PHẦN MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hiện nay hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông Thôn (NHNo&PTNT) Việt Nam nói chung và NHNo&PTNT chi nhánh
huyện Phúc Thọ nói riêng vẫn là hoạt động chủ yếu.
Trong những năm qua, hoạt động tín dụng của chi nhánh NHNo&PTNT
huyện Phúc Thọ đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế chung của
Huyện, danh mục tín dụng được thay đổi tích cực, tăng tỷ trọng cho vay đối
với hộ nông nghiệp cũng như doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông
nghiệp, quy trình tín dụng từng bước được thực hiện theo chuẩn mực quốc tế.
Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng, Chi nhánh luôn phải đối diện với nhiều
loại rủi ro, nhất là rủi ro tín dụng. Do vậy, để đảm bảo an toàn trong hoạt
động, quản trị rủi ro tín dụng đã được Chi nhánh đặc biệt quan tâm. Mặc dù
vậy, quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh vẫn còn bất cập, chưa đáp ứng được
yêu cầu: rủi ro tín dụng vẫn xảy ra và gây ảnh hưởng tiêu cực về kinh tế - xã
hội.
Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhu cầu tăng trưởng tín
dụng lớn, rủi ro tín dụng có nguy cơ gia tăng, Chi nhánh sẽ khó phát triển bền
vững nếu không chú trọng hơn tới quản trị rủi ro tín dụng.
Chính vì tính cấp thiết như trên, tôi chọn đề tài: “Tăng cường quản
trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Việt Nam - chi nhánh huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội” làm luận
văn tốt nghiệp với mong muốn góp phần đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn.
2- Mục đích nghiên cứu
- Đề xuất giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh huyện Phúc Thọ,
thành phố Hà Nội. Để đạt được mục tiêu đó, các nhiệm vụ cụ thể cần được
thực hiện:
1
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Khái quát về Ngân hàng thương mại
* Khái niệm
Thuật ngữ “Ngân hàng” đã có từ rất lâu, hoạt động ngân hàng được
chứng minh là gắn bó cùng với sự hình thành đời sống kinh tế và xã hội loài
người, nhiều tài liệu và di chứng khảo cổ cho thấy hoạt động ngân hàng đã ra
đời từ 3 - 4 ngàn năm trước công nguyên. Tại Hy Lạp các nhà đổi tiền được
gọi là Trapezita - tiếng Hy lạp có nghĩa là cái bàn. Các Trapezita ngồi trước
các bàn đổi tiền để nhận tiền của giai cấp quí tộc, người giầu có, vv... Ở Ý các
hoạt động mua, bán trao đổi vay tiền được tiến hành trên các bàn dài gọi là
Banca, đây cũng là từ xuất phát gốc của từ Banque (Pháp), Bank ( Anh, Mỹ ,
Đức ), Banco (Ý)... có nghĩa là ngân hàng sau này.
Từ thế kỷ XVIII trở về trước, hoạt động ngân hàng chưa thực sự phát
triển và chưa có vai trò quan trọng. Tuy nhiên, từ đó trở lại đây đặc biệt là
trong thời đại ngày nay ngân hàng được xem như là “mạch máu” của nền kinh
tế, hoạt động ngân hàng thể hiện sức mạnh và tiềm lực của nền kinh tế.
Cùng với chiều dài lịch sử phát triển của ngành ngân hàng, trong mỗi
giai đoạn, hoạt động ngân hàng cũng có sự thay đổi, bên cạnh đó với các hoạt
động đa dạng lại luôn biến động với sự thay đổi chung của nền kinh tế. Mặt
khác, do tập quán luật pháp của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ khác nhau
dẫn đến quan niệm về Ngân hàng thương mại không thống nhất giữa các nước
và khu vực trên thế giới:
3
khi thành lập các ngân hàng. Những người tổ chức ra NHTM, ngay từ đầu đã
luôn tìm kiếm các cơ hội để tiến hành cho vay, coi đó như là một nhu cầu chủ
yếu trong việc duy trì và mở rộng hoạt động của mình. Các NHTM đã góp
5
phần thúc đẩy phát triển kinh tế, thông qua hoạt động tín dụng vốn đầu tư
đựơc mở rộng và từ đó làm cho sản phẩm xã hội được tăng lên.
Tín dụng ngân hàng cung ứng cho những người cần vốn để mua, chế
biến, tổng hợp và cất trữ sản phẩm, sau đó bán trực tiếp cho người tiêu dùng.
