BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
NGÔ HỒNG PHƯỚC
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN TỪ NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC
TẠI HUYỆN PHÚC THỌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
Hà Nội, năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
NGÔ HỒNG PHƯỚC - C00099
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN TỪ NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC
TẠI HUYỆN PHÚC THỌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
CHUYÊN NGÀNH
MÃ SỐ
: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
: 60340201
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1.1.6. Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước .................................................. 12
1.1.7. Ngân sách nhà nước cấp huyện trong hệ thống ngân sách nhà nước ............. 19
1.2. TỔNG QUAN VỀ CHI THƯỜNG XUYÊN VÀ QUẢN LÝ CHI
THƯỜNG XUYÊN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ................................... 20
1.2.1. Các khái niệm ........................................................................................ 20
1.2.1.1. Chi thường xuyên ............................................................................... 20
1.2.2. Vai trò của chi thường xuyên và quản lý chi thường xuyên từ ngân sách
nhà nước đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. .............................................. 24
1.3. NỘI DUNG QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN TỪ NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN ............................................................................ 26
1.3.1. Công tác lập dự toán chi thường xuyên ................................................ 26
1.3.2. Công tác chấp hành dự toán chi thường xuyên ..................................... 27
1.3.3. Công tác quyết toán chi thường xuyên ................................................. 28
1.3.4. Thanh tra, giám sát chi thường xuyên ................................................... 32
1.4. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHI THƯỜNG XUYÊN VÀ
QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN .............................................................. 33
1.4.1. Nhiệm vụ về phát triển kinh tế- xã hội của đất nước trong từng thời kỳ:
......................................................................................................................... 33
1.4.2. Khả năng tích tụ và tích lũy của nền kinh tế: ........................................ 33
1.4.3. Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, hạn hán, động đất, dịch bệnh: ..... 33
1.4.4. Hiệu quả chi của bộ máy quản lý chi Ngân sách nhà nước: ................. 33
1.5. TÍNH TẤT YẾU PHẢI TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI THƯỜNG
XUYÊN ........................................................................................................... 34
Tóm tắt chương 1: ......................................................................................... 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN TỪ
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI HUYỆN PHÚC THỌ GIAI ĐOẠN
2010-2014........................................................................................................ 36
2.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CÓ ẢNH
THƯỜNG XUYÊN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC HUYỆN PHÚC THỌ
GIAI ĐOẠN 2015 -2020 VÀ ĐẾN NĂM 2030 ............................................. 74
3.3.1. Tăng cường quản lý qua các khâu trong quá trình quản lý ................... 74
3.3.2. Đổi mới công tác quản lý chi thường xuyên: ........................................ 77
3.3.3. Nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý chi thường
xuyên ............................................................................................................... 79
3.3.4. Phát triển công nghệ thông tin phục vụ quản lý.................................... 80
3.4. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT VỚI CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC ............... 81
3.4.1. Về phân cấp nhiệm vụ chi thường xuyên ............................................ 81
3.4.2. Hoàn thiện định mức phân bổ ngân sách .............................................. 82
Tóm tắt chương 3 .......................................................................................... 83
KẾT LUẬN .................................................................................................... 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 86
Thang Long University Libraty
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Ngô Hồng Phước
Sinh ngày 24 tháng 9 năm 1981 tại Hà Nội
Quê quán: Xã Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội
Hiện đang công tác tại: UBND huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội
Là học viên cao học khóa 2, Trường đại học Thăng Long; Ngành: Kinh doanh
và quản lý; chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng, Mã số: 60340201.
Tôi xin cam đoan đề tài: “Tăng cường quản lý chi thường xuyên từ Ngân sách
nhà nước tại huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội”.
Đề tài này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu có
tính chất độc lập riêng, không sao chép của bất kỳ tài liệu nào. Nội dung của
Chữ viết đầy đủ
NSNN
Ngân sách Nhà nước
NSĐP
Ngân sách địa phương
KT-XH
Kinh tế - xã hội
HĐND
Hội đồng nhân dân
HĐND&UBND
Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
KBNN
Kho bạc nhà nước
DNNN
Doanh nghiệp nhà nước
đảm bảo nguồn vốn cho tái sản xuất mở rộng nền kinh tế. Ở Việt Nam, Luật
NSNN quy định rằng ngân sách cấp huyện là một bộ phận cấu thành của
NSNN, là cấp ngân sách thực hiện chức năng, nhiệm vụ của NSNN. Việc tổ
chức quản lý thu chi ngân sách cấp huyện có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị, xã hội của địa phương.
