Tóm tắt Luận án tiến sĩ Y học: Đặc điểm hình thái khớp TDH không triệu chứng ở người Việt trưởng thành, nghiên cứu trên cắt lớp điện toán chùm tia hình nón - Pdf 59

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN VĂN LÂN

ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI
KHỚP THÁI DƢƠNG HÀM KHÔNG TRIỆU CHỨNG
Ở NGƢỜI VIỆT TRƢỞNG THÀNH
NGHIÊN CỨU TRÊN HÌNH ÃNH CẮT LỚP ĐIỆN TOÁN
CHÙM TIA HÌNH NÓN
Ngành: Răng - Hàm - Mặt
Mã số: 9720501

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2018


Công trình được hoàn thành tại:
Đại Học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGÔ THỊ QUỲNH LAN
PGS.TS. PHẠM NGỌC HOA

Phản biện 1: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Phản biện 2: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Phản biện3: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

được tạo dựng đạt kích thước thật, tỉ lệ 1:1. Với những ưu điểm đó,
chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Đặc điểm hình thái khớp TDH
không triệu chứng ở người Việt trưởng thành, nghiên cứu trên cắt lớp
điện toán chùm tia hình nón” với mục tiêu sau:
- Xác định đặc điểm hình thái lồi cầu xương hàm dưới
- Xác định đặc điểm hình thái hõm khớp và lồi khớp của khớp
TDH.
- Xác định vị trí lồi cầu xương hàm dưới ở tư thế lồng múi tối đa
(LMTĐ) và tư thế há tối đa.
2. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Rối loạn TDH tại Việt Nam được ghi nhận khá phổ biến ở
người trẻ, 12 tuổi: 22,8% và 18 - 54 tuổi chiếm 64,87%. Tình trạng
không bình thường của khớp không chỉ làm mất sự thoải mái về thể
chất mà người bệnh phải chịu nhiều tác động tinh thần, ảnh hưởng
đến sinh hoạt, làm việc và chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên hiện nay,
việc chẩn đoán tình trạng khớp TDH vẫn chủ yếu dựa vào các dấu
chứng lâm sàng, có rất ít thông tin từ hình ảnh chẩn đoán.
Phân tích hình ảnh khớp TDH là lĩnh vực khó, phức tạp và các
nhà nghiên cứu xem là lĩnh vực riêng của chẩn đoán hình ảnh.
Tại Việt Nam, CBCT bước đầu được sử dụng trong chẩn đoán
và nghiên cứu một số bệnh vùng hàm mặt. Cho tới nay chưa có


2
nghiên cứu nào khảo sát về hình ảnh khớp TDH không triệu chứng
trên người Việt trưởng thành.
3. Những đóng góp của luận án
Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt nam về hình thái khớp TDH
không triệu chứng ở người Việt trưởng thành trên CBCT, có số
lượng mẫu lớn với thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả, phù hợp với

những kỹ thuật hiện đại, có giá trị chẩn đoán cao.
1.2. CBCT khảo sát khớp thái dƣơng hàm
Hình dạng lồi cầu có thể tùy thuộc vào kiểu nhai: lồi cầu dạng
phẳng, tam giác, xuất hiện nhiều thường có liên quan với lực cắn
mạnh. Hình dạng của lồi cầu liên quan với nền sọ, tình trạng sai khớp
cắn, sai hình xương hàm và chiều hướng tăng trưởng phát triển mở
hay phát triển đóng của mặt. Weinberg (1979) nhận thấy chỉ có 23%
lồi cầu ở vị trí trung tâm ở khớp TDH không triệu chứng. Blaschke
(1981) khẳng định có sự bất cân xứng lồi cầu và đôi khi có thể ghi
nhận được tình trạng này ở những người không có triệu chứng.
Pullinger (1987) khảo sát ở khớp không triệu chứng đại diện cho dân
số bình thường, ghi nhận được 43% lồi cầu ở vị trí trung tâm, 27% ở
vị trí lui sau và 30% ở vị trí ra trước. Ý nghĩa lâm sàng của vị lồi cầu
trong hõm khớp vẫn chưa thống nhất, dường như bệnh nhân rối loạn
khớp TDH có nhiều khả năng có lồi cầu ở vị trí lui sau. Do vậy, lồi
cầu không ở vị trí trung tâm thì chưa phải là dấu chứng bệnh vì điều
này thường thể hiện ở các cá thể không triệu chứng.
Hình thái hõm khớp thay đổi theo tuổi, có khác nhau theo
giới và theo khớp cắn: khớp cắn hạng III có hõm khớp rộng và
phẳng hơn hõm khớp của khớp cắn hạng II. Chiều sâu hõm khớp có
liên quan với tình trạng rối loạn nội khớp. Chiều dày trần hõm khớp