Người nông dân nhờ có vốn vay, có thể mua hạt giống, thức ăn, phân bón và
các nhu cầu cần thiết khác cho việc thu hoạch và trồng trọt. Tín dụng ngân
hàng còn tạo cho họ khả năng để mua sắm vật tư, thiết bị, máy móc và thuê
mướn lao động. Việc dự trữ, vận chuyển hàng hóa của hệ thống thương
nghiệp đến tay người tiêu dùng, không thể không có yếu tố vốn tín dụng được
các NHTM cung ứng. Bên cạnh các hoạt động tài trợ cho nông nghiệp,
thương nghiệp và công nghiệp, NHTM còn tài trợ cho người tiêu dùng thông
qua việc mở rộng tín dụng tiêu dùng với việc mua nhà, phương tiện đi lại và
các trang thiết bị khác.
Cùng với tín dụng ngắn hạn, NHTM còn thực hiện tín dụng đầu tư,
nhằm mở rộng và nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật; hoặc cho Chính phủ vay
trong trường hợp ngân sách thiếu hụt thông qua việc mua các chứng khoán
của Chính phủ.
- Hoạt động trung gian khác:
Ngoài hai hoạt động cơ bản là hoạt động huy động vốn và hoạt động tín
dụng thì Ngân hàng thương mại cũng thực hiện các dịch vụ trung gian cho
khách hàng của mình. Các dịch vụ này được coi là hoạt động trung gian bởi vì
khi thực hiện các hoạt động này ngân hàng không đứng vai trò là con nợ hay
chủ nợ mà đứng ở vị trí trung gian để thoả mãn nhu cầu khách hàng về dịch
hoạt động đó có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau phát triển,
tạo uy tín cho ngân hàng. Có huy động vốn thì mới có nghiệp vụ cho vay, cho
vay có hiệu quả phát triển kinh tế thì mới có nguồn vốn để huy động vào,
đồng thời muốn cho vay và huy động vốn tốt thì ngân hàng phải làm tốt vai
trò trung gian, chính sự kết hợp đồng bộ đó tạo thành quy luật trong hoạt động
của ngân hàng và tạo thành xu hướng kinh doanh tổng hợp đa năng của các
Ngân hàng thương mại.
1.1.1.2 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
Tín dụng là thuật ngữ chỉ giao dịch tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa
bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay, trong
7
đó, bên cho vay chuyển giao tài sản của mình cho bên đi vay sử dụng trong
một thời hạn nhất định đã được thỏa thuận, bên đi vay sử dụng khoản tiền đó
và sẽ phải hoàn trả vô điều kiện đầy đủ gốc, lãi cho bên cho vay khi đến hạn
thanh toán.
Tín dụng của NHTM là quan hệ tín dụng, trong đó bên cho vay là các
NHTM, bên đi vay là các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế có nhu cầu sử
dụng vốn và đáp ứng đầy đủ các điều kiện của NHTM để được vay vốn.
Hoạt động tín dụng của NHTM là việc NHTM sử dụng vốn huy động
được để cho vay đối với các cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng vốn để phục
vụ tiêu dùng, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó NHTM thu lợi
nhuận từ lãi cho vay sau khi bù đắp chi phí huy động vốn.
* Phân loại hoạt động tín dụng
Có nhiều tiêu chí để phân loại tín dụng ngân hàng, tuy nhiên có thể
phân loại theo một số tiêu chí thông dụng sau:
- Căn cứ vào thời hạn:
Tín dụng ngắn hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng.
Thông thường loại hình tín dụng này sẽ đáp ứng nhu cầu vốn lưu động của tổ
* Qui trình tín dụng
Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả công việc của ngân hàng từ
khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của một khách hàng cho đến khi quyết định cho
vay, giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng...
Một quy trình tín dụng căn bản gồm các bước:
Bước 1: Lập hồ sơ vay vốn
Bước này do cán bộ tín dụng thực hiện ngay sau khi tiếp xúc khách
hàng. Nhìn chung một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như:
năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng; khả năng sử dụng
vốn vay; khả năng hoàn trả nợ vay (vốn vay + lãi)
Bước 2: Phân tích tín dụng
Phân tích tín dụng là xác định khả năng hiện tại và tương lại của khách
hàng trong việc sử dụng vốn vay + hoàn trả nợ vay. Mục tiêu là:
9
Tìm kiếm những tình huống có thể xảy ra dẫn đến rủi ro cho ngân hàng,
dự đoán khả năng khắc phục những rủi ro đó, dự kiến những biện pháp giảm
thiểu rủi ro và hạn chế tổn thất cho ngân hàng.
