Tóm tắt Luận án tiến sĩ Âm nhạc học: Bổ sung một số đặc điểm hoà âm thế kỷ XX vào chương trình giảng dạy tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam - Pdf 58

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO               BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH

HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM

                                      

NGUYÊN THI LOAN
̃
̣

BỔ SUNG MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÒA ÂM THẾ KỶ XX
VÀO CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY TẠI HỌC VIỆN ÂM 
NHẠC
QUỐC GIA VIỆT NAM 

LUẬN ÁN TIẾN SĨ ÂM NHẠC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS.Phạm Tú Hương


Hà Nội ­ 03/2019


Công trình được hoàn thành tại Học viện âm nhạc Quốc gia Việt 
Nam

            

            Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Phạm Tú Hương


Luận án chúng tôi sẽ đề  cập đến một số  nội dung hoà âm thế  kỷ  XX 
và tìm hiểu xem các cơ sở đào tạo âm nhạc trên thế giới đã đưa hoà âm thế 
kỷ XX áp dụng vào giảng dạy ở các trường âm nhạc như thế nào? Và tiếp 
đến việc làm sao cập nhật bổ sung chương trình hoà âm thế kỷ XX đưa vào 
giảng dạy tại HVANQGVN trong thời gian sớm nhất.
Hiện nay bộ  môn Lý luận đã được đổi tên thành Âm nhạc học, trong  
luận án này chúng tôi dùng theo cách gọi Âm nhạc học.
Môn Hoa âm đa va đang đ
̀
̃ ̀
ược day 
̣ ở  HVANQGVN, được goi la phân
̣ ̀ ̀ 
“Hoa âm cô điên”.
̀
̉
̉  Qua tìm  hiểu chương trình hòa âm cho  sinh viên các 
chuyên ngành tại HVANQGVN cho thấy, mặc dù từ  năm 2013 đã có chủ 
trương đưa phần hòa âm thế  kỷ  XX vào giảng dạy cho một số  chuyên  
ngành. Tuy nhiên do nhiều lý do, phần kiến thức này cho đến nay vẫn chưa 
được triển khai khiến cho sinh viên gặp rất nhiều khó khăn khi chơi những  
tác phẩm hiện đại và càng bỡ ngỡ hơn khi tham gia vào chương trình biểu  
diễn hòa tấu giao lưu với nhiều trường bạn trên thế  giới. Sinh viên khoa 
Sáng tác ­ Chỉ huy ­ Âm nhạc học cũng không dễ dàng khi thực hiện các bài  
viết chuyên ngành liên quan đến ngôn ngữ âm nhạc thế kỷ XX. 
Hoà âm thế  kỷ  XX là một phần không thể  thiếu trong môn hoà âm  
giảng dạy tại HVANQGVN. Nhận thức được yêu cầu cấp bách của việc đưa 
một số kiến thức hòa âm ở thế kỷ XX vào chương trình giảng dạy môn hòa âm  
ở  HVANQGVN, và với trách nhiệm của những người thầy thuộc thế  hệ 
sau, chúng tôi thấy có nghĩa vụ  phải cập nhật kiến thức mới cho chương  

̣
̉ ổ  sung vao ch
̀ ương trình giang day môn Ly thuyêt hoa
̉
̣
́
́
̀ 
âm của HVANQGVN nhằm giup sinh viên co thê tiêp cân v
́
́ ̉ ́ ̣ ới  ngôn ngữ âm  
nhac m
̣
ơi trong các tác ph
́
ẩm đương đại cung nh
̃
ư phân tích và thưởng thưć  
nhưng tac phâm m
̃
́
̉
ơi. 
́
2. Lịch sử đề tài
Vấn đề  nghiên cứu để  làm sao có thể  đưa những đặc điểm, những  
thành tựu của âm nhạc thế kỷ XX vào giảng dạy tại HVANQGVN đã được 
thể  hiện ở  nhiều công trình nghiên cứu cũng như  trong các luận án tiến sĩ,  
luận văn thạc sĩ.
Luận án tiến sĩ của Vũ Đình Thạch bảo vệ năm 2009 có tiêu đề:  Âm nhạc  