4
rất mỏng khoảng từ 0,5 - 3,6 mm, khớp TDH không triệu chứng có
chiều dày trung bình là 0,6 mm; trường hợp di lệch đĩa khớp đơn
thuần và di lệch có kèm viêm khớp thì trần hõm khớp dày hơn
(1,1mm) và ở khớp có viêm xương, thủng đĩa khớp thì chiều dày này
lớn hơn nữa (2,6 mm). Các thay đổi chiều dày trần hõm khớp có thể
do các yếu tố khác nhau như thói quen cận chức năng, cấu trúc bè

không phân biệt nam nữ; không có bệnh sử hay triệu chứng lâm sàng
khớp TDH; chưa từng điều trị chỉnh hình răng mặt hay điều chỉnh
khớp cắn; hàm dưới cân xứng; không có chấn thương vùng hàm mặt.
2.2.2. Tiêu chí loại trừ
Có can thiệp phẫu thuật vùng khớp TDH, phụ nữ mang thai, sai
tư thế hai hàm và hình ảnh không rõ do cử động lúc chụp CBCT.
2.3. Cách thức tiến hành nghiên cứu
Thu thập thông tin cá nhân và chuyên gia Cắn khớp học xác
định tình trạng không triệu chứng của khớp TDH
Một kỹ thuật viên chụp khớp TDH tại hai tư thế LMTĐ và há
tối đa với máy CBCT hiệu Galileos- Sirona; quang trường 15x15
(cm); kích thước điểm ảnh 0,3 mm; thời gian chụp 14 giây; hiệu
điện thế 85 kV, cường độ dòng điện 5-7 mA, tần số 50 Hz.
Phân tích hình ảnh CBCT: Dùng phần mềm Galaxis XG, khảo
sát trên màn hình Dell U2713HMt, độ phân giải 2560 x 1440
WQHD, phân tích theo ba mặt phẳng định hướng tham chiếu. Mặt
phẳng ngang: qua điểm cao nhất bờ trên ống tai ngoài và hai điểm
thấp nhất bờ dưới hốc mắt (Or) bên phải và bên trái. Mặt phẳng dọc
giữa là mặt phẳng vuông góc mặt phẳng ngang và qua hai điểm
Basion và Nasion. Mặt phẳng đứng ngang: vuông góc với mặt phẳng
đứng ngang và qua Po.


6
2.4. Dữ liệu ở tƣ thế lồng múi tối đa
Ghi nhận hình dạng lồi cầu trên mặt phẳng đứng ngang theo
Yale (1963). Trên mặt phẳng ngang, ghi nhận kích thước lồi cầu theo
chiều ngoài trong và chiều trước sau. Xác định sự cân xứng lồi cầu
qua vị trí tâm lồi cầu và chiều hướng trục lồi cầu hai bên so với mặt
phẳng dọc giữa. Khoảng cách và vị trí giữa lồi cầu trái so với lồi cầu

- Vị trí lồi cầu trong hõm khớp:
Theo Pullinger (1986) và Senner (2009) chỉ đánh giá vị tri lồi
cầu trên mặt phẳng đứng dọc qua hai khoảng gian khớp trước và
khoảng gian khớp sau. Pullinger xác định vị trí lồi cầu qua tỉ số giữa
hiệu và tổng của khoảng gian khớp sau với khoảng gian khớp trước,
với giá trị từ -12% đến +12% thể hiện lồi cầu ở vị trí trung tâm.
Senner (2009) xác định qua tỉ số khoảng gian khớp sau và khoảng
gian khớp trước, với lồi cầu ở trung tâm khi 0,8 < Tỉ số PS/AS
thành phố Hồ Chí Minh.
3.2. Đặc điểm hình thái lồi cầu xƣơng hàm dƣới
3.2.1. Kích thước lồi cầu
Bảng 3. 3: Kích thước trung bình lồi cầu theo giới và chung nam nữ
Kích thước lồi cầu
Nam
Nữ
p*
Chung
TB ± ĐLC (mm)
(n = 138)
(n = 146)
Trái
19,6 ± 2,1
18,1 ± 1,8 0,0001 18,9 ± 2
Chiều
ngoài
Phải
19,8 ± 2,1
18,1 ± 1,8 0,0001 19 ± 2,1
trong
p
0,13
1
0,3
Trái
8,7 ± 1,3
8 ± 1,1
0,001 8,3 ± 1,3
Chiều

