luận văn thạc sĩ hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty cổ phần sông đà 10 - Pdf 59

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả của sự làm việc nghiêm túc, nỗ
lực nghiên cứu, phân tích của riêng bản thân tôi qua khoảng thời gian tìm hiểu
vừa qua. Mọi thông tin và số liệu trong luận văn này đều trung thực và có nguồn
gốc rõ ràng, xuất phát từ thực tế hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Sông
Đà 10.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Phương Nga


ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận
được sự hướng dẫn và giúp đỡ, góp ý kiến nhiệt tình của quý thầy cô trường
Đại học Thương mại.
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS. Chu Thị Thủy đã dành rất nhiều
thời gian, tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
tốt nghiệp.
Nhân đây tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học
Thương mại cùng quý thầy cô đã giảng dạy, tạo điều kiện để tôi học tập và hoàn
thành khóa học.
Đồng thời tôi cũng cảm ơn quý anh chị, ban lãnh đạo Công ty cổ phần
Sông Đà 10 đã tạo điều kiện cho tôi điều tra, khảo sát để có giữ liệu, số liệu
viết luận văn.
Mặc dù tôi đã có sự cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt
tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất
mong nhận được sự đóng góp quý báu của thầy cô và các bạn!
Hà nội, ngày 09 tháng 8 năm 2016
Học viên


Chữ viết tắt

Ý nghĩa

1

CP

Cổ phần

2

DN

Doanh nghiệp

3

ĐTLD

Đối tượng lao động

4

LN

Lợi nhuận

5


TSCĐ

Tài sản cố định

11

TSLĐ

Tài sản lưu động

12

SXKD

Sản xuất kinh doanh

13

VCĐ

Vốn cố định

14

VLĐ

Vốn lưu động

15

sẽ dẫn đến vốn bị sử dụng lãng phí sai mục đích, giảm tốc độ luân chuyển
vốn, tăng chi phí, giảm hiệu quả hoạt dộng sản xuất kinh doanh, giảm lợi
nhuận, giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng rất lớn đến sự
tồn tại của doanh nghiệp. Do đó để có thể sử dụng vốn kinh doanh một cách
hợp lý hiệu quả và tiết kiệm doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống, công tác
quản trị vốn kinh doanh một cách hiệu quả, tận dụng những thế mạnh của mình
để không ngừng phát triển và lớn mạnh đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị
trường nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với mỗi doanh nghiệp.
Nhận thức được tầm quan trọng của VKD cũng như ảnh hưởng của
công tác sử dụng vốn kinh doanh tới hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả


2
kinh doanh của doanh nghiệp qua thời gian tìm hiểu và nghiên cứu Công ty
Cổ phần Sông Đà 10 được sự hướng dẫn tận tình của cô giáo hướng dẫn TS.
Chu Thị Thủy, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình là:
“Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty Cổ phần Sông Đà
10”
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu của các công trình liên quan
trước đây
Hiệu quả về sử dụng vốn kinh doanh là đề tài được nhiều tác giả nghiên
cứu và tìm hiểu. Có thể điểm qua một số tác giả với những đề tài có liên quan
trong thời gian qua:
Tác giả Trần Lệ Phương với đề tài “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn của Công ty xây lắp Bưu điện Hà Nội”; Tác giả Nguyễn Văn
Minh với đề tài “Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty cổ phần May 10”. Các tác
giả đều nghiên cứu chung về hiệu quả sử dụng vốn của công ty, các giải pháp
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho công ty. Đây là đề tài nghiên cứu rộng và
bao quát nên các tác giả không thể đi sâu vào từng loại vốn của công ty.
Tác giả Trần Quang Mạnh với đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

+ Phạm vi thời gian: Các số liệu sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề
tài tập trung trong khoảng thời gian ba năm: 2013, 2014, 2015.
+ Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu tại Công ty Cổ phần Sông Đà 10
5. Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài này, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu bao gồm:
Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp:
+ Tài liệu tổng hợp về Công ty liên quan đến các thông tin: sơ lược về
Công ty, báo cáo tài chính và các số liệu thống kê khác trong 3 năm 2013,