3
gia Việt Nam  hay một cơ  sở  đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp nào  ở  Việt 
Nam. Vì thế, đề tài luận án không trùng lặp với các công trình đã công bố.
3. Muc đich nghiên c
̣
́
ưu
́
Mục đích nghiên cứu của luận án hướng tới việc bổ sung một số  kiến 
thức hoà âm thế kỷ XX vào chương trình giảng dạy, sau khi đã kết thúc phần 
hoà âm cổ  điển  cho sinh viên các chuyên ngành âm nhạc, nhằm nâng cao  
chất lượng đào tạo, đáp  ứng nhu cầu đòi hỏi của xã hội trong giai đoạn 
hiện nay. Qua đó có thể giúp sinh viên cập nhật được những kiến thức mới khi 
biểu diễn hoặc phân tích các tác phẩm đương đại.
4. Đôi t
́ ượng va pham vi nghiên c
̀
̣
ưu
́
4.1 Đối tượng nghiên cứu
4.1   Đối   tượng   nghiên   cứu:  Thứ   nhất   là   sinh   viên   hệ   đại   học   của 
HVANQGVN chuyên ngành biểu diễn và Sáng tác ­ Chỉ huy ­ Âm nhạc học 
là đối tượng nghiên cứu của luận án. Thứ  hai là nghiên cứu chương trình,  
giáo trình, phương pháp giảng dạy môn Hoà âm tại HVANQGVN, để  cập  
nhật một số  kiến thức hoà âm thế  kỷ  XX vào giảng dạy cho sinh viên tại 
Học viện. Thứ ba là chọn một số tác phẩm âm nhạc Phương Tây và Việt Nam ưa 
sử dụng ngôn ngữ hoà âm thế kỷ XX để đưa vào phần nghiên cứu và bài tập phân 

́ ̣ ̉
́
́ ư,  
tiên si đâu nganh; kê th
́ ̃ ̀
̀
́ ưa, tiêp thu cac thanh t
̀
́
́
̀ ựu khoa hoc co liên quan đên đê tai
̣
́
́ ̀ ̀ 
nghiên cưu đê xây d
́ ̉
ựng phân 
̀ ưng dung n
́
̣
ội dung mới thực hanh.
̀
5.2   Ph ươ ng   pháp   nghiên   cứ u   th ực   nghi ệm :   Tổ   ch ức   d ạy   th ực 
nghiệm m ột s ố  n ội dung hoà âm thế  k ỷ  XX cho sinh viên các chuyên 
ngành khác nhau đ ể  kiể m ch ứng tính kh ả  thi c ủa nh ững ki ến th ức đư a 
vào ch ươ ng trình giảng dạy, ph ươ ng pháp dạy h ọc và khả  năng tiế p 
thu c ủa sinh viên.
Ngoài ra, chúng tôi còn sử  dụng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia,  
phỏng vấn những người có liên quan để xem kiến thức hoà âm thế  kỷ  XX  
được tiếp cận như thế nào trong các cơ sở đào tạo âm nhạc trên thế giới.

chuyên nghiệp tại các Học viện âm nhac, Nhạc viện. Từ trình độ trung cấp  
đến đại học, từ các chuyên ngành biểu diễn đến các chuyên ngành Sáng tác 
­ Chỉ huy ­ Âm nhạc học, ở mỗi cấp học, mỗi chuyên ngành, học sinh ­ sinh 
viên được tiếp cận với các kiến thức, các kỹ  năng thực hành hòa âm khác  
nhau. 
Môn hòa âm giúp cho học sinh ­ sinh viên có thể hiểu về cấu trúc hình  
thức của tác phẩm, sự  sắp xếp các dạng hợp âm trong các điệu thức khác 
nhau và những nguyên lý kết hợp các hợp âm theo chiều dọc và chiều ngang 
cũng như  vị  trí các hợp âm trong tác phẩm âm nhạc v.v… Qua đó có thể 
hiểu thêm về quan điểm thẩm mỹ, phong cách sáng tác của tác giả. 


5
Trong lịch sử  phát triển của hòa âm, kể  từ  khi nhạc sĩ J.P. Rameau  
(1683­1764) đúc kết thành những nguyên lý mang tính khoa học cho đến 
nay, ngôn ngữ  hòa âm đã có rất nhiều thay đổi. Do  ở  mỗi giai đoạn, mỗi  
trường phái âm nhạc, luôn đòi hỏi cần có sự  đổi mới về  các phương tiện  
thể  hiện nghệ thuật âm nhạc cho phù hợp với nội dung, với yêu cầu của  
xã hội đương thời.
Đặc biệt, từ  cuối thế  kỷ  XIX đến thế  kỷ  XX đã có nhiều trào lưu,  
nhiều trường phái, nhiều khuynh hướng sáng tác cũng như quan điểm nghệ 
thuật, quan điểm thẩm mỹ  xuất hiện. Các nhà soạn nhạc  ở  giai đoạn này  
đều lao vào để tìm kiếm mọi khả năng biểu hiện ở mức độ tối đa của ngôn  
ngữ hòa âm. [24/tr.121]
Hòa âm ở thế kỷ XX có nhiều khuynh hướng mới, nhiều thủ pháp mới 
hoàn toàn xa rời những nguyên tắc hòa âm của những thế kỷ trước. Vì lý do  
đó, chúng tôi cho rằng việc đưa những kiến thức hòa âm ở  thế  kỷ  XX vào 
chương trình giảng dạy môn Hòa âm trong HVANQGVN là rất cần thiết.  
Việc làm này sẽ  giúp cho sinh viên có những kiến thức cơ bản về hòa âm  
trong giai đoạn hiện nay. Giúp các em có thể hiểu và sử lý các tác phẩm âm  

