nguyện trưa ngày thứ Sáu - nghi lễ Hadra. Hành
động thỏa nguyện sau mỗi lễ đọc kinh của tu sỹ Bà ni cũng có thể coi là
nét đặc trưng của thực hành tôn giáo theo kiểu dòng tu Sufi khi so sánh
với hành động kết thúc lễ cầu nguyện của tu sỹ dòng tu Sufi Mevlevi.
Với bổn phận hành hương về Thánh địa Mecca thì cũng thấy có ít nhật
một dòng tu Sufi - dòng M.T.O Shahmaghsoudi không đưa bổn phận này
vào trong những trụ cột thực hành tôn giáo như của phái Sunni, Shiah
Ismailis và Shiah Twelver. Nhưng trong Islam giáo, còn có một hình thức
hành hương khác, gọi là Ziyarah, mà địa điểm hành hương là các thánh
đường, các phần mộ, chiến trường xưa, các ngọn núi và các hang động.
Không có quy định cụ thể về thời gian thực hiện loại hành hương này.
Mỗi phái Islam giáo có quan điểm khác nhau về loại hành hương này. Với
phái Sufi thì họ quan niệm: Thăm viếng mộ phần là một bổn phận được
thực hiện vì ý muốn của Allah và thăm viếng mộ phần của cha và mẹ vào
một ngày thứ Sáu là phù hợp. Chúng tôi cho rằng, Lễ tảo mộ trước khi
vào tháng lễ Ramadan và Kinh hội xoay vòng của người Bà ni chính là
kiểu hành hương Ziyarah theo quan điểm của phái Sufi.
3.2.2. Về nguồn truyền giáo
Islam giáo khi được truyền giảng cho những người cải giáo đầu tiên ở
Đông Nam Á có thể mang đậm màu sắc thực hành tôn giáo và giáo thuyết
Sufi, cũng như sự phát triển của thuyết thần bí là một trong những yếu tố
có thể tạo ra quá trình Islam giáo hóa ở Đông Nam Á. Nếu không có
những vị thánh bí ẩn và có vẻ ngoài mê hoặc như các tu sỹ Sufi thì Islam
giáo khó có thể bám rễ vào được những nền văn hóa có những khuynh
Theo đó, các tiêu chuẩn, điều kiện tôn phong và các quy định ràng buộc
đối với tu sỹ được tập hợp thành Luật dòng tu và hệ thống tu sỹ được coi
là một thiết chế duy trì luật dòng, thực hành tôn giáo và đời sống xã hội
của cộng đồng.
21
Tiểu kết Chương 3
Sau khi Nhà tiên tri Muhammad qua đời, cộng đồng Islam giáo bắt đầu
rạn nứt vì tranh đua vị thế người hướng dẫn duy trì cộng đồng cùng đức
tin và tạo thành hai hệ phái chính: Sunni và Shiah. Từ cuộc tranh đua giải
quyết mâu thuẫn giữa hai hệ phái chính trên dẫn đến sự hình thành một
hình thứ ba có cách thực hành tôn giáo gắn với niềm tin của Islam giáo,
được biết đến với cái tên Sufism. Kết quả là trong thế giới Islam giáo có
sự đa dạng về cách biểu đạt niềm tin Islam giáo.
Căn cứ vào sự hiện diện của các hệ phái Islam giáo ở Đông Nam Á,
cũng như sự thịnh hành của các dòng tu Sufi, cách biểu đạt niềm tin tôn
giáo và vai trò của các tu sỹ Sufi, dòng tu Sufi trong việc truyền bá Islam
giáo tới khu vực Đông Nam Á, chúng tôi cho rằng thực hành tôn giáo của
cộng đồng Chăm Bà ni/đạo Bà ni có sự liên quan nhiều hơn tới dạng thức
thực hành tôn giáo theo kiểu dòng tu Sufi.
KẾT LUẬN
1. Nhiều nghiên cứu về thực hành tôn giáo của người Chăm Bàni ở
Việt Nam đều nghiêng về cách lý giải tính bản địa hóa của văn hóa
Chăm đối với các tư tưởng, tôn giáo, văn hóa được du nhập từ bên
ngoài. Bản địa hóa các yếu tố từ bên ngoài du nhập vào là điều tất yếu sẽ
phải xảy ra trong đời sống văn hóa nói chung, đời sống tôn giáo nói
riêng của nhiều dân tộc trên thế giới. Ở Việt Nam, không chỉ riêng
trường hợp Islam giáo với người Chăm, các tôn giáo khác, như: Phật
giáo, Kitô giáo, cũng có những yếu tố được bản địa hóa khi thâm nhập
hưởng từ phái Sufi - một dòng phái thần bí trong Islam giáo nhưng ít được
biết đến, và đã đưa ra những căn cứ để ủng hộ cho giả thuyết này. Giả
thuyết này khá hợp lý khi mà một trong những đặc trưng truyền giáo
Islam của tu sĩ/dòng tu sufi là sẵn sàng chập nhận các nghi lễ tiền Islam
giáo ở nơi truyền giáo vào trong thực hành tôn giáo Islam giáo, và trường
hợp đạo Bà ni không phải là trường hợp duy nhất ở Đông Nam Á. Các
nhà truyền giáo đã dung hóa linh hoạt một số nghi lễ Shaman của người
Chăm để nó trở thành những nghi lễ được phép thực hiện bởi người Chăm
Bà ni. Nói cách khác, mặc dù chấp nhận các nghi lễ tín ngưỡng bản địa,
nhưng các nhà truyền giáo Sufi đã rất thành công phủ lên lớp văn hóa bản
23
địa bằng các nội dung mang tính thiêng hoặc thần thoại của Islam giáo.
Chính vì vậy, nhìn từ góc độ của những người truyền giáo qua lăng kính
nhận thức khoa học về tôn giáo, chúng tôi cho rằng, người Chăm tiếp
nhận Islam giáo từ các nhà truyền giáo Sufi và các nhà truyền giáo này
có nguồn gốc từ một dòng tu khởi phát từ một phái Shiah vì các yếu tố của
phái Shiah như đã đề cập ở trên. Sự lý giải của chúng tôi đã góp phần
minh định nếu như nguồn truyền giáo cho người Chăm thuộc phái Sunni
thì chắc hẳn giờ đây chủ đề đạo Bà ni ở người Chăm không phải tốn nhiều
giấy mực của giới nghiên cứu.
3. Theo cách lý giải của chúng tôi, có thể hiểu được ở khía cạnh nhận
thức về tôn giáo hay tự nhận thức là tại sao người Chăm Bàni tự nhận là
tín đồ Hồi giáo nhưng không chấp nhận được gọi là Muslim, và cũng
không chấp nhận được đồng nhất với Islam, đồng thời tự xác định không
thuộc về Sunni cũng như Shiah, ngoài tên gọi Hồi giáo Bà ni. Căn nguyên
chính ở đây là sự khác biệt về thực hành tôn giáo giữa các hệ phái Islam
giáo. Trong trường hợp Islam giáo ở Việt Nam, nếu người Chăm Bà ni
xác nhận là Islam thì sẽ bị đồng nhất với khối Chăm Islam và như vậy thì