Đề tài: Cảm hứng thiên nhiên trong sáng tác của Trần Nhân Tông và Huyền Quang dưới góc nhìn so sánh - Pdf 59

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:
Những nội dung được trình bày trong luận văn là nghiên cứu của  
riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Đoàn Thị Thu Vân.
Mọi tham khảo và trích dẫn sử dụng trong luận văn đều ghi nguồn  
gốc cụ thể (tên tác giả, tên công trình, thời gian công bố).
Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, tôi xin hoàn  
toàn chịu trách nhiệm.
Học viên
         Đinh Thị Đào


LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể thầy cô khoa Ngữ  
Văn, phòng Sau đại học Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh đã tận  
tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường.
Nhân đây, tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè  
và đồng nghiệp đã luôn quan tâm, động viên và chia sẻ  với tôi những khó  
khăn. Đặc biệt, xin gửi lời tri ân sâu sắc nhất tới PGS. TS. Đoàn Thị  Thu  
Vân, người thầy đã tận tâm hướng dẫn và góp ý cho tôi để hoàn thiện luận  
văn này.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2015
Học viên
Đinh Thị Đào


MỤC LỤC 
Trang bìa phụ
 LỜI CAM ĐOAN                                                                                         

 
............................................................................................
    
 13
 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu                                                                      
 
.....................................................................
    
 13
 5. Phương pháp nghiên cứu                                                                                      
 
.....................................................................................
    
 14
 6. Đóng góp của luận văn                                                                                          
 
.........................................................................................
    
 15
 7. Cấu trúc luận văn                                                                                                  
 
.................................................................................................
    
 15

 Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG                                                  
 
.................................................
    
 16

 64


 2.3. Cảm hứng thiên nhiên trong sáng tác của Huyền Quang                             
 
............................
    
 72
 2.3.1. Thiên nhiên thơ mộng, khoáng đạt và thanh thoát                                     
 
....................................
    
 72
 2.3.2. Thiên nhiên hòa nhập không phân biệt với chủ thể trong trạng thái “quên”   .  87
.    
 2.3.3. Thiên nhiên chan chứa tình người                                                                      
 
.....................................................................
    
 93

Chương   3.   TƯƠNG   ĐỒNG   VÀ   DỊ   BIỆT   TRONG   CẢM   HỨNG 
THIÊN   NHIÊN   Ở   SÁNG   TÁC   CỦA   TRẦN   NHÂN   TÔNG   VÀ 
 HUYỀN QUANG                                                                                      
 
.....................................................................................
    
 102
 3.1. Những nét tương đồng                                                                                    
 

nhà Trần ngày càng ổn định và có những bước phát triển đáng kể. Sau khi 
đất nước đã  ổn định, đời sống nhân dân được  ấm no, Trần Nhân Tông 
truyền ngôi lại cho con trai là Trần Anh Tông và kể  từ  đây, cuộc đời của  
Trần Nhân Tông gắn với nghiệp tu hành. Người chuyên tâm vào nghiên cứu 
Phật học, đi thuyết pháp  ở  nhiều nơi và đã sáng lập ra dòng thiền Trúc 
Lâm. Mặc dù không xuất thân từ  hoàng tộc như  Trần Nhân Tông song  
Huyền Quang cũng được biết đến là một người “sinh ra vì đạo” với nguồn 
gốc xuất thân và cuộc đời nhuốm màu huyền thoại. Ông là người kế  tục  
Trần Nhân Tông và Pháp Loa, trở  thành vị  tổ  thứ  ba của dòng thiền Trúc 
Lâm. Có thể  nói, ngoài sự  nghiệp hoằng dương phật pháp, xây dựng và 
phát triển dòng thiền Trúc Lâm thành một dòng Thiền riêng của Việt Nam,  
những bậc cao tăng  ấy còn đóng góp vào kho tàng văn học dân tộc những  
tác phẩm đặc sắc, có giá trị  nghệ  thuật cao. Điều đó cho thấy, bên cạnh  
một thiền sư, cả  hai cùng được biết đến là những nhà thơ  tài hoa. Tuy 
nhiên, những tác phẩm văn học của họ  vẫn chưa thực sự  được quan tâm  
đúng mức. Điều này có thể thấy qua số lượng các công trình nghiên cứu về 
Trần Nhân Tông, Huyền Quang với tư cách là nhà vua, thiền sư nhiều hơn 
các công trình nghiên cứu chuyên biệt về tác phẩm của họ.