Ngoài ra có thể  tham khảo thêm chín đầu sách khác mà chúng tôi trình  
bày trong luận án chương I mục 1.2.1. 
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Môn hoa âm đa va đang đ
̀
̃ ̀
ược day 
̣ ở  HVANQGVN, được goi la phân
̣ ̀ ̀ 
“Hoa âm cô điên”, chu yêu d
̀
̉
̉
̉ ́ ựa theo sach giao khoa Hoa âm c
́
́
̀
ủa bôn tac gia
́ ́
̉ 
Nga I.Đubôpxki, X.Epxeep, I.Xpaxobin, V.Xôcolop. 
Chúng tôi nhận thấy về  sách giáo khoa hoà âm  ở  Việt Nam chủ  yếu 
vẫn đề  cập các kiến thức hoà âm cổ  điển, thiếu hẳn phần hoà âm thế  kỷ 
XX.
Ở   Viẹt̂   Nam   nói   chung   và   HVANQGVN   nói   riêng,   chua̛   áp   dụng 
chương trình giảng dạy hoà âm thế  kỷ XX cho sinh viên đại học. Do vạy,
̂  
viẹc nghiên c
̂
ưu 

Chương trình môn hoà âm do nhạc sĩ Ca Lê Thuần biên soạn chủ yếu  
dựa vào chương trình của các nhạc viện ở Liên Xô (cũ) thời bấy giờ. 
Nội dung chương trình chủ yếu trình bày các kiến thức của hoà âm thời  
1

Cuộc trao đổi với nhạc sĩ Hồng Đăng ngày 28 tháng 1 năm 2018 tại nhà riêng của nhạc sĩ.


7
kỳ  cổ  điển. Phần hoà âm thế  kỷ  XX chưa  được đưa vào chương trình. 
Thầy Ca Lê Thuần chỉ  đưa vào dạy một số  nét khái quát về  hoà âm giai 
đoạn nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX như một dạng Semine. 2
Do   vậy,   cho   đến   nay   các   kiến   thức   hoà   âm   được   dạy   trong  
HVANQGVN vẫn chủ yếu là hoà âm Phương Tây ở giai đoạn cổ điển.
Đến phần cao học, các khoá đào tạo trước đây được học môn Lịch sử 
hoà âm thế  kỷ  XX do nhạc sĩ Phạm Minh Khang giảng dạy có giới thiệu  
đôi nét về  phong cách hoà âm của một số  nhạc sĩ thuộc trường phái âm  
nhạc nửa đầu thế kỷ XX. 
Sau này trường có mời một số  chuyên gia nước ngoài sang giảng dạy  
cho các lớp cao học giới thiệu về ngôn ngữ hoà âm thế kỷ XX. 
Hiện tại tổ Hòa âm ­ Lý thuyết ­ Phức điệu có năm giảng viên cơ hữu 
và hai cộng tác viên với việc giảng dạy ba môn: Lý thuyết âm nhạc, Hoà âm  
và Phức điệu, ở cả hệ trung cấp và đại học.
Hiện nay việc giảng dạy môn Hoà âm tại HVANQGVN được phân 
chia theo chương trình và giáo trình giảng dạy dưới đây.
1.3.2 Chương trình và giáo trình
1.3.2.1 Chương trình
Đối với trình độ trung cấp 
Chia làm hai nhóm ngành đào tạo phù hợp với các đối tượng học: Lớp 
hoà âm trung cấp biểu diễn và lớp hoà âm trung cấp Sáng tác ­ Chỉ huy ­ Âm 

Ngoài  ra, còn  có một số  sách dưới  đây dùng  tham khảo thêm  trong  
chương trình giảng dạy:
­   “Sách giáo khoa hoà âm”  của Phạm Tú Hương và Vũ Nhật Thăng 
(1993), nhà xuất bản âm nhạc. 
­  “Sách Đáp án và bài tập hoà âm phần Diatonic” của Hoàng Hoa.
­  “Sách Tuyển chọn bài tập phân tích hoà thanh”  của Hoàng Hoa & 
Trương Ngọc Bích v.v…
Tất cả các sách hòa âm nói trên đều được chọn là tài liệu giảng dạy và 
tham khảo ở môi trường âm nhạc chuyên nghiệp của Việt Nam, chủ yếu 
vẫn là kiến thức hòa âm cổ điển, chưa có sách giáo khoa hòa âm nào bổ 
sung những kiến thức hòa âm thế kỷ XX vào chương trình đào tạo đại học 
tại HVANQGVN.
1.3.3 Phương pháp giảng dạy và phương pháp kiểm tra ­ đánh giá
1.3.3.1 Phương pháp giảng dạy
Tại HVANQGVN cũng như  một số  cơ  sở  đào tạo âm nhạc chuyên 
nghiệp khác, khi giảng dạy môn Hòa âm các giảng viên thường dùng ba 
phương pháp chính, đó là: phương pháp thuyết trình, phương pháp trực quan  
và phương pháp thực hành.
Thực hành phối hoà âm trên giấy:   Ở  HVANQGVN phần thực hành 
phối hoà âm trên giấy có ba dạng chính: 
­ Phối hòa âm cho một giai điệu (bè Soprano)
- Phối hòa âm cho một bè trầm (bè Basse)
- Phối hòa âm theo các công năng cho trước.
Riêng đối với các sinh viên các chuyên ngành Sáng tác ­ Chỉ huy ­ Âm  
nhạc học  đôi khi sử   dụng dạng bài tập: tự  sáng  tác  một đoạn nhạc  có  
chuyển điệu theo yêu cầu của giảng viên. Dạng bài tập này thường áp dụng  
cho phần thi kết thúc môn học hòa âm.
Thực hành phân tích hòa âm
Phần thực hành phân tích này quan trong đối với tất cả các chuyên ngành, 
đặc biệt cần thiết đối với các sinh viên chuyên ngành biểu diễn, giúp họ có thể 