Chung (N=284)
51,5 ± 3
Góc trục lồi cầu - mặt phẳng dọc giữa (0)
Nam (N=138)
67,5 ± 8,5
0,42
Nữ (N=146)
68,6 ± 8,150
Chung (N=284)
68,1 ± 8,3

Bên phải

p*

p**

53,9 ± 3,0
0,0001
51,6 ± 2,8
52,7 ± 3,1

0,0001
0,001
0,0001

68,7 ± 7,4
0,93
68,6 ± 8,0
68,7 ± 7,7

p* = 0,01
Chiều sâu 9,7 ± 1,2 10,1 ± 1,0 9,5 ± 1
9,8 ± 1
9,6 ± 1,1
10 ± 1
p
0,01
0,04
0,0001
Chung
9,9 ± 0,9
9,7 ± 0,9
p*= 0,7
Chiều dày 0,9 ± 0,4 0,9 ± 0,3 0,9 ± 0,3 0,8 ± 0,2 0,9 ± 0,3 0,8 ± 0,2
p
0,68
0,25
0,25
Chung
0,9 ± 0,3
0,8 ± 0,2
p* = 0,007

Hõm khớp
(mm)

Chiều sâu hõm khớp (P) lớn hơn (T). Chiều rộng và chiều dày
trần hõm khớp cân xứng hai bên.




Trái (n=142) Phải (n=142)
p*
51,4 ± 4,9
52,3 ± 4,9
0,2
49,3 ± 5
51,3 ± 5,3
0,02
0,01
0,26
50,3 ± 5
51,8 ± 5,1
0,001
10,3 ± 1,1
10,5 ± 1,2
0,16
9,5 ± 1,1
9,8 ± 1,2
0,0001
0,0001
0,001
9,9 ± 2
10,1 ± 1,2
0,01

Chung
51,8 ± 4,5
50,3 ± 4,8
0,05


Đa hốc
(n%)

33
60
93

22 (66,7)
16 (26,7)
38 (40,9)

11 (33,3)
16 (26,7)
27 (29,0)

0
28 (46,7)
28 (30,1)

48
39
87

36 (75)
14 (25,9)
50 (57,5)

12 (25)
9 (23,1)

Trên
15
1,6 ± 0,7
Mặt phẳng ngang
Ngang
1
0
Trước
55
2 ± 1,2
Sau
13
1,5 ± 1,2

n

Nữ (n = 73)
TB ± ĐLC

p

N

Chung
TB ± ĐLC

3
47
23


Bảng 3.21: Vị trí lồi cầu trong hõm khớp theo Pullinger và Senner
Ra trước
Tác giả
(n%)
Trái
Phải
Pullinger
46
50
(1987) (32,4) (35,2)
Senner
56
62
(2009) (39,4) (43,7)

Trung tâm
Trái
Phải
69
64
(48,6) (45,1)
58
50
(40,9) (35,2)

Lui sau
Trái
Phải
27
28

Trên (CCS)
142
Trong (CMS)
142
Mặt phẳng ngang
Ngoài (ALS)
142
Trong (AMS)
142

TB ± ĐLC
(mm)

Tỉ số

1,9 ± 0,5
2 ± 0,4
3,1 ± 0,6

AS/AS
PS/AS
CS/AS

1
1,1
1,7

2,4 ± 0,5
2,6 ± 0,6
2,7 ± 0,5

Dưới lồi cầu (P) 47 1,8 ± 1,1
Trên lồi cầu (P) 18 2,0 ± 0,9

Nữ (n = 73)
n TB ± ĐLC
5
0
42
2 ± 1,1
26 2,1 ± 0,9

p

0,3
0,8

N
9
89
44

Chung
TB ± ĐLC
0
1,9 ± 1,1
2,0 ± 0,9

Lồi cầu (T) đa số ở dưới hoặc ở trên lồi cầu (P)
3.5.2.2. Vị trí lồi cầu so với lồi khớp
Bảng 3.24: Vị trí lồi cầu so với lồi khớp ở tư thế há tối đa

