luận văn thạc sĩ kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại các công ty sản xuất giấy trên địa bàn tỉnh bắc ninh - Pdf 59

1

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc và được
trích dẫn rõ ràng. Đề tài không trùng lặp với bất kỳ công trình khoa học
nào đã công bố.
Bắc Ninh, ngày

tháng

Tác giả

Vũ Thị Lan

năm 2018


LỜI CẢM ƠN
Qua hai năm học tập và nghiên cứu tại lớp cao học kế toán CH22AKT
của Trường Đại học Thương Mại – Hà Nội, được sự dạy dỗ tận tình của các
giáo viên bộ môn, sự quan tâm của các thầy cô cùng với sự nỗ lực của bản
thân, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Trần Thị Hồng Mai đến
nay tôi đã hoàn thành luận văn với đề tài: “Kế toán chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm tại các công ty sản xuất giấy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh ”.
Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Thị Hồng
Mai, người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Ngoài ra để có được kết quả như ngày hôm nay phải kể đến công lao của
các cô, chú anh chị trong phòng kế toán tại các công ty: Công ty cổ phần SX –
TM – DV Quang Huy, công ty TNHH SX giấy và TMDV Thắng Lợi và công

CPSXC
CPSX
CP,TM, DV
DDCK
DN
GTGT
KTQT
KTTC
KPCĐ
NSLĐ
NVL
SP
SXKDD
TK
TSCĐ

Giải thích
Bảo hiểm thất nghiệp
Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm y tế
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất
Cổ phần, thương mại, dịch vụ
Dở dang cuối kỳ
Doanh nghiệp
Giá trị gia tăng
Kế toán quản trị
Kế toán tài chính

cao hơn nữa hiệu quả sản xuất kinh doanh thì công tác kế toán tập hợp chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm của Doanh nghiệp cần phải được nâng
cao và hoàn thiện hơn nữa.
Ngành giấy của Việt Nam là một ngành công nghiệp có tốc độ tăng
trưởng cao trong những năm gần đây với tốc độ trung bình 5 năm trở lại đây ở
mức từ 15-20%. Cho thấy tiềm năng phát triển ngành giấy còn rất lớn. Tuy
nhiên, ngành giấycủa nước ta nói chung và ngành giấy tại địa bàn tỉnh Bắc
Ninh nói riêng đang phải phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ bên
ngoài. Bên cạnh đó chi phí đầu vào như giá điện, nước, nguyên vật liệu…


6
6

ngày càng tăng, do đó các doanh nghiệp giấy kinh doanh rất khó khăn. Mặt
khác, các doanh nghiệp sản xuất giấy trên địa bàn Tỉnh Bắc Ninh còn hạch
toán chưa tốt dẫn đến tình trạng lãng phí, thất thoát vật tư, tiền vốn, lao
động….Vì vậy hoàn thiện kê toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm rất
cần thiết để kiểm tra giám sát đồng thời phục vụ cung cấp thông tin kịp thời
cho việc ra quyết định.
Qua thời gian nghiên cứu lý luận và thực tế kế toán tại các Công ty sản
xuất giấy trên địa bàn Tỉnh Bắc Ninh, tôi đã chọn đề tài: “Kế toán chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm tại các Công ty sản xuất giấy trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh” cho nghiên cứu của mình.
2. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Đề tài nghiên cứu về kế toán CPSX và giá thành sản phẩm của doanh
nghiệp không phải là một đề tài mới, đã có nhiều nghiên cứu về chủ đề này và
đã có những đóng góp cũng như thành công nhất định đặc biệt cho công tác
quản trị.

