LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Những nội dung được trình bày trong luận văn là nghiên cứu của
riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Đoàn Thị Thu Vân.
Mọi tham khảo và trích dẫn sử dụng trong luận văn đều ghi nguồn
gốc cụ thể (tên tác giả, tên công trình, thời gian công bố).
Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, tôi xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm.
Học viên
Đinh Thị Đào
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể thầy cô khoa Ngữ
Văn, phòng Sau đại học Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh đã tận
tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường.
Nhân đây, tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè
và đồng nghiệp đã luôn quan tâm, động viên và chia sẻ với tôi những khó
khăn. Đặc biệt, xin gửi lời tri ân sâu sắc nhất tới PGS. TS. Đoàn Thị Thu
Vân, người thầy đã tận tâm hướng dẫn và góp ý cho tôi để hoàn thiện luận
văn này.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2015
Học viên
Đinh Thị Đào
MỤC LỤC
Trang bìa phụ
LỜI CAM ĐOAN
............................................................................................
13
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
.....................................................................
13
5. Phương pháp nghiên cứu
.....................................................................................
14
6. Đóng góp của luận văn
.........................................................................................
15
7. Cấu trúc luận văn
.................................................................................................
15
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
.................................................
16
64
2.3. Cảm hứng thiên nhiên trong sáng tác của Huyền Quang
............................
72
2.3.1. Thiên nhiên thơ mộng, khoáng đạt và thanh thoát
....................................
72
2.3.2. Thiên nhiên hòa nhập không phân biệt với chủ thể trong trạng thái “quên” . 87
.
2.3.3. Thiên nhiên chan chứa tình người
.....................................................................
93
Chương 3. TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT TRONG CẢM HỨNG
THIÊN NHIÊN Ở SÁNG TÁC CỦA TRẦN NHÂN TÔNG VÀ
HUYỀN QUANG
.....................................................................................
102
3.1. Những nét tương đồng
nhà Trần ngày càng ổn định và có những bước phát triển đáng kể. Sau khi
đất nước đã ổn định, đời sống nhân dân được ấm no, Trần Nhân Tông
truyền ngôi lại cho con trai là Trần Anh Tông và kể từ đây, cuộc đời của
Trần Nhân Tông gắn với nghiệp tu hành. Người chuyên tâm vào nghiên cứu
Phật học, đi thuyết pháp ở nhiều nơi và đã sáng lập ra dòng thiền Trúc
Lâm. Mặc dù không xuất thân từ hoàng tộc như Trần Nhân Tông song
Huyền Quang cũng được biết đến là một người “sinh ra vì đạo” với nguồn
gốc xuất thân và cuộc đời nhuốm màu huyền thoại. Ông là người kế tục
Trần Nhân Tông và Pháp Loa, trở thành vị tổ thứ ba của dòng thiền Trúc
Lâm. Có thể nói, ngoài sự nghiệp hoằng dương phật pháp, xây dựng và
phát triển dòng thiền Trúc Lâm thành một dòng Thiền riêng của Việt Nam,
những bậc cao tăng ấy còn đóng góp vào kho tàng văn học dân tộc những
tác phẩm đặc sắc, có giá trị nghệ thuật cao. Điều đó cho thấy, bên cạnh
một thiền sư, cả hai cùng được biết đến là những nhà thơ tài hoa. Tuy
nhiên, những tác phẩm văn học của họ vẫn chưa thực sự được quan tâm
đúng mức. Điều này có thể thấy qua số lượng các công trình nghiên cứu về
Trần Nhân Tông, Huyền Quang với tư cách là nhà vua, thiền sư nhiều hơn
các công trình nghiên cứu chuyên biệt về tác phẩm của họ.
2
Hơn nữa, khi nghiên cứu về trước tác của Trần Nhân Tông và
Huyền Quang, giới nghiên cứu thường nhấn mạnh đến tính triết lý, giáo
huấn của các tác phẩm mà ít ai nhấn mạnh đến chất trữ tình. Có lẽ vì cho
rằng, những thiền sư dù có cảm xúc trước những vang động của đời nhưng
tất cả đều được lọc qua lăng kính của thiền, dưới cái nhìn thiền nên cảm
xúc không phải là của một con người bình thường nữa mà là cảm xúc của
một người đã thấu hiểu lẽ sắc không, vượt lên trên tất cả những xúc cảm
bình thường. Nhưng một điều cần thấy rằng trước khi trở thành một nhà
Huyền Quang.