Phân tích tính chân thật của những thông tin đã thu thập được từ phía
khách hàng trong bước 1, từ đó nhận xét thái độ, thiện chí của khách hàng làm
cơ sở cho việc ra quyết định cho vay.
Bước 3: Ra quyết định tín dụng
Trong khâu này, ngân hàng sẽ ra quyết định đồng ý hoặc từ chối cho
vay đối với một hồ sơ vay vốn của khách hàng.
Khi ra quyết định, thường mắc 2 sai lầm cơ bản:
Đồng ý cho vay với một khách hàng không tốt
Từ chối cho vay với một khách hàng tôt.
Cả 2 sai lầm đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh tín dụng, thậm
được thanh toán hay thanh toán trễ hạn”.
Theo đinh nghĩa của Uỷ ban Basel thuộc ngân hàng thanh toán quốc tế:
“Rủi ro tín dụng là khả năng là khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực
hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thoả thuận”.
Theo quyết định 493/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN Việt Nam tại
khoản
1, điều 2: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động của các tổ chức tín dụng là khả
năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng do
khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của
mình theo cam kết”.
Như vậy có thể thấy rằng có nhiều quan niệm về rủi ro tín dụng
(RRTD), song về bản chất RRTD là : Khả năng (xác suất) xảy ra những
thiệt hại về kinh tế mà NHTM phải gánh chịu do khách hàng vay vốn
thanh toán nợ không đúng hạn hoặc không hoàn trả được nợ vay (gồm gốc
và /hoặc lãi)
1.1.2.3. Hậu quả khi xảy ra rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương
mại
11
Khi rủi ro tin
́ du ̣ng xảy ra sẽ làm ảnh hưởng xấu đến rất nhiều chủ thể.
Đầu tiên là bản thân các ngân hàng và khách hàng, sau đó là tác động đến cả
nền kinh tế.
a. Hậu quả đối với Ngân hàng thương mại
Việc không thu hồi được nợ (gốc, lãi và các khoản phí) làm cho nguồn
vốn của các NHTM bị thất thoát, trong khi đó, các ngân hàng này vẫn phải chi
trả tiền lãi cho nguồn vốn hoạt động, làm cho lợi nhuận bị giảm sút. Nếu lợi
nhuận không đủ thì ngân hàng còn phải dùng chính vốn tự có của mình để bù
Ở mức độ cao hơn, khi có một ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn
dẫn đến phá sản, thì hiệu ứng dây chuyền rất dễ xảy ra trong toàn bộ hệ thống
ngân hàng, gây nên khủng hoảng đối với toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng tiêu
cực đến đời sống xã hội và sự phát triển của đất nước.
1.2. QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.2.1. Khái niệm và sự cần thiết quản trị rủi ro tín dụng của Ngân
hàng thương mại
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến
lược, các chính sách quản trị và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục
tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững, tăng cường các biện pháp phòng
ngừa, hạn chế nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, từ đó tăng doanh
thu, giảm chi phí, nâng cao chất lượng và hiệu quả cho vay cả ngắn, trung và
dài hạn của NHTM.
Theo Uỷ ban Basel thì: “Hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng là một bộ
phận quan trọng trong cách tiếp cận rủi ro tổng thể và được coi là đóng vai
trò cốt tử cho sự thành công của Ngân hàng trong dài hạn”.(Basel
Committee on Banking Supervision, 2000).
Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng có thể được đề cập ở nhiều góc độ
khác nhau, nhưng bản chất là giống nhau, và đứng trên góc độ quản trị học,
chúng ta có thể hiểu: quản trị rủi ro tín dụng là quá trình các ngân hàng tiến
hành hoạch định, tổ chức triển khai thực hiện và giám sát kiểm tra toàn bộ
hoạt động cấp tín dụng, nhằm tối đa hóa lợi nhuận của ngân hàng với mức
rủi ro có thể chấp nhận được.
