Tóm tắt luận văn Thạc sĩ Hóa học: Vai trò của lớp đệm Halogenua đối với sự hình thành màng đơn lớp Phorphyrin trên bề mặt đơn tinh thể đồng trong hệ điện hóa - Pdf 58

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN

VAI TRÒ CỦA LỚP ĐỆM HALOGENUA ĐỐI VỚI 
SỰ HÌNH THÀNH MÀNG ĐƠN LỚP PHORPHYRIN 
TRÊN BỀ MẶT ĐƠN TINH THỂ ĐỒNG 
TRONG HỆ ĐIỆN HÓA
Chuyên ngành: Hóa Vô cơ
Mã số: 84 40 113

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC

Bình Định, năm 2018


Công trình được hoàn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

Người hướng dẫn : 1. TS. HUỲNH THỊ MIỀN TRUNG
2. PGS.TS. NGUYỄN PHI HÙNG

Phản biện 1:.......................................................................... 
Phản biện 2:.......................................................................... 

Luận văn được bảo vệ tại Hồi đồng đánh giá luận văn thạc sĩ 
chuyên ngành Hóa Vô cơ ngày .... tháng ... năm 2018 tại Trường 
Đại học Quy Nhơn.

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

cảm biến sinh học hay làm màng chuyển đổi trong pin nhiên liệu 
và pin mặt trời.
Đến thời điểm hiện tại, có 3 hướng nghiên cứu chính về màng 
đơn lớp porphyrin tự sắp xếp:
+ Ảnh hưởng của bề mặt đơn tinh thể
+ Vai trò của nguyên tử kim loại liên kết ở tâm các porphyrin
+Ảnh hưởng của các nhóm chức ngoại vi


4
Tuy nhiên, hầu như  chưa có nghiên cứu về   ảnh hưởng của  
điện tích nhóm chức lên cấu trúc bề mặt và tính chất điện hóa của 
màng porphyrin được công bố.
+ Ngoài ra, còn có một vài nghiên cứu khác về  ảnh hưởng của  
nhiệt độ, dung môi, độ  pH, chất pha tạp, … lên sự  hình thành và 
tính bền vững của màng đơn lớp porphyrin.
Như  đã trình bày  ở  trên, màng đơn lớp porphyrin được  ứng 
dụng rộng rãi trong các thiết bị điện tử kích thước nano. Tuy nhiên, 
tính bền vững và khả năng hoạt động của chúng trong môi trường  
không khí có độ ẩm cao ­ môi trường hoạt động thực của các thiết  
bị  điện tử, vẫn là một câu hỏi mở. Do đó, việc mở  rộng những 
nghiên cứu về màng đơn lớp porphyrin ở cấp độ phân tử trong môi 
trường thực là cần thiết. Các nghiên cứu trong  hệ  điện hóa được 
xem như  mô hình lý tưởng để  kiểm chứng khả  năng hoạt động 
của màng đơn lớp porphyrin trong điều kiện thực.
Phân   tử   5,10,15,20­tetrakis­(4­trimethyl   ammonium   phenyl)­
porphyrin   (viết   tắt   là  TAP)  chứa   bốn   nhóm   chức  trimethyl 
ammonium phenyl [C6H5(CH3)3N]+ có tính phân cực cao ở ngoại vi . 
Sự  có mặt của các nhóm này được dự  đoán sẽ  làm thay đổi đáng  
kể tính chất của màng đơn lớp TAP so với màng porphyrin cơ bản  

Các hệ vật liệu được chế tạo bằng phương pháp lắng đọng điện 
hóa.
5.2. Phương pháp đặc trưng vật liệu
­ Tính chất điện hóa của các hệ  vật liệu được khảo sát bằng  
phương pháp thế quét vòng tuần hoàn (CV).
­ Hình thái học và cấu trúc bề mặt của các màng đơn lớp được đặc  
trưng bằng phương pháp hiển vi quét xuyên hầm điện hóa (EC­STM).
­ Ứng dụng khử O2 của hệ vật liệu TAP/Cl/Cu(111) được khảo 
sát bằng phương pháp quét thế tuyến tính (LSV).