3 ± 0,7

3

3,1 ± 1,2

16
110
16

0
1,1 ± 0,5
1,4 ± 0,6

10
117
15

0
1,1 ± 0,5
1,2 ± 0,5

Hầu hết các lồi cầu ở trước lồi khớp (theo chiều trước sau) và ở
dưới lồi khớp (theo chiều trên dưới).
3.5.2.3 Vị trí lồi cầu ở tư thế há tối đa theo lồi cầu ở LMTĐ
Bảng 3.26: Vị trí lồi cầu ở há tối đa theo vị trí lồi cầu ở LMTĐ
(mặt phẳng đứng ngang)
LMTĐ
Vị trí lồi cầu (T) so lồi cầu (P)
n

9
1,7 ± 1,1
44

Trên
2
2,2 ± 1,3
16
1,8 ± 0,8
26
2,2 ± 0,9

Bảng 3.28: Vị trí lồi cầu ở há tối đa theo vị trí lồi cầu ở LMTĐ trên
mặt phẳng ngang
Há tối đa LMTĐ
Mặt phẳng đứng ngang
Mặt phẳng
ngang
Ngang
Dưới
Trên
Ngang
n=4

1

Trước
n = 107

2

26
98
3
98
2
6
7
2,1 ± 1,2 1,9 ± 1
5,4 ± 2,5 3,2 ± 0,7
5,1 ± 2,2 3,3 ± 0,1
19
11
29
1
30
1
1
0
1,6 ± 0,8 1,5 ± 0, 9
6,0 ± 2,6
2,4
4,9 ± 2,1
2,9
100

38

7

131

TDH không triệu chứng thì không nhiều, với cỡ mẫu nhỏ và độ tuổi
trung bình cũng dao động quanh tuổi 18. Tỉ lệ nam nữ trong các
nghiên cứu không đều nhau với nữ thường nhiều hơn nam. Các đối
tượng tình nguyện tham gia có tiền sử gãy xương, có can thiệp phẫu
thuật ở xương hàm dưới hoặc đã từng trải qua chỉnh hình răng mặt
thì không được đưa vào mẫu nghiên cứu. Các cá thể thỏa điều kiện
nghiên cứu được chụp CBCT, tuy nhiên nếu các cá thể này không
cắn đúng ở tư thế LMTĐ hoặc cử động lúc chụp ở tư thế há tối đa thì
cũngkhông được chọn vào mẫu nghiên cứu.


16
Phƣơng pháp nghiên cứu
Hình ảnh X quang hai chiều phổ biến được dùng để đánh giá
cấu trúc mô xương của khớp TDH và có nhiều chiều thế chụp khớp
TDH. Nhược điểm chung của các kỹ thuật này là dễ bị biến dạng ảnh
và chỉ khảo sát được khớp theo hai chiều trong khi những đặc điểm
về hình thái của khớp TDH thể hiện trên cả ba chiều trong không
gian. Hình ảnh cộng hưởng từ thể hiện nhiều chi tiết về mô mềm,
Tuy nhiên, khả năng phát hiện bất thường ở mô xương chỉ đạt ở mức
độ kém hoặc trung bình. CT thích hợp để khảo sát cấu trúc xương
của khớp TDH trong thời gian khá dài. Năm 1998, CBCT được sử
dụng trong ngành Răng Hàm Mặt và trong lĩnh vực khớp TDH. Đến
nay, CBCT là kỹ thuật hình ảnh hiện đại khảo sát mô xương của
khớp TDH với các ưu điểm nổi trội về chất lượng hình ảnh, liều bức
xạ thấp, chu trình ghi hình ngắn và còn là phương tiện đo đạc tin cậy
các thành phần khớp TDH. Mỗi cá thể tham gia nghiên cứu được
khảo sát trên mỗi khớp ở hai tư thế: LMTĐ và há tối đa.
Khảo sát các đặc điểm về lồi cầu
Lồi cầu cân xứng về kích thước theo chiều ngoài trong nhưng