Như vậy, quản trị rủi ro tín dụng gắn liền với quản trị và kinh doanh tín
dụng. Quản trị rủi ro tín dụng phải hướng vào việc đảm bảo hiệu quả của hoạt
13
động tín dụng ngay cả khi thị trường đầy biến động, nguy cơ rủi ro không
Thang Long University Libraty
rộng quy mô, phát triển đa dạng các loại hình sản phẩm cấp tín dụng hoặc vô
hình chung nới lỏng điều kiện cấp tín dụng; và điều kiện này đồng nghĩa với
việc rủi ro tín dụng ngày một tăng cao.
Do đó, để phát triển một cách bền vững các ngân hàng phải đồng thời
tăng cường công tác quản trị rủi ro tín dụng tương ứng. Quản trị rủi ro tốt nhất
chính là lợi thế cạnh tranh của các ngân hàng và là công cụ để tạo ra giá trị
của ngân hàng.
1.2.2. Nội dung quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị rủi ro tín dụng là điều mà tất cả những nhà quản lý ngân hàng
đều rất quan tâm, vì nếu quản trị được thì việc hạn chế và phòng ngừa rủi ro
trở nên dễ dàng hơn.
Quản trị rủi ro tín dụng bao gồm nhiều cấu phần như chính sách tín
dụng, quy trình tín dụng, các công cụ đo lường RRTD, chấm điểm khách
hàng vv... Một cách tổng quát theo thông lệ, quản trị RRTD được phân chia
thành 4 nội dung lớn: nhận dạng RRTD, đo lường RRTD, kiểm soát, ngăn
ngừa RRTD và xử lý tổn thất. Mặc dù có sự phân đoạn trong qui trình quản lý
RRTD song một nguyên tắc có tính xuyên suốt là các khâu được phân ra
trong qui trình phải luôn so sự liên hệ gắn bó với nhau, tạo thành một chu
trình liên tục có vậy mới bảo đảm kiểm soát được rủi ro theo mục tiêu đã
định. RRTD một khi đã xác định thì cần phải được phân tích, đo lường và đưa
ra các biện pháp quản lý theo dõi. Cũng trong quá trình quản lý theo dõi, hệ
thống quản trị RRTD phải có khả năng xác định tìm ra các nguy cơ mới và
công việc quản trị rủi ro được lặp lại.
Quản trị RRTD hiệu quả không có nghĩa là rủi ro không xảy ra mà là
rủi ro có thể xảy ra nhưng xảy ra trong mức độ đoán trước được và Ngân hàng
đã chuẩn bị đủ nguồn lực để bù đắp các rủi ro có thể xảy ra đó.
1.2.2.1 Nhận dạng rủi ro tín dụng
Tài sản thế chấp (Collateral): trong việc đánh giá tài sản thế chấp cho
khoản vay, cán bộ tín dụng phải đặt câu hỏi: người vay có sở hữu một tài sản
nào với giá trị ròng tương xứng với khoản vay không?
16
Thang Long University Libraty
Các điều kiện môi trường (Conditions): cán bộ tín dụng và các chuyên
gia phân tích tín dụng phải nhận biết được những xu hướng tiến triển gần đây
của khách hàng cũng như của ngành mà khách hàng hoạt động, thấy được
mức độ tác động của những thay đổi trong nền kinh tế đối với khoản cho vay.
Sự kiểm soát (Control): nhân tố cuối cùng trong việc đánh giá độ tin
cậy của một khách hàng là sự kiểm soát, nó tập trung vào các câu hỏi như:
liệu những thay đổi khi chính sách đưa ra qui định mới có ảnh hưởng bất lợi
đến người vay không và liệu khách hàng có đáp ứng được tiêu chuẩn chất
lượng tín dụng do các cơ quan quản lý ngân hàng đặt ra?
1.2.2.2. Đo lường rủi ro tín dụng
Đo lường RRTD là bước tiếp theo sau khi phát hiện được nguy cơ rủi
ro. Trên thực tế các bước này khá gần gũi với nhau và thường được gộp
chung lại trong quá trình thực hiện tác nghiệp. Mục đích của các bước này là
giúp cho toàn bộ bộ máy quản trị rủi ro hiểu chính xác và nhất quán nguy cơ
rủi ro đã xác định, phân tích rõ nguyên nhân và quan trọng nhất là lượng hóa
mức độ rủi ro có thể xảy ra đối với ngân hàng để định giá rủi ro có thể chấp
nhận được; trích lập dự phòng rủi ro.