6
Các phép đo CV, LSV được thực hiện tại Phòng thí nghiệm  
Khoa Hóa và Khoa Vật lý, Trường Đại học Quy Nhơn. Phép đo 
EC­STM được thực hiện ở KU Leuven, Bỉ.
6. Ý nghĩa khoa học
­ Bổ  sung kiến thức về   ảnh hưởng của các yếu tố  tương tác  
hấp phụ  và bản chất bề  mặt điện cực lên sự  hình thành và tính  
bền vững của các màng đơn lớp TAP.
­ Chế tạo các vật liệu mới và cung cấp những thông tin về khả 
năng ứng dụng của chúng trong các thiết bị điện tử.
7.

Cấu trúc luận văn
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan
Chương 2: Thực nghiệm
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Kết luận
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN

Clorua, bromua và iotua
Vùng  điện thế  của Cu(111) trong các dung dịch trên giới hạn bởi  
phản  ứng oxi hóa hòa tan Cu (CDR) và phản  ứng khử  tạo thành khí 
hiđro (HER). Các cặp pic thuận nghịch tại các giá trị điện thế   ­0,74 V 
và ­0,42 V đối với clorua và ­0,75 V và ­0,65 V đối với bromua được 
cho là gây nên bởi sự giải hấp và tái hấp phụ của clorua và bromua xảy 
ra trên bề mặt Cu. Tuy nhiên, trong trường hợp của iotua, không có 
sự xuất hiện của các pic hấp phụ ­ giải hấp. Có thể quá trình giải  
hấp của iotua xảy ra trong vùng thế HER. 

Hình 3.2: Hình thái học bề mặt và cấu trúc nguyên tử của các 
halogen hấp phụ trên Cu(111): a, b) Clorua, It = 1 nA, Ub = 50 mV; 
c, d) Bromua, It = 2 nA, Ub = 55 mV; e, f) Iotua, It = 3 nA, Ub = 40 
mV


9
Sự  gi ải h ấp – tái hấp phụ  của các halogenua làm thay đổ i  
hình thái học b ề  m ặt c ủa Cu(111).   Cụ  thể  là  khi có m ặt c ủa 
các halogenua, các  đườ ng biên  (step­edge) đị nh hướ ng có tr ật 
t ự,   song   song   v ới   h ướ ng   c ủa   các   hàng   chứ a   các   nguyên   tử 
halogenua và chúng t ạo v ới nhau các góc 120   ± 10  (Hình 3.2). 
Tuy nhiên, khi không có m ặt c ủa các halogenua, các nguyên tử 
Cu   t ại   đườ ng   biên   khá   linh   động   và   do   đó   các   đườ ng   biên 
không có hình d ạng rõ ràng.
Ở  cấp độ  nguyên t ử, hình  ảnh EC –STM cho th ấy halogenua 
hấp   ph ụ   m ạnh   trên   bề   m ặt   điệ n   cự c   Cu(111)   và   tạo   thành 
màng đơn l ớp có cấu trúc xác đị nh: c(p × )R30 ( Hình 3.2). 
3.2.   ẢNH   HƯỞNG   CỦA   CLORUA   ĐỐI   VỚI   SỰ   HÌNH  
THÀNH   MÀNG   ĐƠN   LỚP   PORPHYRIN   TRÊN   BỀ   MẶT 



11
Khi điện thế được quét về  vùng âm hơn, TAP và [H2TAP(0)]2+ 
được cho là trải qua các quá trình khử  tương  ứng với các pic khử 
P1  và P2  (Hình 3.3) với sự  tham gia của tổng cộng 6 electron trao  
đổi. 
Pic P1  ứng với quá trình khử  đầu tiên của TAP và [H2TAP(0)]2+ 
với sự tham gia của 2 electron:

Hình 3.4: Quá trình khử thứ nhất của phân tử TAP
Pic P2 tương ứng với quá trình khử thứ hai của TAP là sự trao  
đổi của 4 electron theo sơ đồ sau: 


12

Hình 3.5: Quá trình khử thứ hai của phân tử TAP
Có thể nhận thấy rằng trong điều kiện hấp phụ cạnh tranh, tức 
là dung dịch chứa đồng thời clorua và TAP thì CV của Cu(111) vẫn 
chứa các pic hấp phụ và giải hấp đặc trưng của clorua. Điều này 
chứng tỏ  clorua hấp phụ  trên bề  mặt Cu(111) nhanh hơn so với  
TAP và lớp halogen này đóng vai trò là lớp đệm đối với sự  hấp  
phụ của TAP trên bề mặt Cu(111).
3.2.2. Cấu trúc bề  mặt của màng đơn lớp TAP trên lớp đệm 
clorua
Như  đã đề  cập phần 3.2.1, khi điện cực Cu(111) tiếp xúc với 
dung dịch điện phân chứa phân tử TAP, các anion clorua hấp phụ 
trước và tạo thành cấu trúc  trên bề mặt Cu(111).
 Hình ảnh EC­STM thu được cho thấy các phân tử TAP sắp xếp 

và    0,1 nm. Mô hình mô tả sự hình thành màng đơn lớp TAP trên lớp 
đệm clorua được đưa ra ở hình 3.7. Từ đó, mật độ phân tử TAP được 
xác định là 2,8 x 1013 phân tử/cm2. 


