Tỷ lệ suy yếu, đặc điểm các tiêu chí thành phần chẩn đoán suy yếu theo tiêu chuẩn Fried và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh động mạch vành mạn tính - Pdf 59

Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 1 * 2018

TỶ LỆ SUY YẾU, ĐẶC ĐIỂM CÁC TIÊU CHÍ THÀNH PHẦN CHẨN ĐOÁN
SUY YẾU THEO TIÊU CHUẨN FRIED VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
TRÊN BỆNH NHÂN CAO TUỔI MẮC BỆNH ĐỘNG MẠCH VÀNH MẠN TÍNH
Huỳnh Trung Quốc Hiếu*, Nguyễn Văn Tân*, Phạm Hòa Bình*

TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Suy yếu (Frailty syndrome), một hội chứng lão khoa, biểu hiện trạng thái dễ bị tổn thương với
các yếu tố về thể chất, xã hội và môi trường. Tuy nhiên việc đánh giá suy yếu trên NCT Việt Nam mắc bệnh động
mạch vành (ĐMV) mạn tính hiện chưa được quan tâm. Chúng tôi khảo sát tỷ lệ suy yếu ở NCT mắc bệnh ĐMV
mạn tính nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc và nâng cao sức khỏe của NCT.
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ suy yếu, mô tả các tiêu chí thành phần chẩn đoán suy yếu theo tiêu chuẩn Fried và
các yếu tố liên quan.
Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả, thực hiện trên 295 bệnh nhân cao tuổi (>65 tuổi) nhập viện do
bệnh ĐMV mạn tính tại bệnh viện Thống Nhất TP. Hồ Chí Minh, từ tháng 9/2016 đến tháng 4/2017. Sử dụng
tiêu chuẩn Fried để đánh giá suy yếu. Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng để đo lường mối liên
quan giữa suy yếu và các biến độc lập.
Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng tham gia nghiên cứu là 74,82 tuổi (ĐLC=7,2); 54,58 % nam giới. Tỉ
lệ suy yếu, tiền suy yếu, không suy yếu là: 54,93%; 35,93%; 9,15%. Tỉ lệ các tiêu chí thành phần chẩn đoán suy
yếu theo tiêu chuẩn Fried: yếu cơ 74,58%, chậm chạp 69,15%, hoạt động thể lực kém 67,12%, kiệt sức 57,92%,
sụt cân không tự chủ 7,8%. Các yếu tố liên quan với suy yếu: tuổi, chỉ số khối cơ thể (BMI), rối loạn lipid máu,
suy tim. Trong đó tuổi cao và BMI thấp là yếu tố nguy cơ độc lập liên quan đến suy yếu.
Kết luận: Tỉ lệ suy yếu xác định bằng tiêu chuẩn Fried trong nghiên cứu của chúng tôi khá tương đồng với
các báo cáo khác trên thế giới và y văn, nên có thể sử dụng tiêu chuẩn Fried để đánh giá suy yếu trên NCT mắc
bệnh ĐMV mạn tính.
Từ khoá: suy yếu, bệnh động mạch vành mạn tính, người cao tuổi, Fried

