LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Tôi cũng xin
cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa
từng được sử dụng để bảo vệ luận văn của một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc. Đồng
thời tôi xin cam đoan trong quá trình thực hiện đề tài tại địa phương tôi luôn chấp
hành đúng mọi quy định của địa phương nơi thực hiện đề tài.
Hà Nội, ngày 1tháng 6 năm 2015
Sinh viên
Lê Thị Như
1
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu, thực tập tốt nghi ệp và hoàn thành
Khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân tôi đã nhận đượ c
sự quan tâm, giúp đỡ rất nhiệt tình về nhiều mặt của các tổ chức và các cá
nhân trong và ngoài trườ ng.
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Ban giám đốc
Học Viện Nông nghiệp Việt Nam, khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, bộ môn
Kinh Tế Tài Nguyên và Môi Trường và các thầy, cô giáo đã tạo điều kiện cho tôi
học tập, nghiên cứu và hoàn thành Khóa luận.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo: CN. Hoàng Thị
Hằng và thầy giáo: GS.TS Nguyễn Văn Song, người đã dành nhiều thời gian trực
tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp.
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo UBND xã Tây Phong,
dung, tiêu chí xây dựng NTM. Đồng thời tôi cũng đưa ra cơ sở thực tiễn về kinh
nghiệm của 2 quốc gia tiêu biểu về thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng
nông thôn mới (Trung Quốc, Nhật Bản,) và kinh nghiệm của 2 địa phương tiêu
biểu trong cả nước (Huyện Lập Thạch Vĩnh Phúc; Huyện Đắk Glong – Đắk
Nông). Đây là những mô hình thực thi tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM
điển hình và có nhiều bài học kinh nghiệm quý cho xã Tây Phong học hỏi.
Trên cơ sở hiểu rõ về cơ sở thực tiễn và cơ sở lý luận, tôi có tìm hiểu và
nêu ra các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Tây Phong.
Đây chính là những yếu tố có ảnh hưởng tới việc huy động các nguồn lực xã hội
trong thực thi tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM của xã.
Trong quá trình nghiên cứu, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính
là: Phương pháp chọn điểm nghiên cứu (chọn 3/4 thôn của xã) và chọn mẫu là 60
hộ nông dân đã được chọn điểm; phương pháp thu thập tài liệu (sơ cấp và thứ
cấp); phương pháp xử lý thông tin; phương pháp phân tích thông tin (thống kê mô
tả; so sánh); hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu. Đây đều là những phương pháp nghiên
cứu phù hợp với đề tài.
3
Qua nghiên cứu tình hình thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng mô
hình NTM tại xã có một số vấn đề nổi bật sau:
Thứ nhất: Về tình hình cấp và sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh
Xã Tây Phong đã được lắp đặt hệ thống xử lý và cấp nước sạch, nên hiện
nay, có 100% hộ dân trong xã được cấp và sử dụng nước sạch.
Thứ hai: Về tình hình thu gom, xử lý rác thải tại xã Tây Phong
Trong môi trường hộ, đạt 100% hộ dân có thu gom rác thải sinh hoạt,
nhưng tỉ lệ hộ phân loại rác thải sinh hoạt chỉ chiếm 76,67%, tỉ lệ thu gom rác
thải cứng tập trung chiếm tỉ lệ thấp chỉ 36,67%. Hình thức xử lý rác thải trong
sinh hoạt của hộ chủ yếu là thu đốt, thu gom tập trung, chôn lấp trong hố, một
số hộ ý thức kém còn đổ ra mương, đường làm ảnh hưởng tới môi trường và mỹ
quanh vườn nên có thể tự ngấm và phân hủy ngay trong vườn nhà, hình thức nhà
tiêu có 1 hố ủ phân chiếm tỷ lệ 35,00%, tập trung ở nhóm hộ có nhu cầu lấy
phân bón cây cao.