Trong cơ cấu chi ngân sách Nhà nước gồm có hai khoản chi lớn là chi
đầu tư phát triển và chi thường xuyên, trong đó chi thường xuyên chiếm tỷ
trọng lớn, nhằm đảm bảo cho bộ máy nhà nước hoạt động liên tục, hiệu quả,
phục vụ các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị - kinh tế - xã hội của nhà nước.
Đồng thời chi thường xuyên cũng là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà
nước.
Huyện Phúc Thọ nằm phía Tây Bắc thủ đô Hà Nội, thuộc hữu ngạn
Sông Hồng và Sông Đáy, cách trung tâm Thủ đô khoảng 35km; giáp với các
huyện Đan Phượng, Quốc Oai, Thạch Thất và Thị xã Sơn Tây. Là một huyện
thuần nông, công nghiệp, dịch vụ chưa phát triển. Hàng năm thu ngân sách
nhà nước trên địa bàn khoảng 100 tỷ đồng, chỉ đủ bù đắp một phần cho chi
1
Thang Long University Libraty
thường xuyên, phần lớn nhu cầu chi hưởng từ nguồn thu trợ cấp của ngân
sách Thành phố.
Theo số liệu thống kê của Huyện từ năm 2010 đến nay chi thường
xuyên từ ngân sách huyện liên tục tăng từ 199 tỷ đồng (chiếm 53% tổng chi)
lên 487 tỷ đồng (chiếm 70% tổng chi). Nguyên nhân, do chi cho con người
ngày càng tăng, có nhiều định mức chi chưa phù hợp, một số nội dung chi
thường xuyên còn chưa thực sự cấp thiết… Trong khi đó nếu kiểm soát tốt
việc chi thường xuyên, sẽ tạo nhiều nguồn lực hơn để đầu tư cho phát triển
- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên từ ngân
sách nhà nước huyện Phúc Thọ.
- Chương 3: Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý chi thường
xuyên từ ngân sách nhà nước huyện Phúc Thọ giai đoạn 2015-2020 và đến
năm 2030.
3
Thang Long University Libraty
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHI THƯỜNG XUYÊN VÀ
QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC CẤP HUYỆN
1.1. HỆ THỐNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ PHÂN CẤP
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1. Khái niệm ngân sách nhà nước:
Theo Luật ngân sách nhà nước được quốc hội thông qua năm 2002 thì:
“NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quyết định và thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”. Nếu xét về mặt bản chất ngân sách nhà
nước là mối quan hệ lợi ích giữa nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội –
doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình gắn liền với việc tạo lập, phân
phối và sử dụng quỹ NSNN.
Ngân sách thường để chỉ tổng số thu và chi của một chủ thể trong một
thời gian nhất định. Khi chủ thể của “ngân sách” là Nhà nước được gọi là
ngân sách nhà nước. NSNN có hai nội dung cơ bản là thu NSNN và chi
NSNN:
Thu NSNN bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu
của NSNN đối với sự ổn định, tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội mà
Nhà nước có chức năng điều hành.
Các khoản chi NSNN cho hoạt động và phát triển kinh tế - xã hội mang
tính cấp phát (không hoàn lại trực tiếp) gồm chi cho đầu tư phát triển và chi
thường xuyên. Đây là nội dung quan trọng, dựa vào quyền lực và khả năng tài
chính của mình mà Nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế - xã hội của
5
Thang Long University Libraty
mình. Như vậy, vai trò của Nhà nước mang yếu tố quyết định đến tính chất,
quy mô hoạt động của NSNN.
Về nội dung kinh tế - xã hội: Đó là các quan hệ kinh tế thuộc nội dung
NSNN chỉ nảy sinh trong quá trình phân phối giá trị của cải xã hội, nó chịu sự
điều chỉnh của Nhà nước theo những yêu cầu quản lý trong từng giai đoạn
lịch sử.
Việc phân phối và phân phối lại các nguồn lực tài chính để hình thành
nguồn thu của Nhà nước, dù thực hiện dưới hình thức nào, thực chất cũng là
quá trình giải quyết lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và xã hội. Phân phối nguồn
lực tài chính là kết quả tài chính của các đơn vị kinh tế được chia thành hai
phần, phần nộp cho NSNN và phần để lại cho các thành viên của đơn vị.
Thông qua phần nộp NSNN, Nhà nước tiếp tục phân phối lại qua các khoản
cấp phát ngân sách cho mục đích tiêu dùng và đầu tư. Do vậy có thể thấy
rằng, mối quan hệ kinh tế - xã hội của NSNN là quan hệ ở phạm vi rộng lớn
liên quan đến mọi khu vực của nền kinh tế quốc dân.