15

Hình 3.7: Mối quan hệ về sự sắp xếp của đơn lớp TAP với lớp 
đệm clorua, a) It = 0,2 nA, Ub = 180 mV, b) It = 3 nA, Ub = 20 mV; 
c) Mô hình cấu trúc của màng đơn lớp TAP hình thành trên bề 
mặt 
3.2.3. Quá trình giải hấp và tái hấp phụ  của màng đơn lớp 
TAP trên lớp đệm clorua
Như  đã  đề  cập  ở  phần 3.2.1, khi   điện thế   được  quét  về 
hướng âm, phân tử  TAP trải qua hai quá trình khử  đi kèm với sự 
thay đổi về  mật độ  electron của màng đơn lớp.  Kết quả  là khi 
điện thế được quét qua đỉnh pic P 1, quá trình giải hấp của các phân 
tử TAP xảy ra trên bề mặt lớp đệm clorua do tương tác tĩnh điện  
giữa chúng với lớp đệm giảm (Hình 3.8a­c). Nếu điện thế  được  
tiếp tục quét qua pic P2, các phân tử  TAP gần như  giải hấp hoàn 


16
toàn (Hình 3.8d). Bên cạnh đó, tính định hướng của đường biên 
giảm chứng tỏ clorua cũng giải hấp khỏi bề mặt của Cu(111).

Hình 3.8: Quá trình giải hấp của TAP trên Cl/Cu(111), It = 0,1 nA, 
Ub = 200 mV
Khi điện thế  được quét ngược về  hướng dương và qua pic tái 
hấp phụ  của clorua, các phân tử  TAP hấp phụ  và tự  sắp xếp trở 

3.3.2. Cấu trúc bề  mặt của màng đơn lớp TAP trên lớp đệm 
bromua 
Kết quả EC­STM thu được cho thấy tương tự như sự hấp phụ của  
TAP trên lớp đệm clorua, góc tự hình thành tại đường biên của các lớp 
Cu là 120 ± 10  (Hình 3.11a)  chứng tỏ  trong điều kiện hấp phụ  cạnh 
tranh tức là cùng có cả bromua và phân tử TAP trong dung dịch, bromua  
cũng hấp phụ  trên bề  mặt Cu(111) trước, tạo thành hệ  Br/Cu(111). 
Giống như  lớp clorua, lớp bromua trên bề  mặt Cu cũng đóng vai trò 
như lớp đệm đối với sự hấp phụ của các phân tử TAP. 
Các phân tử TAP hấp phụ trên toàn bộ bề mặt  lớp đệm và hình 
thành các miền phân tử tịnh tiến (Ia và Ib , Hình 3.11b) hoặc lệch nhau 
120 ± 10 (Ia và Ic, Hình 3.11b). Trong mỗi miền, các hàng phân tử TAP 
chạy song song với các hàng bromua bên dưới. Như vậy, về cơ bản  
cấu trúc bề mặt của màng TAP trên clorua và bromua là giống nhau.

Hình 3.11: Hình thái học và cấu trúc bề mặt màng đơn lớp 
TAP ở cấp độ phân tử trên lớp đệm bromua, It = 0,1 nA, Ub = 
280 mV, E = ­0,3 V


19
Thông qua phép đo EC­STM  ở các điều kiện khác nhau để  xác  
định mỗi quan hệ  về  mặt cấu trúc giữa màng TAP và lớp đệm  
bromua (Hình 3.12), mỗi ô cơ sở của màng TAP chứa một phân tử 
có thể  được mô tả  bằng  ma trận (3 x 3) tương  ứng với cấu trúc 
mạng  của lớp đệm bromua. Hằng số mạng của ô cơ sở được xác 
định là    0,1 

nm và    0,1 nm.