trình đã được qui định. Hàng năm thường chú ý rà soát chương trình học, bổ 
sung những kiến thức mới nhằm làm cho môn học phong phú, hấp dẫn hơn. 
Cố gắng tìm các dạng bài tập cho phù hợp với từng đối tượng sinh viên là 
chuyên ngành biểu diễn hay chuyên ngành Sáng tác ­ Chỉ huy ­ Âm nhạc học  
v.v...  nhằm đưa môn Hoà âm góp phần hỗ  trợ  cho các em khi học chuyên  
ngành hay học các môn học khác như: Phân tích tác phẩm, Hình thức âm 
nhạc, Phối khí hay Hoà tấu dàn nhạc v.v...  Đa dạng các hình thức kiểm tra  
đánh giá sau mỗi buổi học, mỗi học trình nhằm một mặt đánh giá đúng trình 
độ, sự  hiểu biết của sinh viên,  một mặt tạo sự  hứng thú, say mê khi học  
môn Hoà âm.
Về nhược điểm: Chưa tích cực bổ sung những kiến thức hoà âm mới ở 
thế kỷ XX vào chương trình giảng dạy. Do vậy, chưa cập nhật được những 
kiến thức mới làm cho sinh viên còn bỡ ngỡ nhiều khi tiếp xúc với các tác 
phẩm âm nhạc đương đại.  Giảng viên khi lên lớp chủ  yếu dạy theo các 


10
phương pháp truyền thống như: phương pháp thuyết trình, phương pháp 
trực quan hay phương pháp thực hành mà còn ít sử  dụng các phương pháp  
giảng dạy mới được phát triển trong giai đoạn hiện nay.  Do điều kiện thời 
gian có hạn, phần thực hành nghe hoà âm trên đàn hay phân tích hoà âm  
trong các tác phẩm còn chưa được coi trọng đúng mức.  Sinh viên nhiều em 
còn lười học, lười làm bài tập, nghỉ học nhiều do vậy dẫn đến kết quả học  
không tốt, phải thi lại và học lại nhiều.
Tiểu kết chương 1
Thông qua nội dung chương 1, giới thiệu tổng quan tình hình nghiên  
cứu và thực trạng dạy hoà âm ở HVANQGVN từ những ngày mới thành lập  
trường cho đến ngày nay. Trải qua nhiều thế  thệ  các thầy cô giáo cùng  
chung tay xây dựng bộ môn ngày càng phát triển.
Môn Hoà âm nói chung và các môn kiến thức âm nhạc nói riêng cũng đã 