4
2014 và 2015. Các dữ liệu này được thu thập từ phòng Tài chính – Kế toán
của Công ty.
+ Thu thập các tài liệu liên quan từ báo chí, các đề tài nghiên cứu, các
luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ và các tài liệu nước ngoài có liên quan. Bên
cạnh đó, sử dụng website chính thức của Công ty để tìm kiếm thêm những
thông tin cần thiết phục vụ cho nghiên cứu của mình.
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:
Thu thập các dữ liệu sơ cấp thông qua việc quan sát hoạt động kinh
doanh cũng như các hoạt động liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài.
Ngoài ra tiến hành phỏng vấn một số cán bộ, nhân viên thuộc các phòng ban
của công ty để có thêm thông tin từ nhiều phía, lập phiếu hỏi để đánh giá sự
hài lòng của ban lãnh đạo và cán bộ về tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Phương pháp xử lý dữ liệu
Từ những dữ liệu thứ cấp và sơ cấp thu thập được, tiến hành kiểm tra
tính chính xác của các thông tin, sau đó bổ sung hoặc loại bỏ những thông tin
không chính xác. Bên cạnh đó, trong nghiên cứu này cũng sử dụng phân tích
tỷ số, so sánh, đối chiếu, phương pháp phân tích – tổng hợp, thống kê,
phương pháp mô tả và khái quát đối tượng nghiên cứu, phương pháp hệ thống

về số tiền lớn hơn ban đầu. Do đó vốn mang lại giá trị thặng dư cho doanh
nghiệp. Quan điểm này đã chỉ rõ mục tiêu của quản lý là sử dụng vốn, nhưng
lại mang tính trừu tượng, hạn chế về ý nghĩa đối với hạch toán và phân tích
quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Theo nghĩa rộng: vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để
sản xuất hàng hoá, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến
thức kinh tế, kỹ thuật của doanh nghiệp được tích luỹ, sự khéo léo về trình độ
quản lý và tác nghiệp của các cán bộ điều hành, cùng đội ngũ cán bộ công
nhân viên trong doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp.
Theo nghĩa hẹp: vốn là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, mỗi doanh
nghiệp, mỗi quốc gia.
Theo quan điểm của Mác: vốn (tư bản) không phải là vật, là tư liệu sản
xuất, không phải là phạm trù vĩnh viễn. Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng
dư bằng cách bóc lột lao động làm thuê. Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản
ứng tiền ra mua tư liệu sản xuất và sức lao động, nghĩa là tạo ra các yếu tố của
quá trình sản xuất. Các yếu tố này có vai trò khác nhau trong việc tạo ra giá trị


7
thặng dư. Mác chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến. Tư bản
bất biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất (máy móc, thiết
bị, nhà xưởng) mà giá trị của nó được chuyển nguyên vẹn vào sản phẩm. Còn tư
bản khả biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức lao động, trong quá trình
sản xuất thay đổi về lượng, tăng lên do sức lao động của hàng hoá tăng.
Một số nhà kinh tế học khác lại cho rằng: Vốn có nghĩa là phần lượng
sản phẩm tạm thời phải hi sinh cho tiêu dùng hiện tại của nhà đầu tư, để đẩy
mạnh sản xuất tiêu dùng trong tương lai. Quan điểm này chủ yếu phản ánh
động cơ về đầu tư nhiều hơn là nguồn vốn và biểu hiện của nguồn vốn. Do
vậy quan điểm này cũng không đáp ứng được nhu cầu nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn cũng như phân tích vốn.

doanh nghiệp.
Như vậy, có thể nói vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền
ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nói cách khác, đó là
biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị các tài sản mà doanh nghiệp đã đầu tư
và sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận.
1.1.2.2. Đặc trưng của vốn kinh doanh
- Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn kinh doanh của doanh nghiệp
không ngừng vận động, chuyển đổi hình thái biểu hiện. Từ hình thái vốn tiền
tệ ban đầu sang hình thái vốn vật tư, hàng hóa và cuối cùng lại trở về hình thái
vốn tiền tệ. Quá trình này diễn ra liên tục, thường xuyên lặp lại sau mỗi chu
kỳ kinh doanh và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển vốn kinh doanh
của doanh nghiệp. Tuy nhiên, quá trình này diễn ra nhanh hay chậm lại phụ
thuộc rất lớn vào các đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của từng ngành kinh doanh,
dựa vào trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp.