Để duy trì một quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù
hợp, theo thông lệ tốt nhất do ủy ban Basel (2000) đề xuất, ngân hàng phải
tuân thủ các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: ngân hàng cần có hệ thống quản lý liên tục các danh mục
khu vực địa lý.
Xây dựng và tuân thủ tiêu chuẩn cấp tín dụng là việc ngân hàng đặt ra
các điều kiện về năng lực khách hàng, tài chính, phương án/dự án..., tuân thủ
quy định của pháp luật và quy định nội bộ của ngân hàng.
1.2.2.4 Xử lý tổn thất khi để xảy ra rủi ro tín dụng
Đây là khâu cuối cùng của quá trình quản trị RRTD. Theo đó, tổn thất
dự kiến được coi là chi phí hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nó thường
được tính vào giá của khoản tín dụng và được bù đắp bằng nguồn dự phòng.
Tổn thất ngoài dự kiến nếu quỹ dự phòng không đủ bù đắp thì phải bù đắp
bằng nguồn vốn tự có.
18
Thang Long University Libraty
Để đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng và dự phòng đầy đủ cho
các RRTD, thị trường, tác nghiệp, hiệp ước Basel II quy đinh: vốn tự có của
ngân hàng tối thiểu phải đạt 8% tổng tài sản có rủi ro (được xác định bằng
cách nhân số vốn cần thiết cho rủi ro thị trường và tác nghiệp với 12.5, sau đó
cộng với tổng tài sản có RRTD). Trong đó, tổng tài sản có RRTD được tính
toán theo phương pháp tiêu chuẩn hóa hoặc phương pháp tiếp cận dựa trên
xếp hạng nội bộ.
1.2.3. Mô hình quản trị rủi ro tín dụng
Mô hình quản trị rủi ro tín dụng chính là hệ thống các mô hình bao gồm
mô hình tổ chức quản trị rủi ro, mô hình đo lường rủi ro và mô hình kiểm soát
rủi ro được xây dựng và vận hành một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục trong
hoạt động quản lý tín dụng của ngân hàng. Mô hình quản trị rủi ro tín dụng
phản ánh một cách hệ thống các vấn đề về cơ chế, chính sách, quy trình
nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới hạn hoạt động an toàn và các chốt kiểm soát
rủi ro trong một quy trình thực hiện nghiệp vụ; các công cụ đo lường, phát
chỉ có nhiệm vụ là chỉ đạo định hướng chung và thẩm định những khách hàng
vượt quá khả năng cho phép của chi nhánh. Mô hình này chưa tách biệt độc
lập 3 chức năng: chức năng kinh doanh, quản trị rủi ro và chức năng tác
nghiệp.
Ưu điểm:
Cơ cấu tổ chức đơn giản, gọn nhẹ.
Giải quyết hồ sơ nhanh, tiết kiệm thời gian cho khách hàng.
Xây dựng và triển khai mô hình không mất nhiều thời gian công sức.
Nhược điểm:
Thiếu sự chuyên sâu.
Không tách biệt hoàn toàn, độc lập chức năng kinh doanh, tác nghiệp...
Việc quản lý hoạt động tín dụng theo phương thức từ xa dựa trên số
liệu chi nhánh báo cáo lên hoặc gián tiếp thông chính sách tín dụng dẫn đến
quản lý tín dụng gặp nhiều khó khăn.
20
Thang Long University Libraty
1.2.4 Chỉ tiêu đánh giá quản trị rủi ro tín dụng
Có nhiều chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động quản trị RRTD của các
NHTM, thông thường người ta sử dụng các chỉ tiêu sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn:
Dư nợ cho vay quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
x 100%
Tổng dư nợ cho vay
lượng tín dụng của NHTM đó tốt hay hoạt động quản trị RRTD đạt hiệu quả
cao. Theo ngân hàng thế giới, tỷ lệ này ở mức dưới 5% là có thể chấp nhận
được, tốt ở mức 1 - 3%.
Quy mô dư nợ và tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay
Dư nợ cho vay năm nay
Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay =
x 100%
Dư nợ cho vay năm trước
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đáp ứng vốn của ngân hàng đối với nền
kinh tế. Khi sử dụng chỉ tiêu này cần phải có sự kết hợp so sánh với tốc độ
tăng trưởng của các ngành nghề khác, so với tốc độ tăng trưởng của các năm
trước, hoặc xác định để đánh giá thị phần cấp tín dụng so với các tổ chức tín
dụng khác trên cùng địa bàn.