Âm nhạc thế giới từ những năm đầu thế  kỷ XX đến nay có rất nhiều  
biến động theo tình hình chính trị, xã hội và văn hóa ở nhiều quốc gia khác 
nhau. Trong âm nhạc phải kể  đến vai trò của hòa âm đã góp phần quan 
trọng trong việc phản  ánh sự  thay đổi về  cách nhìn, cách xây dựng nội  
dung, chủ đề  hình tượng âm nhạc và thay đổi về  thẩm mỹ  âm thanh cũng 
như  phản ánh bút pháp riêng của từng tác giả, từng trường phái âm nhạc 
khác nhau. Trong đó âm nhạc Việt Nam cũng không nằm ngoài dòng chảy  
đó, nhiều nhạc sĩ đã vận dụng những ngôn ngữ hòa âm mới vào trong sáng 
tác của mình.
Trong lịch sử phát triển âm nhạc trên thế giới nói chung và các dân tộc 
nói riêng đã cho chúng ta thấy thẩm mỹ “Hòa âm” được thay đổi theo chiều  
dài thời gian và thay đổi theo quan niệm thẩm mỹ của từng thời đại, từng 
trường phái và từng văn hóa của các dân tộc khác nhau. Đã có nhiều nhà 
khoa học âm nhạc đưa ra những tổng kết về  phong cách hòa âm của từng  
trường phái từ Tiền cổ điển, Cổ điển, Lãng mạn. Sang đến nửa đầu thế kỷ 
XX, hình thành nhiều ý tưởng hòa âm được thay đổi, mở  rộng quan niệm  
về màu sắc trong âm nhạc, cơ cấu hòa âm sinh động. Các nhà soạn nhạc đã  
sáng tạo ra những phương thức và kỹ  thuật sáng tác âm nhạc mới, đưa ra  
những thực nghiệm táo bạo cùng với sự phát triển không có biên giới, đồng  
hành cùng lúc nhiều phong cách sáng tác âm nhạc khác nhau. 
Có thể nói giai đoạn này là bước ngoặt rất quan trọng, một sự chuyển  
tiếp vô cùng mạnh mẽ những bút pháp sáng tạo tinh tuý của chủ nghĩa lãng  
mạn nửa cuối thế kỷ XIX sang thế kỷ XX.
Trong giai đoạn này đã nổi lên tên tuổi của một số  nhạc sĩ như  Claude  
Debussy (1862­1918), Alexander Scriabin (1872­1915), Arnold Schönberg (1874­
1951),  Maurice  Ravel  (1875­1937),   Béla  Bartók  (1881­1945),  Anton  Webern 
(1883­1945),   Alban   Berg   (1885­1935),  Sergei   Prokofiev   (1891­1953),   Paul 
Hindemith (1895­1963), Dimitri Schostakovich (1906­1975) v.v…
Các khuynh hướng sáng tác mới của sự phát triển hoà âm đã trở  nên rõ  
ràng trong các tác phẩm của các nhạc sĩ thời kỳ này. Chẳng hạn, xuất hiện  

Điệu thức toàn cung được các nhạc sĩ thế kỷ XX áp dụng khá phổ biến  
trong các sáng tác của mình, nhằm tạo ra sự  không rõ ràng về  giọng điệu, 
điều này khác hẳn với ngôn ngữ  hoà âm cổ  điển  ưa dùng âm nhạc có sức  
hút dẫn và hình thành điệu tính rõ ràng.
2.1.1.2   Điệu   thức   chuyển   dịch   có   giới   hạn   (Modes     of   Limited  
Transposition)
Nhạc sĩ người Pháp O.Messiaen được coi là người đã sáng tạo ra dạng  
điệu thức này. Ông đã thành công trong việc kết hợp các âm thanh tạo nên 
sự  chuyển động màu sắc hòa âm hết sức khác lạ. Trên cơ  sở  áp dụng một  
mô hình cung bậc của riêng bản thân nhạc sĩ mà ông gọi là các  Mode (Điệu 
thức):  Mode là một mô hình tập hợp các cung bậc, đóng vai trò gần như  
điệu tính, được sắp xếp trên nền tảng tương quan giữa cung và nửa cung  
[11/tr.17].
Các điệu thức này hoạt động với phương thức chuyển dịch theo quãng  
chromatic. Khi được chuyển dịch, điệu thức đó sẽ  xuất hiện những âm mới  
dẫn đến sự biến đổi màu sắc. Điều thú vị là mỗi điệu thức chỉ xuất hiện âm 
mới ở một số lần chuyển dịch nhất định, nếu tiếp tục chuyển dịch ta sẽ trở lại  
dạng ban đầu . Chính vì vậy mà Messiaen gọi là sự chuyển dịch có giới hạn.
Điệu thức chuyển dịch có giới hạn này được xuất hiện trong âm nhạc  
thế kỷ XX, được coi như là sự nối tiếp các mô hình cung bậc trong đó, tạo 
sự biến đổi màu sắc hoà âm mới lạ so với các tác phẩm Cổ điển.
2.1.1.3 Điệu thức đối xứng (Symmetrical scales)  


13
Béla Bartok là một trong những đại biểu xuất sắc của nền âm nhạc thế 
kỷ XX. Ông là nhà soạn nhạc thiên tài, một nghệ sĩ piano lỗi lạc và là nhà 
nghiên cứu ­ sưu tầm dân ca Hungari rất nổi tiếng. Ngôn ngữ  hòa âm của  
Bartok là sự tổng hợp những bút pháp của Tây Âu và phương Đông, của các  
điệu thức thời Trung cổ, điệu thức nhà thờ, điệu thức năm âm với nhiều 

sự quy định điệu tính một cách rõ ràng.[24/tr166] 
Nếu như  đặc điểm cơ  bản của âm nhạc có điệu tính là dựa trên mối 
quan hệ giữa những âm ổn định và âm không ổn định trong một đoạn nhạc  
hay một bản nhạc, thì điều này sẽ  không có  ở  âm nhạc vô điệu tính. Việc 
sử  dụng âm nhạc không có điệu tính đã đánh dấu một khuynh hướng phát  


