Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 5 * 2015
KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐIỀU TRỊ NGỘ ĐỘC RƯỢU TẠI KHOA HỒI SỨC
TÍCH CỰC CHỐNG ĐỘC BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT
Nguyễn Thị Thảo Sương*, Hoàng Văn Quang*
TÓM TẮT
Mở đầu: Các trường hợp ngộ độc rượu nặng và nguy hiểm là do ngộ độc các rượu khác ngoài Ethanol như
Methanol là một loại cồn công nghiệp gây tử vong cao. Việc chẩn đoán và điều trị ngộ độc rượu đặc biệt là
Methanol còn gặp nhiều khó khăn.
Mục tiêu: Xác định đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của ngộ độc rượu.
Phướng pháp nghiên cứu: Báo cáo hàng loạt ca.
Kết quả: Từ 05/2011 đến 9/2014 có 06 trường hợp ngộ độ rượu nặng được đưa vào nghiên cứu. Tất cả đều
giới nam, tuổi từ 30 – 64 tuổi. 66,7% bệnh nhân có rối loạn tri giác, suy hô hấp và có giảm thị lực. Thiểu niệu có
3 ca (50%). Tụt huyết áp và nôn ói có 2 ca (33,3%) và không có trường hợp nào có co giật. pH 6,96 ± 0,16; PO2
168,05 ± 132,63; PCO2 22,2 ± 15,32; HCO3 6,63 ± 8,28; Anion Gap 33,97 ± 12,82. Thời gian nằm viện (ngày) :
2,33 ±1,21. Can thiệp điều trị: 100% bệnh nhân có bù Bicarbonate, 66,7% bệnh nhân có thở máy và lọc máu liện
tục và có 1 ca (16,7%) có dung thuốc vận mạch. Kết quả điều trị có 2 trường hợp tử vong (33,3%).
Kết luận: Ngộ độc rượu và nhất là ngộ độc Methanol là một cấp cứu nặng nề và có tỷ lệ tử vong cao
(33,3%). Bệnh nhân có rối loạn tri giác, giảm thị lực và suy hô hấp chiếm tỷ lệ cao (66,7%), cận lâm sàng cho thấy
có toan chuyển hóa nặng và tăng khoảng trống Anion. Điều trị bù Bicarbonate tích cực và lọc máu liên tục cần
thực hiện sớm.
Từ khóa: ngộ độc, ethanol, methanol.
ABSTRACT
PRIMARY RESULTS OF ALCOHOL POISONING TREATMENT
IN INTENSIVE CARE UNIT AT THONG NHAT HOSPITAL
Nguyen Thi Thao Suong, Hoang Van Quang
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Supplement of Vol. 19 - No 5 - 2015: 180 - 183
ĐẶT VẤN ĐỀ:
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Ở nước ta hàng năm có khoảng trên 1000 ca
ngộ độc rượu và trên 20 người tử vong (thống kê
Bộ Y Tế). Loại rượu (hay cồn) để uống có tên là
rượu ethylic, hoặc ethanol hoặc ethyl alcohol và
nhất thiết phải là loại rượu được sản xuất riêng
và đạt tiêu chuẩn để uống. Các trường hợp ngộ
độc rượu nặng và nguy hiểm là do ngộ độc các
rượu khác ngoài ethanol, uống quá nhiều
ethanol hoặc ngộ độc ethanol có chấn thương,
biến chứng.
Thiết kế nghiên cứu
Ngày nay do lợi nhuận mà nhiều người đã
sử dụng methanol,một loại cồn công nghiệp để
thay thế cho ethanol hoặc khi Methanol pha lẫn
trong rượu. Ngộ độc Methanol gây tử vong cao,
do methanol bị men alcohol dehydrogenase oxy
hóa thành formaldehyde, sau đó formaldehyde
bị men acetaldehyde dehydrogenase oxy hóa
thành acid formic. Acid formic gây toan chuyển
hóa, mù mắt và tử vong (Anderson, 1994).
Tại VN, 10 - 2008 Bệnh viện Chợ Rẫy nhận
cấp cứu 31 ngộ độc rượu Methanol trong đố có
11 trường hợp tử vong, 6-2009 tại thị xã Sađéc 8
trường hợp tử vong trong 14 ca ngộ độc
độ rượu/máu, toan chuyển hóa.