thiếu dẫn chứng cụ thể, cần chứng minh rõ để thể hiện tính chính xác.
“Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Bích Hương Thảo (2015), “Kế toán chi
phí và tính giá thành sản phẩm cho các doanh nghiệp chế biến thủy sản”. Tác
giả đã tìm hiểu công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại doanh
nghiệp. Với kết quả thu được, tác giả đưa ra những đề xuất: Về phương pháp
tính giá thành sản phẩm: Tác giả đã đưa ra đặc điểm quy trình công nghệ sản
xuất, đối với ngành chế biến thủy sản có cùng quy trình nhưng tạo ra một
nhóm sản phẩm cùng loại có quy cách khác nhau, kế toán phải xác định tỷ lệ
giá thành giữa tổng giá thành thực tế và giá thành theo định mức. Ngoài ra,
tác giả còn có đề xuất ứng dung kế toán quản trị nâng cao quản lý và kiểm
soát chi phí gồm xây dựng định mức chi phí cho CPNVLTT, CPNCTT,
CPSXC. Đề tài đã đi sâu vào ảnh hưởng của đặc điểm quy trình công nghệ,
đặc điểm sản phẩm để đánh giá công tác kế toán và đưa ra những hoàn thiện


8
8

cho công tác kế toán chi phí cũng như tính giá thành sản phẩm nằm trong
lĩnh vực chế biến thủy sản.”


9
9

Luận văn thạc sĩ của Đào Thị Hằng (2015), “Kế toán chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất nhựa trên địa bàn
Hưng Yên”, Đại học Thương Mại. Về mặt lý luận, tác giả đã trình bày và phân
tích các quan điểm về chi phí và giá thành, phân tích đối tượng tập hợp chi
phí, đối tượng tính giá thành tại các DN SX. Về mặt thực tiễn, tác giả đã khái

doanh nghiệp sản xuất giấy.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm tại các Công ty sản xuất giấy trên địa bàn Tỉnh Bắc Ninh. Không nghiên
cứu kế toán chi phí ngoài sản xuất.
- Về thời gian: Đề tài khảo sát thực trạng của các công ty trong năm
2017.
- Về không gian: Tập trung nghiên cứu mẫu là 3 công ty sản xuất giấy vệ
sinh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

Trong quá trình thu thập dữ liệu về kế toán CPSX và tính giá thành sản
phẩm, tác giả đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp quan sát:
Phương pháp quan sát là phương pháp ghi lại có kiểm soát các sự kiện
hoặc các hành vi ứng xử của con người. Quan sát các công việc kế toán từ
khâu lập chứng từ đến ghi chép vào sổ kế toán.
Phương pháp được tiến hành trực tiếp tại phòng kế toán các công ty
khảo sát. Sử dụng phương pháp này, tác giả đã tiến hành quan sát các quá
trình luân chuyển và tập hợp chứng từ, các loại chứng từ, các loại báo cáo,
các sổ kế toán… sử dụng trong bộ phận kế toán CPSX và tính giá thành sản
phẩm tại các doanh nghiệp sản xuât giấy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Thông qua
phương pháp quan sát đã khảo sát được thực trạng kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp khảo sát, qua đó đối chiếu với các
kết quả thu được từ phương pháp sử dụng phiếu điều tra, phỏng vấn.


11
11


12
12

Tác giả tiến hành nghiên cứu các tài liệu của các Công ty sản xuất giấy
như: hồ sơ năng lực, sổ sách và chứng từ kế toán, báo cáo tài chính; các chuẩn
mực kế toán, chế độ kế toán; Luật doanh nghiệp; các nghị định, thông tư, các
văn bản hướng dẫn thi hành cụ thể về chế độ kế toán; các sách báo về kế toán
doanh nghiệp; tạp chí tài chính, tạp chí kế toán,…các website và bản tin ...
5.2 Phương pháp xử lý, phân tích dữ liệu.
Để xử lý và phân tích dữ liệu tác giả áp dụng hai phương pháp: so sánh
và tổng hợp dữ liệu.
- So sánh: thực hiện so sánh các dữ liệu trên cơ sở sau khi đã phân nhóm xong
các dữ liệu thu được.
+ So sánh giữa cơ sở khoa học lý thuyết, luật kế toán, chế độ kế toán với
việc thực hiện thực tế tại doanh nghiệp.
+ So sánh giữa các doanh nghiệp với nhau trong việc tổ chức công tác kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Phương pháp so sánh: Trong quá trình nghiên cứu, nội dung của
phương pháp này được cụ thể hóa trong việc so sánh, đối chiếu giữa lý luận
với thực tế về kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm giấy trong các
doanh nghiệp sản xuất giấy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh để thấy được những
điểm mạnh, điểm yếu mà doanh nghiệp đã đạt được, đối chiếu số liệu giữa
chứng từ gốc với những số liệu trên sổ nhật ký chung, sổ kế toán chi phí sản
xuất kinh doanh.... Đây là giai đoạn phân tích để xem xét sự phù hợp của
chuẩn mực kế toán Việt Nam, chế độ kế toán hiện hành với thực trạng kế
toán CPSX và tính giá thành sản phẩm giấy tại các doanh nghiệp sản xuất
giấy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Từ đó làm cơ sở đưa ra các kiến nghị, đề
xuất của tác giả đối với các doanh nghiệp này.
-