9
- Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, vốn kinh doanh không chỉ là
điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của doanh nghiệp mà còn được coi là một
loại hàng hóa đặc biệt. vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của các tài sản
nhất định cả tài sản hữu hình và vô hình mà doanh nghiệp huy động, sử dụng
vào kinh doanh.
- Vốn kinh doanh của doanh nghiệp luôn vận động và gắn với một chủ
sở hữu nhất định. Các doanh nghiệp không thể mua bán quyền sở hữu vốn mà
chỉ có thể mua, bán quyền sử dụng vốn kinh doanh trên thị trường tài chính.
Giá cả của quyền sử dụng vốn kinh doanh chính là chi phí cơ hội trong việc
sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
- Do tác động của các yếu tố khả năng sinh lời và rủi ro nên vốn kinh
doanh của doanh nghiệp luôn có giá trị theo thời gian. Một đồng vốn kinh

thành nên các TSCĐ dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của các TSCĐ trong doanh nghiệp.
Đặc điểm của vốn cố định:
- VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.Điều
này xuất phát từ đặc điểm của TSCĐ là được sử dụng lâu dài, sau nhiều năm
mới cần thay thế.
- Trong quá trình sản xuất kinh doanh VCĐ được luân chuyển từng phần
vào giá trị sản phẩm. Phần giá trị luân chuyển này của vốn cố định được phản
ánh dưới hình thức chi phí khấu hao TSCĐ, tương ứng với phần giá trị hao
mòn của TSCĐ của doanh nghiệp.
- Sau nhiều chu kỳ kinh doanh VCĐ mới hoàn thành một vòng luân
chuyển. Sau mỗi chu kỳ kinh doanh, phần VCĐ đã luân chuyển tích lũy lại sẽ
tăng dần lên, còn phần VCĐ đầu tư ban đầu vào TSCĐ của doanh nghiệp lại
giảm dần xuống theo mức độ hao mòn. Cho đến khi TSCĐ của doanh nghiệp


11
hết thời hạn sử dụng giá trị của nó được thu hồi hết dưới hình thức khấu hao
tính vào giá trị sản phẩm thì VCĐ cũng hoàn thành một vòng luân chuyển.
TSCĐ của doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu có giá trị
lớn, có thời gian sử dụng lâu dài trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Theo quy định hiện hành của nước ta các TLLĐ được coi là
TSCĐ phải:
+) Có giá trị từ 30 triệu VNĐ
+) Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên
TSCĐ được phân loại theo các tiêu thức:
 Theo hình thái biểu hiện và công dụng kinh tế:
- TSCĐ hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể do doanh
nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh bao gồm: nhà cửa, vật kiến trúc;
máy móc, thiết bị; phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn; thiết bị, dụng cụ

trình sản xuất kinh doanh: Từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu trở thành vật tư,
hàng hóa dự trữ sản xuất, tiếp đến trở thành sản phẩm dở dang, bán thành
phẩm, thành phẩm và cuối cùng lại trở về hình thái vốn bằng tiền.
- Giá trị của vốn lưu động được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị
sản phẩm hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra và đuwọc bù đắp lại khi doanh nghiệp
thu được tiền bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, tạo thành vong tuần hoàn.
Phân loại vốn lưu động:
VLĐ được phân loại chủ yếu theo các tiêu thức sau:
- Phân loại theo hình thái biểu hiện của VLĐ:
Vốn vật tư, hàng hóa bao gồm vốn tồn kho nguyên vật liệu, sản phẩm
dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm.
Vốn bằng tiền và các khoản phải thu gồm tiền mặt tại các quỹ, tiền gửi
ngân hàng, các khoản phải thu