2

Hơn   nữa,   khi   nghiên   cứu   về   trước   tác   của   Trần   Nhân   Tông   và 
Huyền Quang, giới nghiên cứu thường nhấn mạnh đến tính triết lý, giáo 
huấn của các tác phẩm mà ít ai nhấn mạnh đến chất trữ tình. Có lẽ  vì cho 
rằng, những thiền sư dù có cảm xúc trước những vang động của đời nhưng 
tất cả  đều được lọc qua lăng kính của thiền, dưới cái nhìn thiền nên cảm 
xúc không phải là của một con người bình thường nữa mà là cảm xúc của  
một người đã thấu hiểu lẽ sắc không, vượt lên trên tất cả những xúc cảm  
bình thường. Nhưng một điều cần thấy rằng trước khi trở  thành một nhà 

Huyền Quang.
Đó là những lý do để  chúng tôi lựa chọn đề  tài  Cảm hứng thiên  
nhiên trong sáng tác của Trần Nhân Tông và Huyền Quang dưới góc nhìn  
so sánh. Chúng tôi mong rằng sẽ  góp một phần nhỏ  bé vào hành trình tìm 
hiểu con người và tư tưởng của hai vị sư tổ dòng thiền Trúc Lâm
2. Lịch sử vấn đề 
Đến nay, theo tư  liệu văn học, có thể  khẳng định rằng  Cảm hứng  
thiên nhiên trong sáng tác của Trần Nhân Tông và Huyền Quang dưới góc  
nhìn so sánh chưa được đề cập đến trong một công trình nghiên cứu cụ thể 
nào. Tất nhiên, xoay quanh cuộc đời và sự  nghiệp của Huyền Quang và 
Trần Nhân Tông đã có không ít công trình nghiên cứu thuộc ngành Lịch sử,  
Văn học, Phật học. Tuy nhiên vì tính chất của chuyên ngành, chúng tôi chỉ 
khái quát những công trình, những bài viết khai thác dưới góc độ  văn học  
hoặc ít nhiều có liên quan đến văn học. Dưới đây có thể  kể  đến những 
công trình, những bài viết nghiên cứu tiêu biểu nhất.


4

2.1. Lịch sử nghiên cứu Trần Nhân Tông
Trần Nhân Tông là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học 
bởi ông không chỉ  là một vị  vua sáng ­ người đã có công lớn trong lịch sử 
chống giặc ngoại xâm của dân tộc, một thiền giả  xuất sắc ­ tác giả  của  
nhiều công trình nghiên cứu Phật học mà còn là một nhà thơ  lớn.  Tuy 
nhiên, theo sự  tìm hiểu của chúng tôi,  ở  góc độ  là một thi sĩ, Trần Nhân  
Tông chưa được quan tâm đúng mức bởi số  lượng công trình, bài nghiên  
cứu về  Trần Nhân Tông còn khá ít và nhỏ  lẻ. Dưới đây là một số  công 
trình, bài nghiên cứu mà chúng tôi khảo sát được.
Trước hết cần phải nhắc đến cuốn Toàn tập Trần Nhân Tông của 
Lê Mạnh Thát (2000). Cuốn sách là một công trình nghiên cứu về cuộc đời  

Trường vãn vọng. Trần Thị  Băng Thanh trong Những nghĩ suy từ  văn học  
trung đại đã tiến thêm một bước khi tìm hiểu về Trần Nhân Tông. Tác giả 
đã chỉ  ra rằng núi Yên Tử  vừa là nơi di dưỡng tinh thần vừa là nơi khơi  
nguồn cảm hứng cho những sáng tác của Trần Nhân Tông. Thiên nhiên tươi 
đẹp, thơ mộng trữ tình nơi đây đã hòa quyện với tâm hồn nhạy cảm tinh tế 
tạo nên những tác phẩm mà ở đó “Nhân Tông hiện ra hầu như trọn vẹn với  
tư cách nhà thơ”. Trong cách cảm nhận về thiên nhiên, thật khó để  có thể 
phát hiện được đó là xúc cảm của một thiền sư. Chẳng hạn trong những  
cảm nhận của ông về  hoa mai, nhà nghiên cứu Trần Thị  Băng Thanh viết 
“Có biết bao nhà thơ phương Đông đã vịnh hoa mai nhưng Nhân Tông vẫn 
đến với hoa mai bằng những rung cảm riêng vừa thâm trầm tinh tế, vừa 
sắc sảo nồng nàn”.