của nghiên cứu này thì có sự cân xứng giữa hai bên và có sự khác
biệt theo giới với nam lớn hơn. Alkhader (2012) thấy rằng hõm khớp
ở nhóm bất thường xương thì có chiều rộng hẹp hơn. Ngược lại,
Paknahad (2016) lại ghi nhận nhóm có rối loạn TDH thì hõm khớp
rộng hơn nhóm chứng và cho rằng có sự tương quan nhẹ giữa hình
thái khớp TDH với tỉ lệ rối loạn TDH. Hình dạng hõm khớp trong
nghiên cứu này đa số có dạng phẳng và dạng lõm và kích thước hõm
khớp giữa các hình dạng hõm khớp và cá hình dạng lồi cầu thì tương
tự nhau. Chiều dày trung bình trần hõm khớp trong nghiên cứu này là
0,8 ± 0,3 mm và có sự cân xứng giữa hai bên. Các nghiên cứu cho


18
thấy chiều dày trần hõm khớp thay đổi rất lớn, từ 0,2 – 4 mm (trung
bình là 0,6 mm trên khớp TDH không triệu chứng) và từ 0,4 – 2,9
mm đo được trên CBCT. Kết quả nghiên cứu này tương tự người Ấn
độ (Reddy 2013) và người Nhật (Kijima 2007), nhỏ hơn người Mã
lai và Trung quốc (Al-koshab 2015). Chiều dày trần hõm khớp ở nam
lớn hơn nữ và nghiên cứu này chỉ tập trung vào một nhóm tuổi và
còn đủ răng nên chưa ghi nhận được sự liên quan của chiều dày trần
hõm khớp với tuổi và tình trạng răng. Reddy (2013) lại ghi nhận có
sự tăng nhẹ chiều dày trần hõm khớp của nữ. Sự tăng chiều dày trần
hõm khớp có thể được giải thích là sự đáp ứng tự nhiên của cơ thể để
duy trì chức năng của khớp TDH. Nghiên cứu chúng tôi cũng ghi
nhận các lồi cầu dạng tròn có chiều dày trần hõm khớp mỏng nhất và
có tương quan giữa chiều dày trần hõm khớp với kích thước lồi cầu
theo chiều trước sau và chiều ngoài trong (r: 0,2, p
trần hõm khớp thì chiều dày trần hõm khớp lớn nhất.
Khảo sát về vị trí lồi cầu
Ở tư thế LMTĐ, các cá thể người Việt có khớp TDH không
triệu chứng trên lâm sàng thì lồi cầu hai bên không ở vị trí cân xứng
cả theo chiều trên dưới lẫn theo chiều trước sau. Vị trí phổ biến của
lồi cầu (T) so với lồi cầu (P) theo chiều trên dưới là dưới lồi cầu (P)
và theo chiều trước sau là lồi cầu (T) trước lồi cầu (P). Như vậy, ở tư
thế LMTĐ đa số các trường hợp có lồi cầu (T) ở thấp hơn và trước
hơn so với lồi cầu (P) với khoảng cách trung bình theo chiều trước
sau là 1,9 ± 1,1 mm và theo chiều trên dưới là 2 ± 1,2 mm.
Ở tư thế LMTĐ, ở cá thể người Việt có sự cân xứng về kích
thước khoảng gian khớp theo mặt phẳng đứng dọc và chỉ có khoảng


20
gian khớp trên (T) ở nam lớn hơn nữ. Kết quả này tương tự nhiều
nghiên cứu khác (Ikeda 2009, Manjula 2015, Orkur 2012, Al-Rawi
2017, Dalili 2012). Kích thước trung bình khoảng gian khớp tăng dần
từ khoảng gian khớp trước (AS) đến khoảng gian khớp sau (PS) và
khoảng gian khớp trên (SS). Xu hướng tăng dần kích thước khoảng
gian khớp này tương tự nhiều nghiên cứu khảo sát trên khớp TDH
không triệu chứng (Ikeda 2009 - người Nhật, Henriques 2012- người
Brazil, Dalili 2012 - người Iran, Okur 2012- người Thổ nhĩ kỳ, Alkoshab 2015- người Mã Lai, Trung quốc) nhưng khác người Iran
(Imanimoghaddam 2016 và Alhammadi 2014). Kích thước trung
bình khoảng gian khớp trên mặt phẳng đứng ngang, tăng từ khoảng
gian khớp ngoài (CLS) đến khoảng gian khớp trên (CCS) và đến
khoảng gian khớp trong (CMS), có sự cân xứng ở cả hai bên; khác
với nghiên cứu Ikeda (2011) và Dalili (2012). Ở mặt phẳng ngang,
kích thước khoảng gian khớp trong (AMS) lớn hơn và có khác biệt
giới tính, ngược với người Tiểu vương quốc Ả rập (Al-Rawi 2017).