1.1.1 Chi phí sản xuất
1.1.1.1 Khái niệm và bản chất chi phí sản xuất
Khái niệm chi phí sản xuất
Theo Giáo trình kế toán quản trị (2006),Trường ĐH Thương mại: “thuật
ngữ chi phí có từ thời trung cổ (từ thế kỷ thứ V sau công nguyên) từ đó cho
đến nay người ta vẫn quan niệm chi phí như là những hao phí phải bỏ ra để
đổi lấy sự thu về”.
Cho đến nay tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về chi phí.
Xét dưới góc độ kế toán tài chính, theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số
01- Chuẩn mực chung : “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích
kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu
trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu,
không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”.
Xét dưới góc độ kế toán quản trị: “Chi phí của doanh nghiệp được hiểu
là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần
thiết khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình hoạt động kinh
doanh, biểu hiện bằng tiền và tính cho 1 thời kỳ nhất định.” ( Đặng Thị Hòa,
2006 )
“Từ các khái niệm cho thấy bản chất của chi phí là những hao phí đơn vị
phải bỏ ra để đổi lấy sự thu về dưới dạng vật chất và định lượng được như số
lượng sản phẩm hoặc thu về dưới dạng tinh thần hay dịch vụ được phục vụ.
Chi phí sản xuất là một bộ phận của chi phí, có tỷ trọng lớn trong tổng chi phí
của doanh nghiệp.”


15
15


16


17
17

+ Sự khác nhau về lượng: “Chi phí của doanh nghiệp không bao gồm các
khoản chi tiêu làm giảm tài sản bằng tiền nhưng làm tăng tài sản khác trong
doanh nghiêp và các khoản chi tiêu làm giảm tài sản nhưng đồng thời cũng
làm giảm một khoản nợ phải trả của doanh nghiệp”.
+ Sự khác nhau về thời gian: “Do có sự không phù hợp về thời gian phát
sinh các khoản chi tiêu và thời gian phát huy tác dụng của nó đối với thu nhập
của doanh nghiệp. Như có khoản chi tiêu ở kỳ này nhưng còn được chờ để
phân bổ vào chi phí của kỳ sau (chi phí trả trước), có những khoản chưa chi
tiêu ở kỳ này nhưng được tính trước vào chi phí của kỳ này (chi phí phải trả)”.
Tại các doanh nghiệp, chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại có tính chất
kinh tế, công dụng khác nhau và yêu cầu quản lý đối với từng loại cũng khác
nhau. Việc quản lý chi phí không chỉ căn cứ vào số liệu tổng chi phí mà phải
theo dõi, kiểm soát dựa vào số liệu của từng loại chi phí. Bởi vậy, muốn quản
lý tốt chi phí tất yếu phải phân loại chi phí.
1.1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất
“Trong các doanh nghiệp sản xuất phát sinh nhiều loại chi phí có nội
dung kinh tế khác nhau, mục đích và công dụng trong quá trình sản xuất cũng
khác nhau. Trong công tác quản lý chi phí sản xuất cũng như kế toán tập hợp
chi phí sản xuất để nhận biết và động viên mọi khả năng tiềm tàng để hạ giá
thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp, có thể tiến
hành phân loại chi phí sản xuất theo các tiêu thức khác nhau.””
a/Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng kinh tế
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm 3 loại (Nguyễn Tuấn Duy,
2010) :
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là
giá trị nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp trong quá trình sản xuất sản phẩm.

- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: “Bao gồm toàn bộ giá trị (gồm giá mua,
chi phí mua) của các loại nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu,
phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ xuất dùng vào hoạt động sản xuất kinh
doanh trong kỳ báo cáo”.


19
19

- Chi phí nhân công: “Là các khoản chi phí về tiền lương phải trả cho
người lao động, các khoản trích Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm
thất nghiệp, Kinh phi công đoàn theo tiền lương của người lao động”.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: “Bao gồm toàn bộ các chi phí khấu
hao tài sản cố định dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của
đoanh nghiệp”.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: “Bao gồm toàn bộ chi phí doanh nghiệp đã
chi trả về các loại dịch vụ mua từ bên ngoài như tiền điện, nước, điện thoại,
vệ sinh và các dịch vụ khác phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
đoanh nghiệp trong kỳ báo cáo”.
- Chi phí khác bằng tiền: “Bao gồm toàn bộ chi phí khác dùng cho hoạt
động sản xuất kinh doanh chưa được phản ánh ở các chỉ tiêu trên, đã chi bằng
tiền trong kỳ báo cáo như: tiếp khách, hội họp, thuê quảng cáo”…
“Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo nội dung, tính chất kinh tế
có ý nghĩa quan trọng đối với quản lý vi mô và quản lý vĩ mô. Đồng thời,
cũng cho biết nội dung, kết cấu tỷ trọng từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã
sử dụng vào quá trình sản xuất trong tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp.
Số liệu chi phí sản xuất theo yếu tố là cơ sở để xây dựng các dự toán chi phí
sản xuất, xác định các nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, xây dựng các kế
hoạch về lao động, vật tư, tài sản trong doanh nghiệp”.
c/Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí và mối

có sự thay đổi về mức độ hoạt động của đơn vị. Nếu xét tổng chi phí thì định
phí không thay đổi. Ngược lại, nếu xét định phí trên một đơn vị khối lượng
hoạt động thì tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động”. Như vậy, cho dù doanh
nghiệp có hoạt động hay không thì vẫn tồn tại định phí và khi doanh nghiệp gia
tăng mức độ hoạt động thì định phí trên một đơn vị hoạt động sẽ giảm dần.
- Chi phí hỗn hợp: “Chi phí hỗn hợp là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả
các yếu tố của định phí và biến phí. Ở một mức độ hoạt động nhất định, chi
phí hỗn hợp thể hiện đặc điểm của định phí và ở các mức độ khác nhau của
hoạt động chúng lại thể hiện đặc điểm của biến phí”.


21
21

e/Phân loại chi phí sản xuất theo thẩm quyền ra quyết định
Theo cách phân loại này, nếu gắn quyền kiểm soát chi phí với một cấp
quản lý nào đó thì phân biệt chi phí thành: chi phí kiểm soát được và chi
phí không kiểm soát được.(Đặng Thị Hòa, 2006)
- Chi phí kiểm soát được: “CP kiểm soát được ở một cấp quản lý nào đó
là chi phí mà lãnh đạo cấp đó có thể ra quyết định ảnh hưởng đến chi phí đó.”
- Chi phí không kiểm soát được: “CP không kiểm soát được ở một cấp
quản lý nào đó chi phí mà lãnh đạo ở cấp đó không có thẩm quyền chi phối và
ra quyết định.”
Việc xác định chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được ở
từng cấp quản lý có thể sẽ không giống nhau ở các doanh nghiệp, vì nó phụ
thuộc vào sự phân cấp quản lý ở mỗi doanh nghiệp. Các nhà quản trị cấp cao
có phạm vi và quyền hạn rộng đối với chi phí hơn là các nhà quản trị cấp thấp
và thường ở các cấp quản lý thấp mới có những CP không kiểm soát được.
Việc phân biệt CP kiểm soát được và CP không kiểm soát được có ý
nghĩa quan trọng trong tính toán và lập báo cáo kết quả (lỗ, lãi) bộ phận.