màng đơn lớp trên toàn bộ  bề  mặt Br/Cu(111) tại E = ­0,29 V, còn 
trên Cl/Cu(111) là E = ­ 0,37 V. Kết quả đạt được cho thấy khả năng  
hấp phụ của TAP trên lớp đệm bromua là yếu hơn so với trên lớp 
đệm clorua.
3.4. ẢNH HƯỞNG CỦA IOTUA ĐỐI VỚI SỰ HẤP PHỤ CỦA  
PHÂN TỬ TAP TRÊN BỀ MẶT Cu(111) 
3.4.1.  Tính chất điện hóa của phân tử  TAP trong dung dịch 
đệm của iotua
Hình 3.14 mô tả CV của Cu(111) trong dung dịch đệm của iotua  
(H2SO4  5 mM  + KI 10 mM) (đường màu xám) và trong dung dịch  
đệm chứa phân tử  TAP (H2SO4  5 mM + KI 10 mM + TAP 1 mM) 
(đường màu xanh dương).


22
Hình 3.14 : CV của Cu(111) trong dung dịch đệm của iotua và 
trong dung dịch đệm chứa phân tử TAP
CV của Cu(111) có sự thay đổi rõ rệt khi dung dịch đệm H 2SO4 + 
KI được thay thể bằng dung dịch đệm có chứa phân tử TAP (H 2SO4 + 
KI + TAP) tương tự  như  trong các dung dịch đệm của clorua và 
bromua, cụ thể là có hai pic khử P1 và P2 được quan sát tại E1 = ­0,48 
V và E2 = ­0,72 V. Điều này chứng tỏ phân tử TAP cũng bị khử trong 
vùng thế khảo sát. So sánh với các kết quả thu được trên Cl/Cu(111)  
và Br/Cu(111), chúng ta có thể kết luận rằng hai pic khử P 1 và P2 là 
kết quả  của hai quá trình khử  liên tiếp của phân tử  TAP theo các  
phương trình phản ứng từ 3.2 – 3.6 được trình bày ở phần 3.2.1.
3.4.2. Sự hấp phụ của phân tử TAP trên lớp đệm iotua 
Hình 3.15 mô tả sự sắp xếp của phân tử TAP trên bề mặt lớp đệm 
iotua được đo ngay sau khi dung dịch chứa phân tử TAP được cho vào 
hệ điện hóa. 

Vùng điện thế giới hạn của phép đo là từ ­0,1 V đến ­0,4 V, đây  
được xem là vùng điện thế  đặc trưng của phản  ứng khử  oxi trên 
bề mặt Cu. Đặc tính xúc tác của các màng đơn lớp tự sắp xếp hình  
thành bởi các phân tử  này trên bề  mặt Cu(111) đối với quá trình  
khử  O2  được khảo sát thông qua sự  biến đổi về  cường độ  dòng 
điện theo hàm của điện thế. Về  nguyên tắc, khi phản  ứng hoặc  
quá trình vật lý, hóa học xảy ra tại bề  mặt điện cực Cu sẽ  làm  
thay đổi điện dung tại bề mặt phân cách rắn ­ lỏng tức là làm thay  
đổi cường độ  dòng điện/mật độ  dòng điện của hệ. Hình 3.16 mô 
tả  đồ  thị  thế  quét tuyến tính LSV của Cu(111) trong hai (2) dung 
dịch trên.


25

Hình 3.16: Đồ thị LSV mô tả quá trình khử O2 trong dung dịch 
đệm và dung dịch chứa phân tử TAP
Kết quả  cho thấy, khi dung dịch  đệm được sục khí O 2  đến 
trạng thái bão hòa thì mật độ dòng thấp (đường màu đen), nghĩa là 
phản ứng khử oxi xảy ra trên bề mặt Cu(111) trong vùng thế khảo  
sát nhưng với tốc độ chậm.
Cường độ  dòng tăng mạnh khi thực hiện phép đo với dung dịch 
chứa các phân tử TAP (đường màu đỏ). Điều này cho thấy phân tử 
TAP có hoạt tính xúc tác dương đối với quá trình khử O2 trên bề mặt 
Cu. 
KẾT LUẬN
1. Đã chế  tạo các hệ  vật liệu màng đơn lớp TAP tự sắp xếp trên 
bề mặt halogenua/Cu(111) bằng phương pháp lắng đọng điện hóa 
từ dung dịch chứa các phân tử này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status