14
triển mới trong sáng tác âm nhạc. Đồng thời nó cũng mở ra những cách nhìn  
mới  ở  nhiều lĩnh vực sáng tác như: cách xây dựng chủ  đề, cấu trúc tác  
phẩm, hòa âm, phối khí.
Các tác phẩm thuộc loại hình âm nhạc vô điệu tính rất phổ biến trong 
âm nhạc thế kỷ XX, chẳng hạn có thể  tìm thấy trong một số  sáng tác của  
Alexandre Scriabine, Arnold Schönberg, Anton Webern v.v...
2.1.2 Một số  dạng cấu trúc hợp âm ­ chồng âm thường gặp trong  
hoà âm thế kỷ XX
2.1.2.1 Cấu tạo hợp âm chồng quãng ba
Hợp âm chồng quãng ba (Chords by Thirds): Là những hợp âm mà trong 
đó các âm được sắp xếp theo qui luật quãng ba, ví dụ có các hợp âm ba (ba 
nốt), hợp âm bảy (bốn nốt), hợp âm chín (năm nốt), hợp âm mười một (sáu 
nốt), hợp âm mười ba (bảy nốt), hợp âm mười lăm (tám nốt), hợp âm mười 
bảy (chín nốt) và hợp âm mười hai nốt (11 nốt) v.v... Trong đó các hợp sáu  
nốt, bảy nốt, tám nốt cho đến hợp âm 12 nốt được gặp nhiều trong các tác  
phẩm sau này. Các hợp âm này làm nhoè mờ công năng và chủ âm tạo hiệu  
quả  âm nhạc dày đặc, rất phức tạp, đa màu sắc. Chúng khác hẳn với các 
hợp âm trong âm nhạc cổ điển là rõ ràng về công năng hợp âm, hình thành 
màu sắc trưởng thứ, tạo sức hút về chủ âm v.v...
2.1.2.2 Cấu tạo hợp âm chồng quãng bốn (Chords by Fourths)
­ Hợp âm ba nốt chồng quãng bốn (Three ­ note chords by fourths)
­ Hợp âm bốn nốt chồng quãng bốn (Four ­ note chords by fourths)

2.1.3.3 Đa hợp âm (Polychords)
Thủ  pháp đa hợp âm được hiểu cùng lúc chồng hai hay nhiều các hợp  
âm khác nhau theo chiều dọc. Hai thủ pháp đa điệu tính và đa hợp âm được  
vận dụng khá linh hoạt, nhiều khi thấy xuất hiện cùng lúc trong các tác 
phẩm âm nhạc của thế  kỷ  XX. Có lúc là chồng các hợp âm với điệu tính 
khác nhau, hoặc đôi khi lại xuất hiện chồng các hợp âm khác nhau trong  
cùng một điệu tính, hay các bè kết hợp nhiều thang âm, điệu tính khác nhau 
cùng lúc v.v...
2.1.3.4 Thủ pháp hoà âm song song (Parallel Harmony)
Trong một số  luận án, luận văn, có được đề  cập đến các quãng song 
song, các hợp âm ­ chồng âm song song. Đây là một trong những thủ  pháp  
hay gặp trong sáng tác của các nhạc sĩ thế kỷ XX. 
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi thường gặp lối sử  dụng song  
song hợp âm, song song chồng âm dưới nhiều kiểu khác nhau.
2.2 Khảo sát việc dạy hoà âm thế  kỷ  XX  ở một số cơ sở  đào tạo 
âm nhạc trên thế giới
Để hoàn thành luận án này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và tìm hiểu  
về  chương trình và phương pháp giảng dạy hoà âm trong một số cơ sở và đào 
tạo âm nhạc ở nước ngoài. Bản thân NCS cũng đã có nhiều dịp được học và  
làm việc cùng với các trường âm nhạc ở Đức và Thuỵ Điển, ngoài ra còn tìm  
hiểu thêm các trường âm nhạc ở Mỹ, Nga và một số trường nhạc thuộc khu 
vực châu Á. Chúng tôi nhận thấy,  ở  mỗi nước đều đã bổ  sung chương trình 
giảng dạy hoà âm thế kỷ XX theo các cách khác nhau sao cho phù hợp với nội 
dung và chương trình đào tạo của trường, riêng các trường âm nhạc   ở Mỹ họ 
đã cập nhật phần hoà âm thế kỷ XX rất chi tiết và đa dạng. [PL8]
2.2.1 Một số nhạc viện ở Mỹ
Chúng tôi nghiên cứu chương trình dạy và học hoà âm ở hai trường của  
Mỹ là: Trường đại học âm nhạc Berklee College of Music và Nhạc viện San 
Francisco ­ San Francisco Conservatory of Music. [PL3]
2.2.2 Một số nhạc viện ở Châu Âu và Châu Á