13
 Cách phân loại này giúp cho DN đánh giá được mức độ dự trữ tồn
kho, khả năng thanh toán, tính thanh khoản của các tài sản đầu tư trong DN
- Phân loại theo vai trò của VLĐ:
VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất bao gồm nguyên nhiên vật liệu, phụ
tùng thay thế, công cụ dụng cụ nhỏ dự trữ sản xuất
VLĐ trong khâu sản xuất gồm vốn bán thành phẩm, sản phẩm dở
dang, vốn chi phí trả trước
VLĐ trong khâu lưu thông gồm vốn thành phẩm, vốn trong thanh
toán, vốn đầu tư ngắn hạn, vốn bằng tiền.
 Các phân loại này cho thấy vai trò của từng loại VLĐ trong quá trình
SXKD từ đó lựa chọn bố trí cơ cấu vốn đầu tư hợp lý, đảm bảo sự cân đối về
năng lực sản xuất giữa các giai đoạn trong quá trình SXKD của DN
1.1.4. Hiệu quả
Hiệu quả là một tương quan so sánh giữa kết quả đạt được theo mục tiêu

lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển văn minh của xã hội và nâng cao đời
sống của loài người qua mọi thời đại.
Tóm lại hiệu quà kinh tế là một phạm trù khách quan, phản ánh trình độ
và năng lực quản lý, đảm bảo thực hiện có kết quả cao những nhiệm vụ kinh
tế xã hội đặt ra trong từng thời kỳ với chi phí nhỏ nhất. Hiệu quả kinh tế cũng
là mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp.
Chúng ta có thể khái quát tương quan giữa lợi ích kinh tế và chi phí bỏ
ra để có lợi ích đó bằng hai công thức:
Một là: Hiệu quả là hiệu số giữa kết quả và chi phí
Ta có: HQ = KQ - CF
HQ: Là hiệu quả đạt được trong một thời kỳ nhất định
KQ: Là kết quả đạt được trong thời kỳ đó
CF: Chi phí đã bỏ ra để đạt kết quả

.


15
Đây là hiệu quả tuyệt đối, mục đích so sánh ở đây là để thấy được mức
chênh lệch giữa kết quả và chi phí, mức chênh lệch càng lớn thì hiệu quả càng
cao. Cách so sánh này có ưu điểm là đơn giản dễ tính toán nhưng có nhiều
nhược điểm rất cơ bản:
Không cho phép đánh giá chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Không có khả năng so sánh hiệu quả giữa các thời kỳ, giữa các doanh
nghiệp với nhau.
Không phản ánh được năng lực tiềm năng để nâng cao hiệu quả.
Dễ đồng nhất hai phạm trù hiệu quả và kết quả.
Hai là: Hiệu quả là tỷ lệ so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra
để đạt được kết quả đó. Đây là hiệu quả tương đối

nguồn vốn của doanh nghiệp có tác động rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Vì thế, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu
cầu mang tính thường xuyên và bắt buộc đối với doanh nghiệp. Đánh giá hiệu
quả sử dụng vốn sẽ giúp ta thấy được hiệu quả hoạt động kinh doanh nói
chung và quản lý sử dụng vốn nói riêng.
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản
ánh trình độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn làm cho đồng vốn sinh
lời tối đa nhằm mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài
sản của vốn chủ sở hữu.
1.1.6. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp là
kinh doanh thu được lợi nhuận cao. Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp
cũng là quá trình hình thành và sử dụng vốn kinh doanh. Vì vậy, hiệu quả sử
dụng vốn kinh doanh được thể hiện ở số lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được
trong kỳ và mức sinh lời của mỗi đồng vốn kinh doanh. Xét trên góc độ sử