Nước thải trong chăn nuôi được hình thành trong quá trình cho ăn, dội, rửa
chuồng, nước tiểu của vật nuôi. Có 60,00% hộ dân xã Tây Phong có hình thức xử
lý nước thải trong chăn nuôi là để bón, tưới vườn, tập trung cao ở nhóm hộ
nghèo. Bên cạnh đó còn 6,67% hộ xả trực tiếp nước thải chăn nuôi ra sông.
Thứ tư: Về các hoạt động bảo vệ môi trường trong xã
Trong môi trường dân cư, hoạt động bảo vệ môi trường được người dân
tham gia nhiệt tình và đầy đủ, có 100% hộ dân tham gia vệ sinh đường làng, ngõ
xóm; hoạt động khai thông cống rãnh hàng năm luôn đượ c thực hiện tốt với
81,67% hộ dân tham gia, giúp giảm mùi bốc lên, giảm ruồi bọ gây bệnh cho
người dân; hoạt động thu gom phân loại rác, không vứt rác bừa bãi ở đườ ng,
mương đượ c thực hiện tốt 81,67% hộ dân tham gia.
Trong môi trường trồng tr ọt, t ỷ l ệ người dân áp dụng kỹ thuật 3 giảm
3 tăng đã đạt tới 85,00%, tỷ lệ hộ dân sử dụng phân chuồng ủ hoai mục cho
cây trồng vẫn giữ ở mức cao chi ếm 51,67%.
Trong môi trường chăn nuôi, có hơn 63% hộ xây khu chăn nuôi xa nhà ở
đảm bảo vệ sinh môi trường.
5
Thứ năm: Các hoạt động gây suy thoái môi trường tại xã Tây Phong
Trong môi trường dân cư, các hoạt động xả rác thải, nước thải trực tiếp
ra đường, sông; sử dụng thu ốc diệt c ỏ ở b ờ mương, sông đã gây ô nhiễm
nghiêm trọng tới môi trường xung quanh và sức khỏe của con người.Trong
môi trường sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng thu ốc di ệt c ỏ và diệt ốc
chiếm tỉ lệ khá cao, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường đất, nước,
không khí khi nó làm trai đất giảm độ phì của đất và năng suất cây trồng ng
CNHHĐH
DT
DV
ĐVT
HĐND
HTX
HVS
KHKT
KTXH
MT
NN
NS
NTM
PTNT
TDTT
UBND
VSMT
VSV
XHCN
9
Nghĩa đầy đủ
Ban chỉ đạo
Ban quản lý
Bảo hiểm y tế
Bảo vệ thực vật
Cơ cấu
Công nghiệp hóa hiện đại hóa
Diện tích
hóa, dịch vụ nông thôn kém phát triển kể cả y tế, giáo dục,..là rào cản cho quá
trình chuyên môn hóa.
Trước yêu cầu của phát triển và hội nhập , mục tiêu đẩy nhanh công
nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, đòi hỏi có nhiều chính sách đột phá và động
bộ nhằm giải quyết toàn bộ các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa của nông thôn.
Nhờ sự quan tâm, lãnh đạo của Đảng mà vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông
thôn luôn được đặt lên hàng đầu và có những chuyển biến tích cực. Đời sống vật
chất của dân cư nông thôn không ngừng được cải thiện, nâng cao. Tuy nhiên, bên
cạnh đó cũng xuất hiện biến đổi tiêu cực làm ảnh hưởng tới sức khỏe và chất
lượng cuộc sống người dân do kinh tế ngày càng phát triển đòi hỏi nhu cầu sản
phẩm tăng cả về chất lượng và số lượng gây gánh nặng cho sản xuất nông nghiệp
và làm ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi. Mặt khác khi
đời sống của người dân được cải thiện và nâng cao làm lượng rác thải và nước thải
tăng và về số lượng và nồng độ, nếu giải quyết không triệt để sẽ gây ô nhiễm môi
trường và làm mất mỹ quan nông thôn.
Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa X đã ban hành nghị
quyết 26NQ/TW ngày 05/28/2008 về vấn đề nông nghiệp nông dân và nông
10
thôn, tiến hành xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới trong thời kỳ công
nghiệp hóa – hiên đại hóa. Cùng với quá trình thực hiện chủ trương của Đảng về
phát triển nông thôn, xã Tây Phong, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã tiến hành
thực hiện chương trình nông thôn mới theo 19 tiêu chí trong đó có tiêu chí số 17
nhằm bảo vệ môi trường. Mục tiêu của mô hình nông thôn mới là phát triển kinh
tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân được, phát triển nông
thôn theo quy hoạch, cơ cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại, dân trí được nâng
cao, bản sắc văn hóa được giữ gìn và phát huy, môi trường sinh thái được bảo
vệ.
NTM tại xã Tây Phong;
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình thực thi tiêu chí môi trường
trong xây dựng mô hình NTM tại xã Tây Phong;
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện việc thực thi tiêu chí môi trường
trong xây dựng mô hình NTM tại xã Tây Phong;
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm trả lời câu hỏi sau:
Tình hình thực thi tiêu chí môi trường trong xây dựng mô hình NTM tại
xã Tây Phong đang diễn ra như thế nào?
Những yếu tố nào ảnh hưởng tới quá trình thực thi tiêu chí môi trường trong xây
dựng mô hình NTM của xã Tây Phong?
Các giải pháp nào để hoàn thiện việc thực thi tiêu chí môi trường trong
xây dựng mô hình NTM tại xã Tây Phong?
1.4 Đối tượng, địa bàn, phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về xây dựng
nông thôn mới, đặc biệt quan tâm phân tích những tiêu chí liên quan đến vấn đề
môi trường khi xây dựng mô hình nông thôn mới và các yếu tố ảnh hưởng đến
kết quả thực hiện tiêu chí môi trường tại xã Tây Phong.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
12
Phạm vi không gian: Xã Tây Phong, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam có thể hiểu:“ Nông thôn là vùng
sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham
gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội và môi trường trong một thể chế
chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác”.( Mai Thanh Cúc và
cộng sự, 2005)
Xây dựng mô hình nông thôn mới
Đã có nhiều quan niệm khác nhau về nông thôn mới. Nông thôn mới là
nông thôn có “diện mạo mới, sức sống mới”; “diện mạo mới, nông nghiệp mới,
nông gia mới”; “nông nghiệp phát triển, nông thôn văn minh, nông dân khá giả”;
“sản xuất phát triển, cuộc sống sung túc, môi trường sạch sẽ, làng văn minh,
quản lý dân chủ”. Khái niệm NTM mang đặc trưng của mỗi vùng nông thôn khác
nhau. Nhìn chung, mô hình NTM là mô hình cấp xã, thôn được phát triển toàn
diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, văn minh hóa. Sự
hình dung chung của các nhà nghiên cứu về mô hình nông thôn mới là những kiểu
14
mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu KHKT hiện đại mà
vẫn giữ được nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa của người Việt Nam.
Mô hình NTM được quy định bởi các tính chất: Đáp ứng yêu cầu phát
triển; có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường; Đạt hiệu
quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; Tiến bộ hơn
so với mô hình cũ; chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng
trên cả nước.
Xây dựng NTM là việc đổi mới tư duy, nâng cao năng lực của người dân,
tạo động lực giúp họ chủ động phát triển kinh tế, xã hội, góp phần thực hiện
chính sách vì nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thay đổi cơ sở vật chất và diện
mạo đời sống, văn hóa, qua đó thu hẹp khoảng cách sống giữa nông thôn và thành
thị. Đây là quá trình lâu dài và liên tục, là một trong những nội dung trọng tâm
bộ thì xây dựng NTM là một nhu cầu tất yếu, bởi một số lý do cơ bản sau:
Thứ nhất, nông thôn phát triển tự phát, thiếu quy hoạch, hạ tầng kinh tế
xã hội kém phát triển, ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội ngày một gia tăng, nét
đẹp văn hóa bị mai một mất đi…
Ở nông thôn có rất nhiều tiềm năng để phát triển nhưng hiện nay việc
phát triển còn mang tính tự phát, chưa có sự thống nhất từ trên xuống, sản xuất
nông nghiệp chưa đạt được hiệu quả cao, thu nhập của người dân thấp dẫn đến
tình trạng người dân không còn mặn mà với nông nghiệp “ngành nông nghiệp ít
người muốn vào, nông thôn ít người muốn ở, nông dân ít người muốn làm”.