Với quyền lực tối cao của mình, Nhà nước có thể sử dụng các công cụ
sẵn có để bắt buộc mỗi thành viên trong xã hội cung cấp cho mình các nguồn
lực tài chính cần thiết. Song các chủ thể sản xuất - kinh doanh, các thành viên
kinh tế tổng hợp và bao quát của chức năng.
Bản chất, chức năng của Nhà nước quyết định bản chất, chức năng của
NSNN. Hoạt động của NSNN, thực chất là hoạt động của Nhà nước trên lĩnh
vực tài chính. Nhà nước ra đời và tồn tại đều phải có nguồn lực tài chính để
chi tiêu, phục vụ cho việc duy trì bộ máy quản lý và phát triển kinh tế - xã
hội. Chức năng của NSNN phải có nhiệm vụ thống nhất tập hợp các khoản
thu và các khoản chi, sự thống nhất đó thể hiện cả hệ thống ngân sách, nghĩa
là luôn giữ vững mối quan hệ và loại bỏ sự tùy tiện giữa thu và chi ngân sách
trong phạm vi thời gian ấn định không tách rời nhau.
7
Thang Long University Libraty
Như vậy nguyên nhân ra đời và tồn tại của ngân sách là sự cần thiết tập
hợp, cân đối thu, chi của Nhà nước; các khoản thu phải thực hiện theo luật
định, các khoản chi phải dựa vào tiêu chuẩn, định mức và dự toán được cấp có
thẩm quyền phê duyệt. Việc tập hợp cân đối thu, chi ngân sách là vấn đề có ý
nghĩa quan trọng trong lĩnh vực tài chính quốc gia; thông qua đó mà thực hiện
kiểm tra, giám sát việc thu, chi ngân sách có đúng luật định và hiệu quả hay
không. Từ đó ta có thể kết luận chức năng của NSNN là:
- Thực hiện cân đối giữa khoản thu và các khoản chi (bằng tiền) của Nhà
nước.
- Huy động nguồn tài chính và đảm bảo các nhu cầu chi tiêu theo dự
toán nhà nước.
1.1.4. Vai trò của ngân sách nhà nước
Vai trò của NSNN được xác định trên cơ sở các chức năng và nhiệm vụ
cụ thể của nó trong từng giai đoạn. Theo yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của Nhà nước thì vai trò NSNN cũng được thể hiện khác nhau tùy theo từng
thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh.
Ngoài công cụ thuế còn có khoản thu từ nguồn vay nợ trong nước và
ngoài nước sẽ tạo thêm nguồn vốn cho NSNN, vấn đề là việc sử dụng nguồn
vốn vay sao cho đúng hướng, có chế độ quản lý hợp lý để có hiệu quả. Nếu
không sử dụng tốt thì đây là khoản nợ lớn của ngân sách, càng làm cho ngân
sách khó khăn bởi gánh nợ chi trả.
Thông qua chi đầu tư của NSNN cho xây dựng kết cấu hạ tầng như xây
dựng các công trình giao thông, thủy lợi, điện, nước, bưu điện… đã tạo được
môi trường kết cấu hạ tầng thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh. Ngân
sách còn dành vốn đầu tư để hình thành các doanh nghiệp then chốt, mũi nhọn
có tác dụng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và vùng, lãnh thổ,
cuối cùng tác động đến tăng trưởng kinh tế và là một biện pháp để chống độc
9
Thang Long University Libraty
quyền, thực hiện các chính sách ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh ở miền núi, chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp công ích đã tạo
điều kiện hỗ trợ cho sự phát triển doanh nghiệp và góp phần điều chỉnh hoạt
động kinh tế - xã hội giữa các vùng đảm bảo hợp lý hơn.
- Đảm bảo công bằng xã hội: Vai trò quan trọng nhất của NSNN về mặt
xã hội là từ nguồn thu huy động được, NSNN chi đầu tư và phân phối thông
qua dự toán chi NSNN cho các ngành và mọi lĩnh vực xã hội, đảm bảo cho Nhà
nước thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình.
NSNN chi phối toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội từ tiêu dùng, thu nhập
cho đến các vấn đề kinh tế, xã hội; quan hệ chi tiêu liên quan đến mọi lĩnh vực
như chi cho hoạt động của bộ máy Nhà nước, an ninh - quốc phòng, trật tự an
toàn xã hội, chi cho giáo dục, y tế, văn hóa, xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ cho các
Ngân sách Trung ương
Ngân sách cấp Quận, huyện, thị
xã (gọi chung là cấp huyện)
Ngân sách cấp xã, phường, thị
trấn ( gọi chung là cấp xã)
Hình 1.1: Cơ cấu hệ thống NSNN
Tổ chức hệ thống NSNN luôn gắn liền với việc tổ chức bộ máy Nhà
nước và vai trò, vị trí bộ máy đó trong quá trình phát triển KTXH của đất nước,
trên cơ sở Hiến pháp, mỗi cấp chính quyền có một cấp ngân sách riêng, cung
cấp phương tiện vật chất cho cấp chính quyền đó thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của mình trên vùng lãnh thổ. Việc hình thành hệ thống chính quyền Nhà
nước các cấp là một tất yếu khách quan nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ
của Nhà nước trên mọi vùng của đất nước. Sự ra đời của hệ thống chính quyền
Nhà nước là tiền đề để tổ chức hệ thống NSNN nhiều cấp.