6

Bài nghiên cứu của Phạm Ngọc Lan  ­ Trần Nhân Tông­ cảm hứng  
Thiền trong thơ được in trong tạp chí Văn học số 4/ 1992 cũng là một trong 
những bài viết đáng chú ý. Chỉ  với vẻn vẹn bốn trang viết nhưng người  
đọc đã có thể hình dung khá trọn vẹn về Trần Nhân Tông. Tác giả bài viết  
cũng khẳng định Trần Nhân Tông không chỉ  là một vị  vua sáng, một thiền 
sư lỗi lạc mà còn là một nhà thơ có phong cách. Thơ ông là sự kết hợp hài  
hòa con người thiền sư và con người thi nhân. Bài viết khai thác chất Thiền 
trong thơ Trần Nhân Tông, đặc biệt những bài thơ viết về thiên nhiên. Tác 
giả  chỉ  rõ đó là sự  cảm nhận tinh tế, sâu lắng trước thiên nhiên. Thiên 
nhiên không  ồn ào mà đạm bạc gắn với những đường nét nhẹ  nhàng, gắn 
với cảnh lặng lẽ u tịch để qua đó gửi gắm ý niệm về cuộc đời của một cái 
Tâm đã đạt đạo…
Đáng chú ý hơn cả  là công trình nghiên cứu mang tên  Con người  
nhân văn trong thơ  ca Việt Nam sơ kì trung đại của tác giả  Đoàn Thị  Thu 

ví bài thơ như một ẩn số mà người đọc luôn luôn tìm cách giải mã thì cách  
giải mã của bài viết này thật “tinh tế và nhạy bén” biết bao.
Trên đây, chúng tôi đã tóm lược ngắn gọn nhất các công trình nghiên  
cứu về  Trần Nhân Tông trên phương diện văn học. Ngoài ra, Trần Nhân 
Tông còn được nghiên cứu  ở  một số  sách, bài báo khoa học, luận văn. Có  
thể kể đến:
­

Trần Thị  Hồng Y (2003), Tìm hiểu thơ  các vua thời thịnh Trần (Từ  
Trần Thái Tông đến Trần Minh Tông), Luận văn Thạc sĩ Ngữ  văn, 
Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.


8

­

Trần Lý Trai (2008), Giá trị  văn học trong tác phẩm của thiền phái  
Trúc Lâm, Luận án Tiến sĩ Ngữ  văn, Trường Đại học Khoa học xã 
hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh

­

Nguyễn Lang (1979), Việt Nam Phật giáo sử luận (tập 1), NXB Văn 
học Hà Nội.

2.2. Lịch sử nghiên cứu Huyền Quang
Huyền Quang trước hết là một thiền sư  lỗi lạc. Vậy nên với tư 
cách là một thiền giả, ông xuất hiện nhiều trong các công trình, bài viết 
nghiên cứu về  thiền học. Còn với tư  cách là một nhà thơ, số  lượng bài 

điều kỳ diệu mà thiên nhiên ban tặng. Ở đó, ta không còn thấy dấu vết của 
cuộc sống trần tục nữa mà là cảnh Bụt, là cõi vô tâm…
Với  chỉ  khoảng 9 trang viết nhưng  tác giả  Nguyễn Phạm Hùng 
trong cuốn Thơ  Thiền Việt Nam­ Những vấn đề  lịch sử  và tư  tưởng nghệ  
thuật đã cho người đọc rõ hơn về  một Huyền Quang thi sĩ. Người viết đã 
đi sâu vào khai thác di sản thơ để qua đó giải mã về con người và tư tưởng  
Huyền Quang. Tác giả  khẳng định “…thơ  của ông rất sâu kín, uẩn khúc 
không trực ngôn mà hàm ngôn, không kể  tâm trạng mà mượn cảnh ngụ 
tình…”. Đó thực sự  là những trang viết rất sâu sắc mà  ở  đó, tác giả  cho  
thấy một Huyền Quang với những tâm sự, những cảm xúc cá nhân và cả 
những suy tư trăn trở trước cuộc đời.
Bài viết Huyền Quang­ nhà sư thi sĩ của Nguyễn Phương Chi có thể 
coi là một trong những bài viết đầu tiên nghiên cứu Huyền Quang với khía 
cạnh một nhà thơ. Bài viết được đăng trên Tạp chí Văn học năm 1982 gây  
chú ý bởi chất văn mượt mà nhẹ  nhàng mà sâu lắng, cách cảm nhận văn 