hợp âm như trong cấu trúc hợp âm ba sắp xếp theo quãng ba, ngoài các hợp 
âm ba, hợp âm bảy, hợp âm chín, còn giới thiệu thêm các hợp âm 11, 13, 15,  
17, 19, 21, 23 và các hợp âm sắp xếp theo quãng bốn, các hợp âm chồng  
quãng hai, cùng với các thể  đảo kèm theo chúng. Tiếp đến là các hợp âm  
thêm nốt: Hợp âm chồng quãng ba thêm âm sáu, âm bốn, âm hai; hợp âm 
chồng quãng bốn thêm âm sáu, âm năm, âm hai; hợp âm chồng quãng hai  
thêm âm chín, âm sáu, âm năm, âm ba, âm hai và các chùm nốt (Clusters). 
Cũng như một số thủ pháp sáng tác hay gặp trong giai đoạn này.
Một số thủ pháp hoà âm thường gặp trong âm nhạc thế kỷ XX như hoà  
âm đa điệu tính, đa điệu thức, đa hợp âm, thủ pháp hoà âm song song.
Và cuối cùng chúng tôi đã tiến hành khảo sát việc dạy hoà âm ở một số 
cơ sở đào tạo âm nhạc trên thế giới như châu Mỹ, châu Âu và châu Á, điển 
hình là  ở Mỹ. Thông qua đó để  muốn tìm hiểu xem các nước tiếp cận với  


17
việc học hoà âm thế kỷ XX như thế nào, nội dung chương trình dạy và học 
ra sao, cũng như cách tổ  chức thi và kiểm tra hết môn v.v... Làm quen với  
hệ thống ký hiệu chỉ dẫn trong tác phẩm thời kỳ này.

CHƯƠNG 3: THỬ NGHIỆM GIẢNG DẠY HOÀ ÂM THẾ KỶ XX CHO 
SINH VIÊN ĐẠI HỌC TẠI HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM
3.1.  Cơ sở lý luận
Qua tìm hiểu khảo sát việc dạy hoà âm thế kỷ XX ở một số cơ sở đào 
tạo âm nhạc trên thế giới mục 2.2, chúng tôi ưu tiên chọn phương pháp tiếp 
cận với ngôn ngữ  hoà âm thế  kỷ  XX theo một số trường nhạc  ở  Mỹ, với  
hai lý do sau: Lý do thứ  nhất là khoá học cung cấp nội dung đa dạng, cập  
nhật thông tin nhanh, hiệu quả  và giúp sinh viên dễ  dàng chuyển tiếp từ 
ngôn ngữ hoà âm cổ điển sang hoà âm hiện đại. Lý do thứ hai có thể nói đây 
là môi trường đào tạo âm nhạc hiện đại thuộc bậc nhất thế  giới và cũng 

phẩm của các nhạc sĩ Việt Nam có sử dụng những thủ pháp hòa âm mới ở 
thế kỷ XX. 
Cuốn sách Twentieth­Century Harmony của Vincent Persichetti là nguồn tư 
liệu chính để chúng tôi chọn lọc nội dung đưa vào chương trình thử nghiệm.
3.2. Dự  kiến bổ  sung một số  kiến thức hoà âm thế  kỷ  XX vào 
chương   trình   giảng   dạy   môn   Hoà   âm   trình   độ   đại   học   tại 
HVANQGVN
3.2.1 Tiêu chí lựa chọn  nội dung  kiến  thức  để  đưa vào  chương  
trình 
Tính mới, tính thời đại:  Đây là vấn đề  cấp thiết trong bối cảnh hiện  
nay khi mà chương trình đào tạo môn hoà âm tại Học viện còn thiếu vắng  
những kiến thức hoà âm thế kỷ XX vào giảng dạy tại HVANQGVN. 
Tính phổ biến hay tính điển hình: Thời kỳ này xuất hiện nhiều đặc điểm 
mới, phong phú và đa dạng trong các tác phẩm âm nhạc thế  kỷ  XX, nhưng  
trong phạm vị luận án chúng tôi ưu tiên chọn những nội dung điển hình theo 
trình tự từ dễ đến khó và được nhiều người sử dụng để bổ sung vào chương  
trình   giảng  dạy  môn  Hoà   âm   sau  khi  kết  thúc   phần  hoà   âm   Cổ   điển  tại  
HVANQGVN.
Tính vừa sức: Phù hợp với đối tượng là sinh viên trình độ  đại học của 
HVANQGVN, chuyên ngành biểu diễn và chuyên ngành Sáng tác ­ Chỉ  huy  
và Âm nhạc học. Biên soạn nội dung sao cho phù hợp với từng đối tượng 
học giúp sinh viên nghe nhận biết tác phẩm, hiểu phong cách từng tác giả ­  
tác phẩm v.v…
Liều lượng ­ Tính phù hợp thời gian khung chương trình giảng dạy:  
Điều này rất quan trọng, làm sao để cân đối về thời lượng và kiến thức cần  
ưu tiên được bổ  sung vào giai đoạn này vì liên quan đến tổng số  giờ  dạy 
được phân đều cho mỗi đầu môn học tại HVANQGVN. 
Ngoài ra, không quên đề  cập đến tính kế  thừa và tính logic, là một 
trong những tiêu chí lựa chọn cần thiết để  chúng tôi sau khi kết thúc phần 
hoà âm Cổ điển, sẽ bổ sung tiếp nội dung kiến thức hoà âm thế kỷ XX vào  