+ Đo lường các biến: Tuổi, giới, huyết áp, ion
đồ, đường máu, KMĐM
+ Huyết áp trung bình: HAtb= HA
HAtt – HAttr)
ttr
+ 1∕3(
-Biến kết cục (outcome): Thời gian nằm viện,
số lượng sodium bicarbonate (SBH) cần bù, kết
quả điều trị: tử vong và sống.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Từ 05/2011 đến 9/2014 có 06 trường hợp ngộ
độ rượu nặng được đưa vào nghiên cứu. Tất cả
đều giới nam, tuổi từ 30 – 64, đều có tiền căn
nghiện rượu.
Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng
Đặc điểm
Rối loạn tri giác
Suy hô hấp
Giảm thị lực
Thiểu niệu
Tụt huyết áp
Nôn ói
Triệu chứng thần kinh ( co giật)
Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất năm 2015
Anion Gap
Áp lực thẩm thấu máu
Ceton niệu
Nồng độ ethanol
Kết quả TB ± ĐLC
4,25 ± 1,38
134,67 ± 36,93
13,9 ± 7,5
4,60 ± 0,87
6,96 ± 0,16
168,05 ± 132,63
22,2 ± 15,32
6,63 ± 8,28
-24,08 ± 10,25
33,97 ± 12,82
297,77 ± 3,37
1,75 ± 2,52
229,77 ± 68,88
Kết quả điều trị
Thời gian nằm viện (ngày) : 2,33 ±1,21
Phương pháp điều trị
Điều trị
Thở máy
Lọc máu
Bù bicarbonate
Thuốc vận mạch
Kết quả n (%)
182
trường hợp giảm thị lực, trong 4 ca này nghĩ do
ngộ dộc Methanol. Có 2 trường hợp có biểu hiện
nôn ói, không có trường hợp nào bị hạ đường
huyết.
Có 2 trường hợp tụt huyết áp (33,3%), trong
đó có 1 trường hợp phải sử dụng thuốc vận
mạch. Có 4 trường hợp (66,7%) nhập viện với
tình trạng suy hô hấp phải thở máy xâm lấn hỗ
trợ.
Về kết quả cận lâm các trường hợp nhập
viện đều có biểu hiện suy thận cấp nhẹ với
Creatinin 134,67 ± 36,73, thiểu niệu với thể tích
nước tiểu trung bình trong 24h là 633,33 ± 326,59,
kali máu 4,6±0,87. Áp lực thẩm thấu máu trung
bình 297,77 ± 3,37.
Cả 06 trường hợp xét nghiệm khí máu động
mạch đều có biểu hiện toan chuyển hóa nặng với
tăng khoảng trống anion, với pH 6,96 ± 0,16,
nồng độ HCO3 là 6,63 ± 8,28 với AG 33,97 ± 12,82.
Nồng độ ceton niệu là 1,75 ± 2,52.
Nồng độ axít formic liên quan đến mức độ
toan máu và tăng khoảng trống anion. Tỷ lệ tử
vong và các triệu chứng thị giác có liên quan đến
mức độ toan máu. Theo tác giả Coulter CV và
cộng sự khoảng trống anion tăng và pH máu
thấp kết hợp với sự gia tăng tỷ lệ tử vong(4,2)
Lượng sodium bicarbonat (SBH) trung bình
cần bù là 430 ± 333,54 mmol , cả 06 trường hợp
và suy thận. Qua đây chúng ta cần phổ biến sâu
rộng cho cộng đồng đặc biệt là những người
nghiện rượu biết được sự nguy hiểm của ngộ
độc rượu, cần nhận biết sớm dấu hiệu ngộ độc
để vào viện kịp thời, và đối với khoa cấp cứu cần
nhận định chính xác tình trạng, dấu hiệu nặng
Nghiên cứu Y học
của người bệnh để có chỉ định lọc máu kịp thời,
cứu sống bệnh nhân.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
Anderson IB (1994). Methanol Poisoning & Drug Overdose. 2nd
Edition. Prentice-Hall International, New Jersey. 215-216.
Duffull SB, Coulter CV, Farquhar SE, McSherry CM, Isbister GK,
(2011), Methanol and ethylene glycol acute poisonings predictors of mortality. Clin Toxicol (Phila). 49(10) 2011:90-160.
Nassif M, Otepka H (2010). Overdosage. In: Hemant Godara
(Editors). The Washington Manual of Medical Therapeutics.
Wolters Kluwer Lippincot Williams & Wilkins. Philadelphia.
31st Edition , 577- 579.
Phạm Ngọc Trung, Nguyễn Thị Bích Phượng (2012). So sánh
ngộ độc rượu ethanol và methanol, khoa HSTCCĐ. Kỷ yéu