10

chương rất tinh tế, có những phát hiện thú vị. Dưới góc độ là người nghiên  
cứu những thi phẩm viết về  thiên nhiên của Huyền Quang, chúng tôi coi  
đây là người đã đặt nền tảng cho công trình nghiên cứu của mình. Chỉ  với 
khoảng một trang viết, tác giả  đã phần nào giải mã được con người nhà 
thơ  ­ một “cái tôi” chủ  thể. Đối với Huyền Quang, thiên nhiên không chỉ 
như  là cái nó vốn có mà “Thiên nhiên trở  thành người bạn cởi mở, chân 
tình, là nơi nhà thơ  có thể  giãi bày tâm trạng, thổ  lộ  cảm xúc của mình 
không chút ngại ngần” 
Có lẽ  là thiếu sót nếu không kể  đến các bài nghiên cứu của các 
thiền sư về Huyền Quang thi sĩ. Có thể kể đến cuốn  Thiền học đời Trần. 
Cuốn sách tập hợp 28 bài viết về  các thiền sư  đời Trần từ  những người  

trong nước, tác giả  còn tham khảo thêm những công trình nghiên cứu của 
các học giả nước ngoài. Có thể nói, đây là một công trình được đầu tư khá 
kỹ và rất đáng đề tham khảo.
Ngoài ra, thiền sư  Huyền Quang còn là đối tượng nghiên cứu của  
nhiều công trình cũng như bài báo khoa học khác. Có thể kể thêm các công  
trình đáng chú ý sau: 
­

Nguyễn Kim Sơn (2009), “Sự  đan xen các khuynh hướng thẩm mỹ 
trong thơ  Huyền Quang (Nghiên cứu trường hợp sáu bài thơ  vịnh 
cúc)”, Tạp chí Nghiên cứu văn học (4), tr.75­89.

­

Lê Từ  Hiển (2005), “Basho, Huyền Quang­ Sự  gặp gỡ với mùa thu  
hay sự tương hợp về cảm thức thẩm mỹ”, Tạp chí văn học (7).


12

Bao quát chung về  thiền phái Trúc Lâm có thể kể  đến những đóng 
góp của Trần Lý Trai (Thích Phước Đạt) trong luận án Tiến sĩ mang tên 
Giá trị văn học trong tác phẩm của thiền phái Trúc Lâm (2008). Luận án đã 
bao quát được những giá trị văn học cơ bản trong các tác phẩm của những 
tên tuổi nổi bật trong dòng thiền này như  Trần Thái Tông, Trần Thánh 
Tông, Trần Tung, Trần Nhân Tông, Huyền Quang… Theo  đánh giá chủ 
quan của chúng tôi, đây là một công trình nghiên cứu công phu không chỉ có 
giá trị Phật học mà còn có giá trị lớn về văn học. Tác giả đã chỉ ra những tư 
tưởng thiền học đồng thời cũng làm rõ những cảm hứng chủ  đạo, những  
giá trị  nghệ  thuật của các tác phẩm này.  Trong công trình này, tác giả  đã  

văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát những sáng tác thơ và phú của 
hai tác giả này.
Song song với đó, chúng tôi bước đầu so sánh cảm hứng thiên nhiên 
để chỉ ra nét tương đồng và dị biệt trong cách cảm nhận của mỗi tác giả. 
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu Cảm hứng thiên nhiên trong sáng tác của Trần  
Nhân Tông và Huyền Quang dưới góc nhìn so sánh  dựa vào các bản dịch 
tiếng Việt của các văn bản dưới đây:


14

­  Thơ  văn Lý ­ Trần  (1989) (tập 2), quyển thượng, Viện văn học, 
Nxb Khoa học xã hội.
  ­  Tổng tập văn học Việt Nam  (2000) (tập 2), Trần Lê Sáng (chủ 
biên), Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ 
yếu sau:
­ Phương pháp thống kê: chúng tôi tiến hành thống kê số  lượng tác 
phẩm lấy cảm hứng thiên nhiên nhằm phục vụ  cho việc tìm hiểu cảm  
hứng thiên nhiên trong các tác phẩm của họ.
­ Phương pháp phân tích tác phẩm văn học: đây là phương pháp  
được sử  dụng chủ  yếu khi khái quát, lí giải sự  tương đồng và sự  dị  biệt  
trong cảm hứng thiên nhiên của hai tác giả.
­ Phương pháp so sánh: sử dụng phương pháp này so sánh, đối chiếu 
để chỉ ra những nét tương đồng và dị biệt trong cảm hứng thiên nhiên của 
hai tác giả. Đây là một trong những phương pháp nghiên cứu chính của 
luận văn.
­ Phương pháp hệ  thống: phương pháp này giúp chúng tôi có cái  

16

Trên cơ sở của chương 1 và chương 2, chúng tôi sẽ chỉ ra những nét 
tương  đồng và dị  biệt trong cách cảm nhận của mỗi người,  đồng thời 
chúng tôi bước đầu đưa ra những lý giải về sự tương đồng và khác biệt đó.

Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Giới thuyết khái niệm
1.1.1. Cảm hứng 
Bất kì một công việc nào muốn thành công cũng hỏi sự  đam mê và 
thích thú. Sáng tạo nghệ thuật cũng không là ngoại lệ. Thậm chí đó còn là  
công việc đòi hỏi nhiều hơn cả sự đam mê, thích thú. Không giống như các  
lĩnh vực hoạt động khác, hoạt động sáng tạo nghệ  thuật thuộc lĩnh vực 
chuyên biệt. Nếu ví tác phẩm nghệ thuật như một ngôi nhà thì người nghệ 
sĩ được coi như  một kiến trúc sư. Nhưng người kiến trúc sư  có thể  biến 
ngôi nhà trong trí óc của anh ta thành hiện thực nếu như anh ta có chất liệu. 
Còn với người nghệ  sĩ ­ kiến trúc sư  thì lại khác, chất liệu ngôn từ  bao  
quanh anh ta nhưng nếu không có cảm hứng sáng tạo thì đó cũng chỉ là ngôi  
nhà trong tưởng tượng mà thôi. Như  vậy, nét đặc biệt của những người  
làm nghệ  thuật đó chính là những rung động trong tâm hồn. Chính những 
rung động đó mới tạo ra những tác phẩm nghệ thuật thực sự có giá trị…


17

Cảm hứng là một khái niệm không còn xa lạ  đối với những người  
nghệ sĩ bởi chính nó đã tạo nên phần hồn cho tác phẩm nghệ thuật. Dù có  
cố  gượng ép, nhưng nếu không có cảm xúc thì người nghệ  sĩ chỉ  tạo ra  
những tác phẩm có xác mà không hồn. Ngô Thì Nhậm đã từng viết “Hãy 
xúc động cho ngọn bút có thần” có lẽ là vì thế. Vậy cảm hứng là gì? Từ xa  