̣
Giao trinh Hoa thanh
́ ̀
̀
 (Bâc đai hoc). Trung
̣
̣
̣
 
tâm thông tin ­ Thư viên Âm nhac. Hà N
̣
̣
ội.
­ Nguyễn Trọng Ánh (2015), Hoà âm phần nửa đầu thế  kỷ  XX (Dành 
cho cao học). 
­ Đào Trọng Minh (2013), Lịch sử Hoà âm (Học phần cao học), Thành 
phố Hồ Chí Minh.
Tài liệu tiếng Anh: 
­ Cuốn Hòa âm thế kỷ XX “Twentieth­Century Harmony” của Vincent 
Persichetti được xuất bản tại Mỹ năm 1961 (Nxb.W.W.Norton & Company)
­ Sách  Twentieth Century Harmony Creative Aspects and Practice  của 
Vincent Persichetti (Tài liệu học online).
­ Sách lý thuyết và sách bài tập hoà âm “Lear from Masters Classical  
Harmony”  (2010)   của   Sten   Ingelf   (Nxb.Grahns   Tryckeri   AB,   Lund,  
Swenden).
­ Sách   hoà   âm   của   Đức  Der   Musikalischer   Satz   14.­20.Jahrhundert  
Rhythmik   Harmonik   Kontrapunktik   Klangkomposition   Jazzarrangerment  
Minimal­Music  của   Walter   Salmen   und   Norbert   J.Schneider   (Copyright  
1987).  Edition Helbling Inbruck.
­ Sách giới thiệu về  âm nhạc hiện đại của Đức  Das Schriftbild der  

Berklee   College   of   Music   và   Nhạc   viện   San   Francisco.   Chúng   tôi   mong 
muốn được áp dụng đánh giá kết quả học tập theo cách làm của các trường 
bên Mỹ, nghĩa là sẽ chia thành bốn loại đánh giá được căn cứ vào việc hoàn 
thành bài kiểm tra tương đương bao nhiêu phần trăm, chẳn hạn: 
Loại A (Giỏi): 90­100% ; Loại B (Khá): 80­89%  
Loại C (Đạt): 70­79%;  Loại D (Kém): 60­69%
Bài thi tốt nghiệp môn: Có hai dạng bài cho hai lớp chuyên ngành Sáng 
tác ­ Chỉ huy ­ Âm nhạc học và Lớp chuyên ngành biểu diễn.
­ Lớp chuyên ngành Sáng tác ­ Chỉ huy ­ Âm nhạc học sẽ yêu cầu sáng  
tác một đoạn nhạc cho piano gồm 8 ô nhịp, trong đó áp dụng những kiến  
thức hoà âm thế kỷ XX đã được học và nộp bài thi vào tuần 15.
­ Lớp chuyên ngành biểu diễn sẽ viết phân tích một bài về hoà âm thế 
kỷ XX với những nội dung đã học và cũng nộp bài vào tuần 15.


21
Đối với hình thức kiểm tra giữa kỳ cho cả hai lớp sẽ là viết một bài phân 
tích tác phẩm, vào tuần học thứ bảy, sau khi giới thiệu xong nội dung bài giảng 
về cấu tạo hợp âm bốn và tiết thực hành sẽ giành cho việc viết bài phân tích.
Điểm thi tốt nghiệp sẽ tính như sau: Nhiệm vụ học tập được tính 50%;  
Bài giữa kỳ 15%; Bài cuối kỳ 25% và tham gia đầy đủ các buổi học 10%.
 Phương pháp kiểm tra đánh giá theo cách truyền thống: 
Phần hoà âm thế  kỷ  XX cũng có thể  áp dụng phương pháp kiểm tra  
đánh giá theo cách truyền thống, giống như đối với phần hoà âm cổ điển đã 
thực hiện ở Học viện. Nghĩa là cũng vận dụng hình thức thi tập trung theo 
lớp tập thể, tuỳ theo từng chuyên ngành mà áp dụng cách thức thi.
Áp dụng hình thức thi kiểm tra viết dưới dạng trắc nghiệm, được chia  
làm hai phần: Phần I là phần câu hỏi kiến thức tổng hợp về hoà âm thế kỷ 
XX và phần II là một bài phân tích hoà âm. Hình thức thi này được áp dụng 
cho cả hai đối tượng (10 điểm). 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status