ABSTRACT

association between Frailty and independent variables.
Results: Mean age of participants was 74.82 years (SD = 7.2); 54.58% male. Using the Fried frailty criteria,
the percentages of non-frail, pre-frail and frail participants were 9.15%; 35.93%; 54.93%. The prevalence of
components of Fried frailty phenotype participants were: Low grip strength 74.58%; Low walking speed 69,15%;
Low physical activity 67.12%; Exhaustion 57.92%; Weight loss 7.8%. Factors associated with frailty: age, body
mass index (BMI), dyslipidemia, heart failure. In that high age and low BMI are independent risk factors related
to frailty.
Conclusions: The prevalence of frailty determined by Fried frailty phenotype in our study is quite similar to
other reports in the world and literature, so the Fried frailty phenotype can be used to assess Frailty in elderly
patients with the Chronic coronary artery disease.
Keywords: frailty, chronic coronary artery disease, elderly, Fried
suy yếu trên bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh ĐMV.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Kết quả nghiên cứu cũng là tiền đề cho các
Suy yếu hay Hội chứng dễ bị tổn thương
nghiên cứu liên quan sâu rộng hơn sau này.
(Frailty syndrome) là một hội chứng lão khoa,
Mục tiêu nghiên cứu
xảy ra do sự tích tụ của quá trình suy giảm chức
Xác định tỉ lệ suy yếu theo tiêu chuẩn Fried ở
năng nhiều hệ thống cơ quan trong cơ thể, biểu
bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh ĐMV mạn tính.
hiện là trạng thái dễ bị tổn thương với các yếu tố
về thể chất, xã hội và môi trường(6). Tỉ lệ suy yếu
trong dân số ngày càng tăng nhất là trong hoàn
cảnh lão hóa của dân số toàn cầu và vì thế suy
yếu cũng trở thành chủ đề nghiên cứu chính
trong lý thuyết và thực hành lão khoa.
Bệnh động mạch vành (ĐMV) là một trong
những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong

Cỡ mẫu nghiên cứu được tính dựa vào công
thức ước lượng một trung bình với khoảng tin
cậy 95%, sử dụng tỷ lệ ước tính NCT có suy yếu
là 19% theo nghiên cứu của tác giả Gharacholou
và cộng sự năm thực hiện năm 2012 tại Hoa Kỳ.
Cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu là 237 người.
Sau khi dự tính tình trạng thiếu mẫu có thể xảy
ra với ước đoán khoảng 10%, cỡ mẫu tính được
gồm 270 đối tượng.
Dân số mục tiêu là tất cả bệnh nhân cao tuổi
(≥ 65 tuổi) nhập viện do bệnh ĐMV mạn tính tại
Trung Tâm Tim Mạch bệnh viện Thống Nhất
thành phố Hồ Chí Minh, từ tháng 9/2016 đến

49


Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 1 * 2018

tháng 4/2017. Từ dân số mục tiêu chọn ra những
trường hợp được chẩn đoán là bệnh ĐMV mạn
tính dựa trên thăm khám lâm sàng kết hợp các
test thăm dò: ĐTĐ lúc nghỉ, ĐTĐ gắng sức, SA
tim gắng sức, MSCT hoặc chụp ĐM(3, 15). Chúng
tôi loại ra khỏi nghiên cứu những trường hợp
sau: bệnh nhân có hội chứng vành cấp; bệnh
nhân có di chứng thần kinh sau cơn đột quỵ;
bệnh Parkinson nặng; sa sút trí tuệ; bệnh nhân

yếu (Pre-frailty), không có tiêu chí nào là
không có suy yếu(4).

50

Chúng tôi trực tiếp hỏi bệnh sử, tiền sử và
khám lâm sàng kỹ lưỡng bệnh nhân khi nhập
viện, theo dõi bệnh nhân sau khi xuất viện. Xem
xét kết quả chụp ĐMV sau đó tiến hành thu thập
các dữ liệu theo tiêu chuẩn Fried. Mỗi bệnh nhân
cần 10 – 15 phút để cân, đo sức mạnh bàn tay, tốc
độ đi bộ, hỏi hai câu hỏi liên quan tới “kiệt sức”
và bảng câu hỏi về hoạt động thể lực.
Khám lâm sàng: nhằm đánh giá tình trạng
chung, dấu hiệu sinh tồn, tình trạng bệnh tim
mạch, đánh giá mức độ đau thắt ngực theo Hiệp
hội Tim mạch Canada (Canadian Cardiovascular
Society - CCS). Thu thập thông tin cá nhân, đánh
giá theo bộ câu hỏi soạn sẵn. Số liệu được xử lý
mỗi ngày, để cung cấp lại thông tin ngay khi có
phát hiện sai sót.
Nhập liệu bằng phần mềm Epi Data và phân
tích theo phần mềm STATA 11.0. Kiểm tra bảng
câu hỏi và kết quả từng đối tượng ngay trong
ngày, nếu cần thiết trở lại gặp đối tượng khảo sát
lần 2.
Kết quả được trình bày dưới dạng tần suất, tỉ
lệ %, trung bình ± độ lệch chuẩn (có phân phối
chuẩn), trung vị và khoảng tứ vị 25%-75% (có
phân phối không chuẩn), dùng phép kiểm chi