Viên, Nguyễn Bính, ta thấy trên cái nền Tây phương  ấy, mỗi người lại  
chọn cho mình một mảnh đất khác nhau. Hàn Mặc Tử  rất thích trăng nên 
trong thơ Hàn là cả một vũ trụ trăng lung linh huyền ảo, nhiều sắc thái vừa 
buồn vừa vui, vừa tạo nên trạng thái thăng hoa nhưng cũng là sự  đớn đau 
quằn quại. Còn với Chế Lan Viên, hình ảnh tháp Chàm đầy ma mị ám ảnh 
thế  giới thơ  ông mà  ở  đó, ta thấy đầy những đầu lâu, những yêu ma, hồn  
máu. Nguyễn Bính lại trở  về  với ngọn nguồn dân tộc với những vần thơ 
đậm chất dân gian, những thôn Đoài thôn Đông, những vườn cau vườn  
trầu…Tất cả  những điều đó cho thấy, người nghệ  sĩ chỉ  “sống” với một 
không gian đặc biệt và trong không gian đó, họ  thích thú, họ  thể  hiện tài 
năng, họ đem tâm mình “nhả tơ trả nợ” cho đời...
Cảm hứng bắt nguồn từ  đời sống, được hun đúc từ  đời sống. Vì 
vậy, cảm hứng sẽ  bị  chi phối bởi thời đại mà người nghệ  sỹ  sinh sống.  
Cảm hứng không phải là thứ  bất di bất dịch mà nó luôn biến thiên để  bắt 
kịp với sự vận động của xã hội, phản ánh đời sống xã hội. Nếu cảm hứng 
chủ  đạo của văn học Việt Nam từ  thế  kỉ  X đến thế  kỉ  XIV là cảm hứng 
yêu nước, chống ngoại xâm và tự  hào dân tộc với âm hưởng hào hùng, 
mang hào khí Đông A (Tụng giá hoàn kinh sư, Hịch tướng sĩ, Tỏ lòng, Phú  
sông Bạch Đằng…) thì sang giai đoạn sau (thế kỉ XV ­ XVII) khi đất nước 
có nhiều biến động với những cuộc nội chiến thì cảm hứng yêu nước 
không còn nữa thay vào đó là cảm hứng thế  sự  với những tác phẩm phản 
ánh   tệ   lậu   và   tình   trạng   suy   thoái   về   đạo   đức   trong   xã   hội   (Thơ   của  


19

Nguyễn Bỉnh Khiêm, Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ…). Đến cuối thế 
kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, con người được đặt vào vị  trí trung tâm đặc biệt 
là người phụ  nữ  nên hình  ảnh người phụ  nữ  xuất hiện nhiều trong văn 
học. Nhà văn lên tiếng bênh vực, đòi quyền sống, quyền hạnh phúc lứa đôi 

nhau. Thiên nhiên cung cấp cho con người những điều kiện cần thiết phục 
vụ  cuộc sống. Vậy nên, đối với con người, thiên nhiên được coi là bà mẹ 
thứ  hai. Có lẽ  vì thế  mà thiên nhiên trở  thành một trong những đề  tài lớn  
trong sáng tác nghệ thuật nói chung và sáng tác văn chương nói riêng. Cảm 
hứng thiên nhiên có thể  hiểu là trạng thái cảm xúc mãnh liệt, là sự  hưng  
phấn của con người mà thiên nhiên đem lại. Lúc này, thiên nhiên không còn 
là thiên nhiên vô tình nữa mà nó trở thành người bạn tâm giao của thi nhân.  
Nó khơi gợi trong lòng người những tình cảm vốn bị che lấp thường ngày, 
những kí  ức bị  nhòe dần trong bộn bề  của cuộc sống, những khát khao, 
những ước vọng đam mê, những nỗi u hoài…Con người gửi gắm vào thiên  
nhiên những tình cảm sâu kín nhất trong tâm hồn.
Trong nền văn học dân tộc, thiên nhiên là một đề tài bao trùm trong  
sáng tác của thi nhân từ  văn học dân gian qua văn học trung đại, hiện đại; 
từ thơ Thiền qua thơ Nho, thơ Mới và ở bất kì giai đoạn nào trong nền văn  
học dân tộc, thiên nhiên đẹp tươi của non sông đất nước vẫn hiện lên qua  
những áng thơ văn. 


21

Mặc dù vậy nhưng xét về  bản chất, cảm hứng thiên nhiên  ở  mỗi 
thời đại có nét khác biệt nhất định. Trong văn học dân gian, thiên nhiên 
mang vẻ đẹp thuần khiết, thiên nhiên như là cái nó vốn có. Hình ảnh vầng 
trăng, cánh đồng thẳm xanh bao la, cánh cò bay lả là những hình  ảnh chân 
thực, đời thường. Câu thơ  viết về  vầng trăng này có lẽ  cho đến ngàn năm  
sau vẫn không thể nào quên.
Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi
(Ca dao)
Vẫn là thiên nhiên ấy nhưng trong thơ Thiền, thiên nhiên vừa là nó 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status