đa); các lồi cầu (T) dưới và ở trên lồi cầu (P) ở LMTĐ thì khi há tối
đa, hầu hết các lồi cầu này ở trước lồi khớp. Như vậy, ở người Việt
trưởng thành có khớp TDH không triệu chứng thì đa số lồi cầu (T) ở
dưới lồi cầu (P) trong tư thế LMTĐ và ở trước lồi khớp ở tư thế há
tối đa.
Khi đối chiếu vị trí lồi cầu ở LMTĐ (trên mặt phẳng ngang)
với vị trí lồi cầu ở tư thế há tối đa trên hai mặt phẳng (đứng ngang và
đứng dọc), chúng tôi nhận thấy khi há tối đa các lồi cầu chủ yếu ở vị
trí ở dưới lồi cầu (P) (trên mặt phẳng đứng ngang) và ở trước lồi
khớp (trên mặt phẳng đứng dọc) dù ở LMTĐ, các lồi cầu (T) này có
thể ở trước, ở sau hay ngay vị trí lồi cầu (P) ở trước lồi cầu (P). Kết
quả nghiên cứu này cho thấy: ở người Việt trưởng thành có khớp


22
TDH không triệu chứng, Như vậy, ở tư thế há tối đa lồi cầu (T)
người Việt trưởng thành có khớp TDH không triệu chứng đa số ở vị
trí dưới lồi cầu (P) (trên mặt phẳng đứng ngang) và lồi cầu hai bên đa
số ở vị trí trước lồi khớp và vị trí của các lồi cầu này đồng thời trên
cả hai mặt phẳng là độc lập nhau. Đồng thời vị trí của các lồi cầu này
trên mỗi mặt phẳng là độc lập nhau.
Nghiên cứu cũng ghi nhận các đặc điểm lồi cầu, hõm khớp và
lồi khớp, khoảng gian khớp cũng như độ há miệng tối đa đều không
ảnh hưởng đến sự dịch chuyển lồi cầu. Như vậy, kết quả này một lần
nữa xác nhận rằng lồi cầu ở vị trí trước và dưới lồi khớp (mặt phẳng
đứng dọc) và lồi cầu (T) ở dưới lồi cầu (P) (mặt phẳng đứng ngang)
khi há tối đa là vị trí bình thường ở các cá thể trưởng thành có khớp
TDH không triệu chứng và sự vận động của khớp TDH hai bên này
là độc lập.
KẾT LUẬN

Đa số lồi cầu (T) ở trước và ở dưới lồi cầu (P) với khoảng lệch
trung bình là 1,9 ± 1,1 mm (trên mặt phẳng ngang) và 2 ± 1,2 mm
(trên mặt phẳng đứng ngang).
Trong hõm khớp, lồi cầu có vị trí ra trước nhẹ và cách xa trần
hõm khớp theo mặt phẳng đứng dọc; cân xứng trong hõm khớp theo
mặt phẳng đứng ngang và lệch ngoài theo mặt phẳng ngang.
b. Tư thế há tối đa
Khi há tối đa, lồi cầu người Việt ở trước và dưới lồi khớp trên
mặt phẳng đứng dọc và lồi cầu (T) thấp hơn lồi cầu (P) trên mặt
phẳng đứng ngang.
Có tương quan giữa vị trí lồi cầu (T) so với lồi cầu (P) ở tư thế
LMTĐ với há tối đa trên mặt phẳng đứng ngang (r = 0,6) và có tương
quan giữa lồi cầu (P) với lồi cầu (T) so với lồi khớp trên mặt phẳng
đứng dọc (r = 0,8).



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status