Chuyên Đề Nội Khoa


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 1 * 2018
Tuổi trung bình của nghiên cứu là 74,82 tuổi,
chỉ số BMI trung bình của các đối tượng nghiên
cứu là 22,3 ± 2,87.

Nghiên cứu Y học

ở 220 bệnh nhân chiếm tỉ lệ 74,58%, tiếp theo
là chậm chạp (đo bằng tốc độ đi bộ 5m) gặp ở
204 bệnh nhân chiếm tỉ lệ 69,15%, hoạt động
thể lực kém chiếm tỉ lệ 67,12% xuất hiện ở 198
bệnh nhân. Trong nghiên cứu của chúng tôi
chỉ có 23 bệnh nhân (7,8%) thỏa tiêu chí sụt
cân không tự chủ.

Biểu đồ 1: Tỉ lệ suy yếu theo tiêu chuẩn Fried
Theo tiêu chuẩn Fried: chúng tôi ghi nhận
162 bệnh nhân có suy yếu chiếm tỉ lệ 54,92%;
106 bệnh nhân có tiền suy yếu chiếm tỉ lệ
35,93% và 27 bệnh nhân không có suy yếu
chiếm tỉ lệ 9,15%.
Trong các tiêu chí thành phần của suy yếu
theo tiêu chuẩn Fried thì giảm sức cơ (đo bằng
lực bóp bàn tay) là thường gặp nhất, xuất hiện

Biểu đồ 2: Đặc điểm các tiêu chí thành phần trong

Sống một mình
Không

Không

Không

Không

Không

Không


Không
15 (55,56)
12(44,44)
24 (88,89)
3 (11,11)
0
0
14 (51,85)
9 (33,33)
4 (14,81)
27 (100)
0
26 (96,30)
1 (3,70)
0
27 (100)

4 (3,77)
113(96,58)
4(3,42)

p

67 (41,36)
95 (58,64)
58 (35,8)
73 (45,06)
31 (19,14)
21 (12,96)
88 (54,32 )
39 (24,07 )
14 (8,64)
159 (98,15)
3 (1,85)
159 (98,15)
3 (1,85 )
10 (6,17)
152 (93,83)
25 (15,43)
137 (84,57)
116 (71,60)
46 (28,40)
151 (93,21)
11 (6,79)
132(88)
18(12)


65-74 tuổi
75-84 tuổi
≥ 85 tuổi
< 18,5
18,5 - 22,9
23 - < 25
≥ 25

PR
1
3,59
14,83
1
0,59
0,43
0,19

p

KTC 95%


lệ suy yếu là 19%. Sự khác biệt này có thể là do
hầu hết bệnh nhân tham gia vào các nghiên cứu
trên đã được chụp và điều trị tái thông ĐMV qua
da (PCI) qua đó điều trị và kiểm soát tốt bệnh
ĐMV, góp phần làm giảm nguy cơ xuất hiện các
biến cố bất lợi về sức khỏe.
Trong các tiêu chí thành phần của suy yếu
theo tiêu chuẩn của Fried thì giảm sức cơ (đo
bằng lực bóp bàn tay) và chậm chạp là 02 tiêu chí