Thứ hai, sản xuất nông nghiệp còn lạc hậu, quan hệ sản xuất chậm đổi mới
Các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn hiện nay chủ yếu vẫn là kinh
tế hộ, với quy mô nhỏ, manh mún, nhỏ lẻ, bảo quản chế biến chưa gắn chế
biến với thị trường tiêu thụ sản phẩm; chất lượng nông sản chưa đủ sức cạnh
tranh trên thị trường. Ngoài ra ở nông thôn cũng hình thành các hình thức tổ chức
sản xuất khác như: HTX dịch vụ nông nghiệp, HTX tín dụng nhưng các hình
thức này chưa phát triển mạnh, các HTX hoạt động khá hiệu quả nhưng chưa
thật sự bền vững.
Thứ ba, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn
16
Báo Dân Việt dẫn nguồn tin tại Hội thảo công bố “Báo cáo đặc điểm kinh
tế nông thôn Việt Nam – kết quả điều tra hộ gia đình nông thôn năm 2012 tại 12
tỉnh” cho biết hiện nay, mức thu nhập của hộ nông dân chỉ đạt gần 50.000
đồng/ngày; 41,5% số hộ không hài lòng về cuộc sống.Thu nhập một năm mỗi
người dân ở nông thôn chỉ được 4,2 triệu đồng, tương đương với 200 USD trên
một năm.Trong khi đó, mức thu nhập trung bình theo đầu người ở nông thôn của
Trung Quốc năm 2012 đạt 1.285 USD/năm. So với người nông dân Việt và người
nông dân Trung Quốc họ có thu nhập cao hơn chúng ta cả chục lần.
ngày 13 tháng 4 năm 2011 về hướng dẫn thực hiện Quyết định 800/QĐTTg đã
đề ra 6 nguyên tắc trong xây dựng nông thôn mới như sau:
(1). Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng nông thôn mới
phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông
thôn mới ban hành tại Quyết định số 491/Q ĐTTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của
Thủ tướng Chính phủ.
(2). Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính,
Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách,
cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện. Các hoạt động cụ thể do
chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức
thực hiện.
(3). Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình
hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông
thôn.
(4). Thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới phải gắn với kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm
bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cấp có thẩm
quyền xây dựng.
(5). Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường
phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự
án của Chương trình xây dựng nông thôn mới; phát huy vai trò làm chủ của người
18
dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức
thực hiện và giám sát đánh giá.
(6). Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và
toàn xã hội; cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình
xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch, và tổ chức thực hiện. Mặt trận Tổ quốc
Căn cứ quyết định số 491/QĐ TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính
phủ về việc ban hành bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới.
* Các nhóm tiêu chí
Nhóm I: Quy hoạch( 1 tiêu chí)
Nhóm II: Hạ tầng kinh tế xã hội( 8 tiêu chí)
Nhóm III: Kinh tế và tổ chức sản xuất( 4 tiêu chí)
Nhóm IV: Văn hóa xã hội môi trường( 4 tiêu chí)
Nhóm V: Hệ thống chính trị( 2 tiêu chí)
2.1.5 Nội dung xây dựng tiêu chí môi trường
Tiêu chí môi trường là một trong 19 tiêu chí nông thôn mới theo Quyết định
491/QĐTTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu
chí Quốc gia về nông thôn mới.
2.1.5.1 Mục tiêu
20
Mục tiêu chung của tiêu chí này là : Bảo vệ môi trường, sinh thái, cải
thiện, nâng cao chất lượng môi trường khu vực nông thôn thông qua các hoạt
động tuyên truyền, nâng cao nhận thức, ý thức và đi đến hành động cụ thể của
các cấp, các ngành và cả cộng đồng nhân dân.