Đó là những lý do để chúng tôi lựa chọn đề tài Cảm hứng thiên
nhiên trong sáng tác của Trần Nhân Tông và Huyền Quang dưới góc nhìn
so sánh. Chúng tôi mong rằng sẽ góp một phần nhỏ bé vào hành trình tìm
hiểu con người và tư tưởng của hai vị sư tổ dòng thiền Trúc Lâm
2. Lịch sử vấn đề
Đến nay, theo tư liệu văn học, có thể khẳng định rằng Cảm hứng
thiên nhiên trong sáng tác của Trần Nhân Tông và Huyền Quang dưới góc
nhìn so sánh chưa được đề cập đến trong một công trình nghiên cứu cụ thể
nào. Tất nhiên, xoay quanh cuộc đời và sự nghiệp của Huyền Quang và
Trần Nhân Tông đã có không ít công trình nghiên cứu thuộc ngành Lịch sử,
Văn học, Phật học. Tuy nhiên vì tính chất của chuyên ngành, chúng tôi chỉ
khái quát những công trình, những bài viết khai thác dưới góc độ văn học
hoặc ít nhiều có liên quan đến văn học. Dưới đây có thể kể đến những
công trình, những bài viết nghiên cứu tiêu biểu nhất.
4
2.1. Lịch sử nghiên cứu Trần Nhân Tông
Trần Nhân Tông là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học
bởi ông không chỉ là một vị vua sáng người đã có công lớn trong lịch sử
chống giặc ngoại xâm của dân tộc, một thiền giả xuất sắc tác giả của
nhiều công trình nghiên cứu Phật học mà còn là một nhà thơ lớn. Tuy
nhiên, theo sự tìm hiểu của chúng tôi, ở góc độ là một thi sĩ, Trần Nhân
Tông chưa được quan tâm đúng mức bởi số lượng công trình, bài nghiên
cứu về Trần Nhân Tông còn khá ít và nhỏ lẻ. Dưới đây là một số công
trình, bài nghiên cứu mà chúng tôi khảo sát được.
Trước hết cần phải nhắc đến cuốn Toàn tập Trần Nhân Tông của
Lê Mạnh Thát (2000). Cuốn sách là một công trình nghiên cứu về cuộc đời
Trường vãn vọng. Trần Thị Băng Thanh trong Những nghĩ suy từ văn học
trung đại đã tiến thêm một bước khi tìm hiểu về Trần Nhân Tông. Tác giả
đã chỉ ra rằng núi Yên Tử vừa là nơi di dưỡng tinh thần vừa là nơi khơi
nguồn cảm hứng cho những sáng tác của Trần Nhân Tông. Thiên nhiên tươi
đẹp, thơ mộng trữ tình nơi đây đã hòa quyện với tâm hồn nhạy cảm tinh tế
tạo nên những tác phẩm mà ở đó “Nhân Tông hiện ra hầu như trọn vẹn với
tư cách nhà thơ”. Trong cách cảm nhận về thiên nhiên, thật khó để có thể
phát hiện được đó là xúc cảm của một thiền sư. Chẳng hạn trong những
cảm nhận của ông về hoa mai, nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh viết
“Có biết bao nhà thơ phương Đông đã vịnh hoa mai nhưng Nhân Tông vẫn
đến với hoa mai bằng những rung cảm riêng vừa thâm trầm tinh tế, vừa
sắc sảo nồng nàn”.
6
Bài nghiên cứu của Phạm Ngọc Lan Trần Nhân Tông cảm hứng
Thiền trong thơ được in trong tạp chí Văn học số 4/ 1992 cũng là một trong
những bài viết đáng chú ý. Chỉ với vẻn vẹn bốn trang viết nhưng người
đọc đã có thể hình dung khá trọn vẹn về Trần Nhân Tông. Tác giả bài viết
cũng khẳng định Trần Nhân Tông không chỉ là một vị vua sáng, một thiền
sư lỗi lạc mà còn là một nhà thơ có phong cách. Thơ ông là sự kết hợp hài
hòa con người thiền sư và con người thi nhân. Bài viết khai thác chất Thiền
trong thơ Trần Nhân Tông, đặc biệt những bài thơ viết về thiên nhiên. Tác
giả chỉ rõ đó là sự cảm nhận tinh tế, sâu lắng trước thiên nhiên. Thiên
nhiên không ồn ào mà đạm bạc gắn với những đường nét nhẹ nhàng, gắn
với cảnh lặng lẽ u tịch để qua đó gửi gắm ý niệm về cuộc đời của một cái
Tâm đã đạt đạo…
Đáng chú ý hơn cả là công trình nghiên cứu mang tên Con người
nhân văn trong thơ ca Việt Nam sơ kì trung đại của tác giả Đoàn Thị Thu
ví bài thơ như một ẩn số mà người đọc luôn luôn tìm cách giải mã thì cách
giải mã của bài viết này thật “tinh tế và nhạy bén” biết bao.