52

thường gặp nhất, xuất hiện ở 220 bệnh nhân
chiếm tỉ lệ 74,58% và 204 bệnh nhân chiếm tỉ lệ
69,15%, hoạt động thể lực kém chiếm tỉ lệ 67,12%
xuất hiện ở 198 bệnh nhân. Trong nghiên cứu
của chúng tôi chỉ có 23 bệnh nhân (7,8%) thỏa
tiêu chí sụt cân không tự chủ.
Tiêu chí chậm chạp và giảm sức cơ (đo bằng
lực bóp bàn tay) cũng là tiêu chí thường gặp nhất
và là yếu tố có khả năng dự báo tỉ lệ tử vong
trong nghiên cứu của Singh và cộng sự năm 2011
thực hiện trên 629 bệnh nhân bệnh ĐMV, tại
Hoa Kỳ, với tỉ lệ lần lượt là 41% và 33%(16).
Thống kê của tác giả Nguyễn Xuân Thanh
năm 2015 thực hiện trên 461 bệnh nhân cao tuổi
điều trị nội trú tại Bệnh viện Lão Khoa Trung
Ương cũng chỉ ra sự chậm chạp (thông qua test
đi bộ 5m) là thường gặp nhất ở NCT được chẩn
đoán suy yếu (55,5%)(12).

giảm và suy thoái chức năng tại tế bào, mô và cơ
quan. Điều này dẫn đến mất cân bằng nội môi
và giảm khả năng thích ứng với yếu tố căng
thẳng từ bên trong và bên ngoài, gia tăng khả
năng bị bệnh và tử vong. Suy yếu là tình trạng
lâm sàng làm tăng khả năng dễ tổn thương và
giảm khả năng duy trì nội mô mà có đặc tính
chính là giảm dự trữ hệ thống chức năng sinh lý
theo tuổi(17, 19). Như vậy cả suy yếu và quá trình
lão hóa đều dẫn đến hậu quả chung là giảm cân
bằng nội môi. Do vậy trong nhiều nghiên cứu đã
chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa suy yếu và
tuổi. Kết quả của chúng tôi cũng không nằm
ngoài quy luật này, tuổi trung bình của nhóm
bệnh nhân suy yếu là cao nhất, tiếp theo là tiền
suy yếu, và không suy yếu.
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, chúng
tôi nhận thấy suy yếu có mối liên quan với chỉ số
khối cơ thể (p = 0,002 < 0,05). NCT thường gắn
liền với những thay đổi về trọng lượng cơ thể.
Trọng lượng cơ thể thường có khuynh hướng
gia tăng trong suốt tuổi thọ đến năm 70-80 tuổi,
sau đó trọng lượng cơ thể giảm dần. Hơn nữa, cả
suy dinh dưỡng, thiếu cân cũng như béo phì đều
là những yếu tố nguy cơ bất lợi về sức khỏe ở
NCT. Tuổi cao cũng có liên quan đến sự thay đổi
thành phần cơ thể, trong đó có mất khối lượng
cơ và tăng khối lượng chất béo. Ngoài ra, giảm
khối lượng mỡ dưới da, trong khi đó tình trạng
thâm nhiễm mỡ vào gan, các nội tạng thường

không suy yếu là 11% (p=0,004).
Suy tim là một bệnh mãn tính tăng tần suất
theo tuổi, vì vậy sự tương tác giữa suy tim và
suy yếu là rất phức tạp và cần được quan tâm
đặc biệt. Nhiều nghiên cứu gần đây đã chứng
minh được rằng, suy yếu là yếu tố nguy cơ độc
lập, có liên quan nhiều nhất với các rối loạn chức
năng tim mạch(2, 8).
Qua phân tích hồi quy đa biến, nghiên cứu
của chúng tôi cho thấy tuổi cao và chỉ số khối cơ
thể thấp là có khả năng dự đoán suy yếu theo
tiêu chuẩn Fried một cách độc lập. Tuổi thường
được xem là không thể thay đổi và là nguyên
nhân chính gây ra hầu hết các bệnh mạn tính và
suy yếu. Những tiến bộ khoa học kỹ thuật gần
đây đã giúp các nhà khoa học gia tăng sự hiểu
biết về quá trình lão hóa và từ đó có thể làm
giảm kết cục sức khỏe bất lợi liên quan đến lão
hóa. Các can thiệp có thể làm chậm các nguy cơ
bất lợi về sức khỏe liên quan đến tuổi và do đó
làm giảm tình trạng bệnh tật ở NCT, góp phần
tích cực nâng cao sức khoẻ cộng đồng. Ngoài các
can thiệp về thuốc, thay đổi lối sống bao gồm
chế độ ăn uống và hoạt động thể chất có thể tối
ưu hóa sức khỏe và kéo dài tuổi thọ cho NCT.
Về mặt lý thuyết, dinh dưỡng là một yếu tố
liên quan chặt chẽ đến hội chứng suy yếu: tất cả
các tiêu chí suy yếu ít nhiều bị ảnh hưởng bởi
thói quen ăn uống kém, trong khi bản thân suy
yếu có thể có ảnh hưởng tiêu cực đến ăn uống,