Một NHTM có quy mô dư nợ và/hoặc tốc độ tăng trưởng dư nợ năm
sau cao hơn năm trước, trong khi tỷ lệ nợ quá hạn/nợ xấu giảm hoặc duy trì ở
mức cho phép thể hiện hoạt động quản trị RRTD có hiệu quả.
Mức độ tập trung trong cơ cấu tín dụng
Nhìn vào sự thay đổi trong cơ cấu tín dụng của một NHTM sẽ thể hiện
định hướng và kết quả hoạt động quản trị RRTD của ngân hàng đó. Một cơ
cấu tín dụng chuyển dịch theo hướng đa dạng về ngành nghề kinh tế, giảm
thiểu sự tập trung ở những yếu tố rủi ro hoặc có tỷ trọng cho vay có bảo đảm
cao trong cơ cấu tín dụng,... sẽ phản ánh định hướng cấp tín dụng thận trọng
và hoạt động quản trị RRTD bước đầu có hiệu quả.
Tính tuân thủ trong việc thực hiện chính sách, chế độ về cấp tín dụng
Là việc chấp hành các quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động tín
dụng ngân hàng thông qua các chỉ tiêu như hệ số an toàn vốn tối thiểu 9%
(theo Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010), giới hạn cho vay đối
với một khách hàng, một nhóm khách hàng... do NHNN quy định (theo Quyết
1.3.1.1 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng
Quy trình quản trị rủi ro tín dụng của NHTM lỏng lẻo tạo điều kiện cho
khách hàng lợi dụng để vay vốn và sử dụng vốn không đúng mục đích.
23
Quy trình quản trị rủi ro tín dụng cần được cụ thể hóa việc phân rõ
chức năng, nhiệm vụ của từng đối tượng tham gia trong xuyên suốt quá trình
tìm kiếm khách hàng, thẩm định hồ sơ cấp tín dụng, kiểm soát sau khi cấp tín
dụng. Nếu một ngân hàng thực hiện chuẩn các bước của quy trình quản lý rủi
ro thì chất lượng công tác quản trị rủi ro tín dụng sẽ được nâng cao và ngược
lại.
1.3.1.2 Trình độ cán bộ tín dụng
Con người là yếu tố quyết định đến thành công hay thất bại của một ngân
hàng. Yếu tố con người gồm các mặt: số lượng, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm
nghề nghiệp, cơ cấu nhân sự, phẩm chất đạo đức, năng lực quản lý và tác nghiệp.
Muốn có hoạt động kinh doanh ngân hàng tốt, trước hết phải có đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý giỏi, giàu kinh nghiệm, năng động, phẩm chất đạo đức
tốt. Mặt khác phải có đội ngũ cán bộ tác nghiệp giỏi nghiệp vụ, hiểu biết rộng về
pháp luật, tinh thần trách nhiệm cao với công việc, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp
tốt, đặc biệt là phải am hiểu và có kinh nghiệm về lĩnh vực tín dụng mà mình quản
lý. Một CBTD chuyên quản các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp hay hộ sản
xuất muốn chuyển sang quản lý các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản
xuất công nghiệp hay dịch vụ đô thị, thì cần phải có thời gian mới có thể thích nghi
và tích lũy kinh nghiệm, điều mà một NHTM muốn chuyển từ cho vay khu vực
nông thôn về đô thị phải lưu ý khi hoạch định quản trị tín dụng.
Đạo đức nghề nghiệp ảnh hưởng đến quản trị tín dụng của NHTM. Thực tế
cho thấy rằng, phần lớn các sai phạm nổi cộm trong hoạt động ngân hàng những
năm qua là do đạo đức nghề nghiệp, những người được giao nhiệm vụ đã đặt
công nghệ thông tin rất cao. Hệ thống công nghệ thông tin hiện đại đáp ứng
yêu cầu về độ chính xác trong công việc đánh giá khách hàng, đo lường rủi
ro, kiểm soát khách hàng và khoản vay, giúp ngân hàng ra các quyết định ứng
xử tín dụng phù hợp.
1.3.2 Nhóm nhân tố khách quan
* Nhóm nhân tố từ phía khách hàng vay vốn
Bao gồm các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng
Tình hình tài chính, năng lực quản trị của khách hàng
Năng lực tài chính của khách hàng là một yếu tố rất quan trọng trong
quyết định cấp tín dụng của ngân hàng. Một doanh nghiệp có tiềm lực tài
25