Trên đây, chúng tôi đã tóm lược ngắn gọn nhất các công trình nghiên
cứu về Trần Nhân Tông trên phương diện văn học. Ngoài ra, Trần Nhân
Tông còn được nghiên cứu ở một số sách, bài báo khoa học, luận văn. Có
thể kể đến:
Trần Thị Hồng Y (2003), Tìm hiểu thơ các vua thời thịnh Trần (Từ
Trần Thái Tông đến Trần Minh Tông), Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn,
Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.
8
Trần Lý Trai (2008), Giá trị văn học trong tác phẩm của thiền phái
Trúc Lâm, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Khoa học xã
hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh
Nguyễn Lang (1979), Việt Nam Phật giáo sử luận (tập 1), NXB Văn
học Hà Nội.
2.2. Lịch sử nghiên cứu Huyền Quang
Huyền Quang trước hết là một thiền sư lỗi lạc. Vậy nên với tư
cách là một thiền giả, ông xuất hiện nhiều trong các công trình, bài viết
nghiên cứu về thiền học. Còn với tư cách là một nhà thơ, số lượng bài
điều kỳ diệu mà thiên nhiên ban tặng. Ở đó, ta không còn thấy dấu vết của
cuộc sống trần tục nữa mà là cảnh Bụt, là cõi vô tâm…
Với chỉ khoảng 9 trang viết nhưng tác giả Nguyễn Phạm Hùng
trong cuốn Thơ Thiền Việt Nam Những vấn đề lịch sử và tư tưởng nghệ
thuật đã cho người đọc rõ hơn về một Huyền Quang thi sĩ. Người viết đã
đi sâu vào khai thác di sản thơ để qua đó giải mã về con người và tư tưởng
Huyền Quang. Tác giả khẳng định “…thơ của ông rất sâu kín, uẩn khúc
không trực ngôn mà hàm ngôn, không kể tâm trạng mà mượn cảnh ngụ
tình…”. Đó thực sự là những trang viết rất sâu sắc mà ở đó, tác giả cho
thấy một Huyền Quang với những tâm sự, những cảm xúc cá nhân và cả
những suy tư trăn trở trước cuộc đời.
Bài viết Huyền Quang nhà sư thi sĩ của Nguyễn Phương Chi có thể
coi là một trong những bài viết đầu tiên nghiên cứu Huyền Quang với khía
cạnh một nhà thơ. Bài viết được đăng trên Tạp chí Văn học năm 1982 gây
chú ý bởi chất văn mượt mà nhẹ nhàng mà sâu lắng, cách cảm nhận văn
10
chương rất tinh tế, có những phát hiện thú vị. Dưới góc độ là người nghiên
cứu những thi phẩm viết về thiên nhiên của Huyền Quang, chúng tôi coi
đây là người đã đặt nền tảng cho công trình nghiên cứu của mình. Chỉ với
khoảng một trang viết, tác giả đã phần nào giải mã được con người nhà
thơ một “cái tôi” chủ thể. Đối với Huyền Quang, thiên nhiên không chỉ
như là cái nó vốn có mà “Thiên nhiên trở thành người bạn cởi mở, chân
tình, là nơi nhà thơ có thể giãi bày tâm trạng, thổ lộ cảm xúc của mình
không chút ngại ngần”
Có lẽ là thiếu sót nếu không kể đến các bài nghiên cứu của các
thiền sư về Huyền Quang thi sĩ. Có thể kể đến cuốn Thiền học đời Trần.
Cuốn sách tập hợp 28 bài viết về các thiền sư đời Trần từ những người
trong nước, tác giả còn tham khảo thêm những công trình nghiên cứu của
các học giả nước ngoài. Có thể nói, đây là một công trình được đầu tư khá
kỹ và rất đáng đề tham khảo.
Ngoài ra, thiền sư Huyền Quang còn là đối tượng nghiên cứu của
nhiều công trình cũng như bài báo khoa học khác. Có thể kể thêm các công
trình đáng chú ý sau:
Nguyễn Kim Sơn (2009), “Sự đan xen các khuynh hướng thẩm mỹ
trong thơ Huyền Quang (Nghiên cứu trường hợp sáu bài thơ vịnh
cúc)”, Tạp chí Nghiên cứu văn học (4), tr.7589.
Lê Từ Hiển (2005), “Basho, Huyền Quang Sự gặp gỡ với mùa thu
hay sự tương hợp về cảm thức thẩm mỹ”, Tạp chí văn học (7).