số khối cơ thể (BMI), tình trạng rối loạn lipid
máu, và bệnh suy tim. Trong đó tuổi cao và BMI
thấp là yếu tố nguy cơ độc lập liên quan đến sự
xuất hiện của suy yếu.
Tỉ lệ suy yếu xác định bằng tiêu chuẩn của
Fried trong nghiên cứu của chúng tôi khá tương
đồng với báo cáo khác trên thế giới và y văn, do
vậy có thể sử dụng tiêu chuẩn Fried để đánh giá
suy yếu trên bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh ĐMV.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy
chúng ta có thể tác động vào yếu tố tinh thần,
luyện tập thể lực, phục hồi chức năng, và đặc
biệt là dinh dưỡng để phòng ngừa, cũng như
đảo ngược suy yếu. Kết quả này phù hợp với xu
hướng chung hiện nay của thế giới là can thiệp
chủ yếu vào ba khía cạnh phục hồi chức năng,
dinh dưỡng, tâm lý trong phòng ngừa và điều trị
suy yếu ở NCT.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

2.

54

Afilalo J, et al (2014), "Frailty assessment in the cardiovascular
care of older adults". Journal of the American College of Cardiology,
63 (8), pp.747-762.
Bellumkonda L, Tyrrell D, Hummel SL, Goldstein DR (2017),


19.

Cassar A, Holmes DR, Rihal CS, Gersh BJ (2009), "Chronic
Coronary Artery Disease: Diagnosis and Management". Mayo
Clinic Proceedings, 84 (12), pp.1130-1146.
Clegg A, Young J, Iliffe S, Rikkert MO, Rockwood K (2013),
"Frailty in elderly people". The Lancet, 381 (9868), pp.752-762.
Collard RM, Boter H, Schoevers RA, Oude Voshaar RC (2012),
"Prevalence of frailty in community-dwelling older persons: a
systematic review". J Am Geriatr Soc, 60 (8), pp.1487-92.
Gharacholou SM, et al (2012), “Comparision of frail patients
versus nonfrail patients ≥ 65 years of age undergoing
percutaneous coronary intervention”. The American Journal of
cardiology, 109(11), pp.1569-1575.
Hamerman D (1999), "Toward an understanding of frailty". Ann
Intern Med, 130 (11), pp.945-50.
Joseph SM, Rich MW (2017), "Targeting Frailty in Heart Failure".
Current Treatment Options in Cardiovascular Medicine,
19(4),pp.31.
Juan S, et al (2015), “Usefulness of clinical data and biomakers
for the identification of frailty after acute coronary syndromes”.
Canadian Journal of Cardiology, 31(12), pp. 1462-1468.
Murray CJ, Lopez AD (1997), "Mortality by cause for eight
regions of the world: Global Burden of Disease Study". The
lancet, 349 (9061), pp.1269-1276.
Nguyễn Văn Trí, Võ Thành Nhân (2010), Hội chứng lão hóa,
NXB Y Học, tr.23-47.
Nguyễn Xuân Thanh (2015), Hội chứng dễ bị tổn thương (frailty
syndrome) và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân cao tuổi điều


Ngày phản biện nhận xét bài báo:

19/11/2017

Ngày bài báo được đăng:

15/03/2018

Chuyên Đề Nội Khoa




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status