Mục tiêu cụ thể: Đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia
nông thôn mới; đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho
dân cư, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện
các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã. Đến
2015 có 35% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn.
2.1.5.2 Nội dung tiêu chí 17 (môi trường)
Bảng 2.1: Nội dung thực hiện tiêu chí 17 (môi trường) trong xây dựng mô hình
NTM
Tiêu
Không có các hoạt động suy giảm môi trường và có các hoạt động
phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp
Các điểm, khu dân cư và các đoạn sông, suối không gây ô nhiễm môi
trường
17.8
17.9
17.10
Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định
Có khu xử lý rác thải của xã hoặc cụm xã hoặc có khu xử lý trong
huyện, liên huyện và người dân phải trả chi phí thu gom và xử lý
Chất thải, nước thải trong khu dân cư, chợ, cơ sở sản xuất kinh doanh
được thu gom và xử lý theo quy định và người dân phải trả chi phí xử
lý.
( Nguồn: Quyết định số 491/QĐ TTg ngày 16/4/2009)
22
2.1.5.3 Nhiệm vụ của tiêu chí MT
Nhiệm vụ chung
Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn
theo quy hoạch, gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong
thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; chỉnh trang, cải
tạo nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển
cây xanh ở các công trình công cộng….
Nhiệm vụ cụ thể
dân tự bỏ nguồn lực xây dựng công trình vì môi trường của hộ để quá trình xây
dựng tiêu chí 17 được ổn định, lâu dài, bền vững. Bên cạnh đó cần biết thúc đẩy
sự đầu tư của các doanh nghiệp trong xây dựng tiêu chí môi trường vì đây là
nguồn lực rất lớn và hiệu quả cho quá trình xây dựng. Khi có sự quan tâm đầu tư
từ trung ương thực hiện tiêu chí MT cần có kế hoạch giải ngân và phân bổ hợp
lý.
b. Nhận thức và sự tham gia của người dân
Quần chúng là đối tượng hưởng lợi chính và trực tiếp trong quá trình thực
hiện tiêu chí môi trường để xây dựng mô hình nông thôn mới. Sự tham gia của
quần chúng là yếu tố chủ yếu, là một trong những thành tố chính của sự phát
triển cộng đồng. Sự tham gia của người dân là phương tiện hữu hiệu để huy
động nguồn lực địa phương, tận dụng năng lực và tính sáng tạo của quần chúng
để tổ chức các hoạt động hoàn thành tiêu chí môi trường. Nó giúp xác định nhu
cầu của người dân được sát đáng (dân cần), sự nhận thức của người dân đầy đủ
và rộng rãi (dân biết, dân chủ động tham gia góp ý xây dựng (dân bàn, dân tự
đứng ra góp công, góp của xây dựng dưới sự hướng dẫn của các tổ chức(dân
làm), vì là công trình của dân, do dân tự bỏ công xây dựng nên người dân sẽ là
người trực tiếp và tự kiểm tra bảo vệ công trình của mình (dân kiểm tra), vì lợi
ích trực tiếp của chính mình (dân hưởng lợi).
c. Năng lực quản lý, trình độ chuyên môn của cán bộ cơ sở
Đội ngũ cán bộ là khâu quan trọng trong, đóng vai trò quyết định đến chất
lượng, hiệu quả của công tác thực hiện tiêu chí môi trường. “Cán bộ là gốc của
mọi việc”, do đó năng lực quản lý, điều hành thực hiện tiêu chí môi trường cũng
24
như năng lực chuyên môn của từng cán bộ cơ sở ảnh hưởng tới mức độ hoàn
thiện của tiêu chí MT. Cán bộ có năng lực tốt, chuyên môn giỏi sẽ đưa ra được
các mục tiêu, nội dung thực hiện phù hợp, tạo động lực phấn đấu hoàn thiện tiêu