12
Bao quát chung về thiền phái Trúc Lâm có thể kể đến những đóng
góp của Trần Lý Trai (Thích Phước Đạt) trong luận án Tiến sĩ mang tên
Giá trị văn học trong tác phẩm của thiền phái Trúc Lâm (2008). Luận án đã
bao quát được những giá trị văn học cơ bản trong các tác phẩm của những
tên tuổi nổi bật trong dòng thiền này như Trần Thái Tông, Trần Thánh
Tông, Trần Tung, Trần Nhân Tông, Huyền Quang… Theo đánh giá chủ
quan của chúng tôi, đây là một công trình nghiên cứu công phu không chỉ có
giá trị Phật học mà còn có giá trị lớn về văn học. Tác giả đã chỉ ra những tư
tưởng thiền học đồng thời cũng làm rõ những cảm hứng chủ đạo, những
giá trị nghệ thuật của các tác phẩm này. Trong công trình này, tác giả đã
văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát những sáng tác thơ và phú của
hai tác giả này.
Song song với đó, chúng tôi bước đầu so sánh cảm hứng thiên nhiên
để chỉ ra nét tương đồng và dị biệt trong cách cảm nhận của mỗi tác giả.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu Cảm hứng thiên nhiên trong sáng tác của Trần
Nhân Tông và Huyền Quang dưới góc nhìn so sánh dựa vào các bản dịch
tiếng Việt của các văn bản dưới đây:
14
Thơ văn Lý Trần (1989) (tập 2), quyển thượng, Viện văn học,
Nxb Khoa học xã hội.
Tổng tập văn học Việt Nam (2000) (tập 2), Trần Lê Sáng (chủ
biên), Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ
yếu sau:
Phương pháp thống kê: chúng tôi tiến hành thống kê số lượng tác
phẩm lấy cảm hứng thiên nhiên nhằm phục vụ cho việc tìm hiểu cảm
hứng thiên nhiên trong các tác phẩm của họ.
Phương pháp phân tích tác phẩm văn học: đây là phương pháp
được sử dụng chủ yếu khi khái quát, lí giải sự tương đồng và sự dị biệt
trong cảm hứng thiên nhiên của hai tác giả.
Phương pháp so sánh: sử dụng phương pháp này so sánh, đối chiếu
để chỉ ra những nét tương đồng và dị biệt trong cảm hứng thiên nhiên của
hai tác giả. Đây là một trong những phương pháp nghiên cứu chính của
luận văn.
Phương pháp hệ thống: phương pháp này giúp chúng tôi có cái
16
Trên cơ sở của chương 1 và chương 2, chúng tôi sẽ chỉ ra những nét
tương đồng và dị biệt trong cách cảm nhận của mỗi người, đồng thời
chúng tôi bước đầu đưa ra những lý giải về sự tương đồng và khác biệt đó.
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Giới thuyết khái niệm
1.1.1. Cảm hứng
Bất kì một công việc nào muốn thành công cũng hỏi sự đam mê và
thích thú. Sáng tạo nghệ thuật cũng không là ngoại lệ. Thậm chí đó còn là
công việc đòi hỏi nhiều hơn cả sự đam mê, thích thú. Không giống như các
lĩnh vực hoạt động khác, hoạt động sáng tạo nghệ thuật thuộc lĩnh vực
chuyên biệt. Nếu ví tác phẩm nghệ thuật như một ngôi nhà thì người nghệ
sĩ được coi như một kiến trúc sư. Nhưng người kiến trúc sư có thể biến
ngôi nhà trong trí óc của anh ta thành hiện thực nếu như anh ta có chất liệu.