bù đắp chi phí và chức năng lập giá. Toàn bộ các CPSX mà doanh nghiệp chi
ra để sản xuất sản phẩm sẽ được bù đắp bởi số tiền thu về tiêu thụ sản phẩm.
Đồng thời căn cứ vào giá thành sản phẩm doanh nghiệp mới có thể xác định
được giá bán sản phẩm hợp lý đảm bảo doanh nghiệp có thể trang trải chi phí
đầu vào và có lãi.”
1.1.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm có thể được phân thành nhiều loại tùy theo tiêu thức
phân loại khác nhau và phục vụ nhu cầu quản lý khác nhau.
a/ Theo thời điểm và cơ sở số liệu để tính giá thành:
Theo tiêu thức phân loại này, giá thành sản phẩm được phân thành 3 loại:
giá thành định mức, giá thành kế hoạch và giá thành thực tế. (Nguyễn Tuấn
Duy, 2010)


23
23

- Giá thành định mức: “là giá thành sản phẩm được tính trên định mức
chi phí hiện hành. Việc tính giá thành định mức cũng thực hiện trước khi tiến
quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành định mức là thước đo để xác
định kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, tiền vốn của doanh nghiệp từ đó có
cơ sở đánh giá các giải pháp kinh tế, kỹ thuật mà doanh nghiệp đã áp dụng”.
- Giá thành kế hoạch: “là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí
sản xuất kế hoạch, sản lượng kế hoạch. Giá thành kế hoạch do bộ phận kế
hoạch của doanh nghiệp tính trước khi bắt đầu quá trình sản xuất, chế tạo sản
phẩm. Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ
để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, kế hoạch hạ giá
thành của doanh nghiệp”.
- Giá thành thực tế: “là loại giá thành được xác định trên cơ sở số liệu chi
phí sản xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp được trong kỳ. Giá thành thực tế

loại mặt hàng giống nhau nên các chi phí có sự cạnh tranh gay gắt về chất
lượng, giá cả, ngoài ra sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra còn phải cạnh
tranh với hàng ngoại nhập. Cho nên, muốn tồn tại và phát triển được thì vấn
đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải giảm tối đa các khoản chi phí để hạ giá
thành sản phẩm từ đó hạ được giá bán sản phẩm, tăng lợi nhuận mà vẫn đảm
bảo chất lượng sản phẩm để có thể đứng vững trên thị trường. Từ đó yêu cầu
đặt ra là phải quản lý tốt chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Thực hiện tốt
nhiệm vụ này đòi hỏi phải tăng cường công tác quản lý kinh tế, quản lýchiến
lược mà trước hết là quản lý chi phí sản xuất và quản lý giá thành sản phẩm.”
Chi phí sản xuất gắn liền với việc sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn
trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Quản lý chi phí sản xuất, quản lý giá thành sản phẩm thực chất là quản lý
việc sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn một cách hợp lý, tiết kiệm và có hiệu
quả. Như vậy vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp là phải tiết kiệm một
cách triệt để để sản xuất ra khối lượng lớn hơn, chất lượng cao hơn, giá thành
hạ hơn.


25
25

Quản lý giá thành là quản lý mức độ giới hạn chi phí để sản xuất ra sản
phẩm, nghĩa là phải quản lý giá thành kế hoạch đến từng khoản mục. Để thực
hiện yêu cầu đó trước hết phải xác định chi phí nào là chi phí hợp lý, những chi
phí nào được đưa vào giá thành để tránh tình trạng đưa chi phí bất hợp lý ồ ạt
làm cho giá thành sản phẩm quá cao, sản xuất không tiêu thụ được dẫn đến tình
trạng làm ăn thua lỗ, ảnh hưởng đến hoạt động SX kinh doanh không còn đủ sức
cạnh tranh dẫn tới nguy cơ phá sản.
1.1.3.2 Nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm
Để cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin về CPSX, giá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status