17
dụng vốn, lợi nhuận thể hiện kết quả tổng thể của quá trình phối hợp tổ chức
đảm bảo vốn và sử dụng vốn cố định, vốn lưu động cả doanh nghiệp.
Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh mối quan hệ giữa kết quả thu được từ
hoạt động sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó, nó
phản ánh trình độ khai thác sử dụng các nguồn lực vốn trong hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy, khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh có thể được
hiểu như sau: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng
hợp được biểu hiện bằng các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế kỹ thuật, nó phản ánh
trình độ khai thác, sử dụng các nguồn lực vốn trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là tiến trình hoạch định, tổ

- Vị thế cạnh tranh, tăng thị phần
- Nâng cao chất lượng phục vụ
- Duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp
- Đạt sự ổn định nội bộ
- v.v...
Tại một thời điểm nhất định doanh nghiệp có thể có nhiều mục tiêu
khác nhau. Các mục tiêu này thay đổi theo thời gian và mỗi khi thay đổi mục
tiêu thay đổi luôn cả cách nhìn nhận và quan điểm đánh giá hiệu quả.
Song về mặt kinh tế, các mục tiêu trên đều quy tụ về một đích, một
mục tiêu cơ bản, đó là mức tăng lợi nhuận để đảm bảo tính ổn định và phát
triển doanh nghiệp. Mục tiêu tăng thị phần, chiếm lĩnh thị trường cũng nhằm
mục đích tăng doanh thu, tăng lợi nhuận. Phấn đấu tiết kiệm chi phí xét cho
cùng cũng nhằm tăng lợi nhuận. Bởi vậy lợi nhuận được xem là tiêu chuẩn để
thiết lập các chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả kinh tế.
Là những dơn vị kinh doanh, doanh nghiệp nào cũng muốn đạt lợi nhuận


19
tối đa. Song lợi nhuận tối đa luôn gắn liền với rủi ro tối đa với mạo hiểm trong
kinh doanh. Muốn kinh doanh có lợi nhuận phải biết mạo hiểm, nhưng mạo
hiểm khống có nghĩa là liều lĩnh, mạo hiểm phải đi đôi vối an toàn trong kinh
doanh. Bởi vậy không phải là lợi nhuận tối đa mà là lợi nhuận hợp lý, lợi nhận
trong thế ổn định của doanh nghiệp mới là tiêu chuân đánh giá hiệu quả kinh
tế của doanh nghiệp thương mại.
Một điều cần lưu ý là khi lấy lợi nhuận làm tiêu chuẩn để xác lập các chỉ
tiêu đo lường và đanh giá hiệu quả kinh tế chưa phản ánh đầy đủ sự đóng góp
của doanh nghiệp thương mại đối với xã hội. Đối vối chủ sở hữu của doanh
nghiệp lợi nhuận và sự ổn định của doanh nghiệp là tiêu chuẩn cơ bản của
hiệu quả kinh tê, nhưng đối vối doanh nghiệp, một tế bào của nền kinh tế
quốc dân, một cơ sở của xã hội thì lợi nhuận chưa phản ánh đầy đủ lợi ích

thuần trong kỳ của doanh nghiệp. Nó thể hiện khi thực hiện 1 đồng doanh thu
trong kỳ doanh nghiệp có thể thu được bao nhiêu lợi nhuận.
ROS =
Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (BEP)
Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản còn được gọi là tỷ suất lợi nhuận trước
lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh (BEP). Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh
lời của tài sản hay vốn kinh doanh không tính đến ảnh hưởng của nguồn gốc của
vốn kinh doanh và thuế thu nhập doanh nghiệp. Công thức tính:
BEP =
Vòng quay toàn bộ VKD:
Vòng quay toàn bộ VKD =
Chỉ tiêu này phản ánh trong kỳ, VKD của doanh nghiệp quay được mấy
vòng. Số vòng quay toàn bộ vốn càng lớn chứng tỏ tốc độ luân chuyên VKD
càng nhanh và ngược lại. Khi doanh nghiệp đẩy nhanh số vòng quay toàn bộ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status