11
Thang Long University Libraty
1.1.6. Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Phân cấp quản lý ngân sách thực chất là việc giải quyết mối quan hệ
giữa các cấp chính quyền trong việc sử dụng NSNN, cụ thể là:
- Giải quyết mối quan hệ quyền lực giữa các cấp chính quyền trong việc
ban hành các chính sách, chế độ thu, chi quản lý NSNN.
- Giải quyết mối quan hệ vật chất trong quá trình phân giao nhiệm vụ
của ngành tài chính.
NSNN là một thể thống nhất, trong đó có sự phân cấp quản lý phù hợp
với hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước theo luật định.
Phân cấp quản lý NSNN là xác định phạm vi, quyền hạn, trách nhiệm
của các cấp chính quyền Nhà nước trong việc quản lý, thực hiện nhiệm vụ thu
chi ngân sách. Phân cấp quản lý NSNN nhằm đảm bảo nguồn lực tài chính
cho chính quyền Nhà nước thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà
nước ở từng cấp, đồng thời khuyến khích tính chủ động sáng tạo ở từng cấp
chính quyền, nâng cao hiệu quả các nguồn lực NSNN.
Phân cấp quản lý NSNN được thực hiện theo các nguyên tắc:
NSTW và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân cấp
nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể.
NSTW giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến
lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối được
thu, chi ngân sách.
NSĐP được phân cấp nguồn thu, bảo đảm chủ động trong thực hiện những
nhiệm vụ được giao; tăng cường nguồn lực cho ngân sách xã. HĐND tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi
giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương tùy theo trình độ quản lý của mỗi
cấp trên địa bàn.
Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm;
việc ban hành và thực hiện chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách phải
13
Thang Long University Libraty
có giải pháp bảo đảm nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối của ngân
sách từng cấp.
nào được ban hành các chế độ, chính sách, định mức, tiêu chuẩn, chỉ tiêu
ngân sách và ban hành những loại chế độ nào. Những vấn đề này phải được
quy định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn mỗi cấp tức
là cấp trung ương thì phạm vi thực hiện đến đâu, cấp địa phương thì quyền xử
lý ở phạm vi mức độ giới hạn nào trong hoạt động ngân sách. NSĐP vừa thể
hiện tính chủ động, độc lập, vừa là sự chấp hành. Các chế độ, chính sách, định
mức, tiêu chuẩn mỗi cấp ngân sách tuy phân định phạm vi, giới hạn nhưng
chúng có mối quan hệ khăng khít và thống nhất toàn quốc. Nếu không chấp
hành nghiêm chỉnh trách nhiệm, quyền hạn của mỗi cấp chính quyền trong
quản lý ngân sách thì sẽ xảy ra mâu thuẫn giữa yêu cầu xử lý các điều kiện cụ
thể ở địa phương và khắc phục được tính quan liêu cứng nhắc của các quy
định từ trung ương.
Thứ hai là quan hệ vật chất.
Quan hệ vật chất trong việc phân giao nhiệm vụ chi và nguồn thu cũng
như quyền hạn trong cân đối ngân sách các cấp chính quyền nhà nước rất
phức tạp vì luôn vấp phải những khó khăn do sự biến động của khối lượng
nguồn thu, vì nguồn thu phụ thuộc lớn vào tình trạng kinh tế của mỗi địa
phương, nguồn thu ở mỗi địa phương chênh lệch nhau đều có ảnh hưởng đến
việc chi tiêu khác nhau.
Rõ ràng quá trình chấp hành NSNN đều có đụng chạm đến quyền hạn
và lợi ích của các cấp chính quyền, có thể nói đây là mâu thuẫn luôn có trong
sự thống nhất lợi ích quốc gia và lợi ích địa phương, cần phải làm dịu đi tính
phức tạp, không để gia tăng mâu thuẫn trong quan hệ vật chất. Cho nên khi
ban hành chế độ phân chia vật chất cần chú trọng đến đặc điểm, khả năng của
địa phương trong khai thác nguồn thu.
15
Thang Long University Libraty