Còn với người nghệ sĩ kiến trúc sư thì lại khác, chất liệu ngôn từ bao
quanh anh ta nhưng nếu không có cảm hứng sáng tạo thì đó cũng chỉ là ngôi
nhà trong tưởng tượng mà thôi. Như vậy, nét đặc biệt của những người
làm nghệ thuật đó chính là những rung động trong tâm hồn. Chính những
rung động đó mới tạo ra những tác phẩm nghệ thuật thực sự có giá trị…
17
Cảm hứng là một khái niệm không còn xa lạ đối với những người
nghệ sĩ bởi chính nó đã tạo nên phần hồn cho tác phẩm nghệ thuật. Dù có
cố gượng ép, nhưng nếu không có cảm xúc thì người nghệ sĩ chỉ tạo ra
những tác phẩm có xác mà không hồn. Ngô Thì Nhậm đã từng viết “Hãy
xúc động cho ngọn bút có thần” có lẽ là vì thế. Vậy cảm hứng là gì? Từ xa
Viên, Nguyễn Bính, ta thấy trên cái nền Tây phương ấy, mỗi người lại
chọn cho mình một mảnh đất khác nhau. Hàn Mặc Tử rất thích trăng nên
trong thơ Hàn là cả một vũ trụ trăng lung linh huyền ảo, nhiều sắc thái vừa
buồn vừa vui, vừa tạo nên trạng thái thăng hoa nhưng cũng là sự đớn đau
quằn quại. Còn với Chế Lan Viên, hình ảnh tháp Chàm đầy ma mị ám ảnh
thế giới thơ ông mà ở đó, ta thấy đầy những đầu lâu, những yêu ma, hồn
máu. Nguyễn Bính lại trở về với ngọn nguồn dân tộc với những vần thơ
đậm chất dân gian, những thôn Đoài thôn Đông, những vườn cau vườn
trầu…Tất cả những điều đó cho thấy, người nghệ sĩ chỉ “sống” với một
không gian đặc biệt và trong không gian đó, họ thích thú, họ thể hiện tài
năng, họ đem tâm mình “nhả tơ trả nợ” cho đời...
Cảm hứng bắt nguồn từ đời sống, được hun đúc từ đời sống. Vì
vậy, cảm hứng sẽ bị chi phối bởi thời đại mà người nghệ sỹ sinh sống.
Cảm hứng không phải là thứ bất di bất dịch mà nó luôn biến thiên để bắt
kịp với sự vận động của xã hội, phản ánh đời sống xã hội. Nếu cảm hứng
chủ đạo của văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV là cảm hứng
yêu nước, chống ngoại xâm và tự hào dân tộc với âm hưởng hào hùng,
mang hào khí Đông A (Tụng giá hoàn kinh sư, Hịch tướng sĩ, Tỏ lòng, Phú
sông Bạch Đằng…) thì sang giai đoạn sau (thế kỉ XV XVII) khi đất nước
có nhiều biến động với những cuộc nội chiến thì cảm hứng yêu nước
không còn nữa thay vào đó là cảm hứng thế sự với những tác phẩm phản
ánh tệ lậu và tình trạng suy thoái về đạo đức trong xã hội (Thơ của
19
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ…). Đến cuối thế
kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, con người được đặt vào vị trí trung tâm đặc biệt
là người phụ nữ nên hình ảnh người phụ nữ xuất hiện nhiều trong văn
học. Nhà văn lên tiếng bênh vực, đòi quyền sống, quyền hạnh phúc lứa đôi
nhau. Thiên nhiên cung cấp cho con người những điều kiện cần thiết phục
vụ cuộc sống. Vậy nên, đối với con người, thiên nhiên được coi là bà mẹ
thứ hai. Có lẽ vì thế mà thiên nhiên trở thành một trong những đề tài lớn
trong sáng tác nghệ thuật nói chung và sáng tác văn chương nói riêng. Cảm
hứng thiên nhiên có thể hiểu là trạng thái cảm xúc mãnh liệt, là sự hưng
phấn của con người mà thiên nhiên đem lại. Lúc này, thiên nhiên không còn
là thiên nhiên vô tình nữa mà nó trở thành người bạn tâm giao của thi nhân.
Nó khơi gợi trong lòng người những tình cảm vốn bị che lấp thường ngày,
những kí ức bị nhòe dần trong bộn bề của cuộc sống, những khát khao,
những ước vọng đam mê, những nỗi u hoài…Con người gửi gắm vào thiên
nhiên những tình cảm sâu kín nhất trong tâm hồn.
Trong nền văn học dân tộc, thiên nhiên là một đề tài bao trùm trong
sáng tác của thi nhân từ văn học dân gian qua văn học trung đại, hiện đại;
từ thơ Thiền qua thơ Nho, thơ Mới và ở bất kì giai đoạn nào trong nền văn
học dân tộc, thiên nhiên đẹp tươi của non sông đất nước vẫn hiện lên qua
những áng thơ văn.
21
Mặc dù vậy nhưng xét về bản chất, cảm hứng thiên nhiên ở mỗi
thời đại có nét khác biệt nhất định. Trong văn học dân gian, thiên nhiên
mang vẻ đẹp thuần khiết, thiên nhiên như là cái nó vốn có. Hình ảnh vầng
trăng, cánh đồng thẳm xanh bao la, cánh cò bay lả là những hình ảnh chân
thực, đời thường. Câu thơ viết về vầng trăng này có lẽ cho đến ngàn năm
sau vẫn không thể nào quên.
Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi
(Ca dao)
Vẫn là thiên nhiên ấy nhưng trong thơ Thiền, thiên nhiên vừa là nó