BQUCPHềNG
HCVINCHNHTR
NGUYNVNTNG
BồI DƯỡNG NĂNG LựC NGHIÊN CứU KHOA HọC
CủA HọC VIÊN ĐàO TạO GIảNG VIÊN ở CáC HọC
VIệN,
TRƯờNG Sĩ QUAN QUÂN ĐộI GIAI ĐOạN HiệN NAY
LUNNTINSKHOAHCCHNHTR
HNIư2016
BQUCPHềNG
HCVINCHNHTR
NGUYNVNTNG
BồI DƯỡNG NĂNG LựC NGHIÊN CứU KHOA HọC
CủA HọC VIÊN ĐàO TạO GIảNG VIÊN ở CáC HọC
VIệN,
TRƯờNG Sĩ QUAN QUÂN ĐộI GIAI ĐOạN HiệN NAY
Chuyờnngnh:XõydngngvChớnhquynNhnc
Mós:62310203
LUNNTINSKHOAHCCHNHTR
Chính trị quốc gia
2
Công tác đảng, công tác chính
Chữ viết tắt
CTQG
CTĐ, CTCT
trị
3
Đào tạo giảng viên
ĐTGV
4
Giáo dục Đào tạo
GD ĐT
5
Hà Nội
6
QUTƯ
12
Trang
Tr.
13
Xã hội chủ nghĩa
XHCN
H
QĐND
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
5
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
11
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC 24
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA HỌC VIÊN ĐÀO TẠO
HỌC CỦA HỌC VIÊN ĐÀO TẠO GIẢNG VIÊN Ở CÁC
HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY
3.1.
3.2.
Yếu tố tác động và yêu cầu bồi dưỡng năng lực nghiên cứu 98
khoa học của học viên đào tạo giảng viên ở các học viện,
trường sĩ quan quân đội giai đoạn hiện nay
Những giải pháp cơ bản thực hiện tốt bồi dưỡng năng lực 106
nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo giảng viên ở các học
viện, trường sĩ quan quân đội giai đoạn hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC
CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
155
157
158
174
5
MỞ ĐẦU
̣
̣ ́ ́
̉ ̉ ̣
̀ ́ ̀ ̀ ưỡng năng lực NCKH
6
của học viên ĐTGV trong các học viện, trường sĩ quan quân đội giai đoạn
hiện nay. Kêt câu luân an gôm: m
́ ́
̣ ́ ̀
ở đầu; 3 chương (6 tiết); kết luận; danh
mục các công trình của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án;
danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Vơi dung l
́
ượng 3 chương (6 tiết),
đam bao cho công trinh đ
̉
̉
̀ ược triên khai đây đu c
̉
̀ ̉ ơ sở ly luân va th
́ ̣
̀ ực tiên, t
̃ ư ̀
đo xac đinh yêu câu va nh
́ ́ ̣
̀ ̀ ững giai phap chu yêu nhăm bôi d
̉
́
nhà trường quân đội, là người trực tiếp giảng dạy, NCKH, hướng dẫn học
viên NCKH và cơ bản sẽ là lực lượng chủ yếu trong đào tạo trình độ thạc
sĩ, tiến sĩ sau này.
Quán triệt quan điểm của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của
Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện hệ thống giáo dục và phát triển KH
CN, Nghị quyết số 20 NQ TW, ngày 01/11/2012 của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng (khoá XI) về “Phát triển khoa học, công nghệ phục vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng
XHCN và hội nhập quốc tế”; Nghị quyết số 29, ngày 04/11/2013 của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI) về: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục đào tạo…”; Nghị quyết số 791 NQ QUTW, ngày 30/12/2012 của Quân
uỷ Trung ương về “Lãnh đạo công tác khoa học, công nghệ và môi trường
trong Quân đội đến năm 2020 và những năm tiếp theo”; Thông tư số 19
TT/BGD ĐT ngày 01/6 /2012 của Bộ Giáo dục Đào tạo về NCKH của sinh
viên trong các cơ sở đào tạo... Các học viện, trường sĩ quan quân đội đã đẩy
mạnh công tác lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng hoạt động NCKH và
bồi dưỡng năng lực NCKH cho các đối tượng học viên. Vì vậy, hoạt động
NCKH ở các học viện, trường sĩ quan quân đội được nâng lên, nhiều công
trình NCKH của học viên đạt giải cao trong hoạt động NCKH, của quân đội,
quốc gia và được ứng dụng vào quá trình xây dựng, sắn sàng chiến đấu, huấn
luyện của quân đội, đặc biệt là nâng cao chất lượng GD ĐT của các nhà
trường quân đội. Tuy nhiên, năng lực NCKH và hoạt động bồi dưỡng năng
8
lực NCKH của học viên còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, như lúng túng
trong lựa chọn vấn đề nghiên cứu; chưa biết cách tổ chức triển khai nghiên
cứu và sử dụng các phương pháp NCKH; chưa thành thạo trong xử lý thông
tin; hoạt động bồi dưỡng năng lực NCKH cho học viên nói chung và học viên
ĐTGV nói riêng chưa được tiến hành thường xuyên; thiếu những nội dung
tốt bồi dưỡng năng lực NCKH của học viên ĐTGV ở các học viện, trường
sĩ quan quân đội.
Đối tượng điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến, chủ yếu là học viên
ĐTGV; giảng viên, cán bộ khoa học, cán bộ quản lý GD ĐT và quản lý
khoa học; đội ngũ cán bộ đơn vị quản lý học viên; đồng thời kết hợp thu
thập tài liệu về hoạt động NCKH của học viên ĐTGV ở các học viện,
trường sĩ quan đóng quân ở khu vực miền Bắc Việt Nam.
Số liệu phục vụ cho luận án được giới hạn từ năm 2010 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận, thực tiễn
Cơ sở lý luận của đề tài
Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam; Nghị quyết của Quân uỷ Trung
ương về GD ĐT, phát triển KH CN, xây dựng đội ngũ giảng viên.
Cơ sở thực tiễn của đề tài
10
Toàn bộ hoạt động GD ĐT và NCKH của các học viện, trường sĩ
quan quân đội; hoạt động NCKH và bồi dưỡng năng lực NCKH của học
viên ĐTGV ở các học viện, trường sĩ quan quân đội là cơ sở thực tiễn của
luận án. Kết quả điều tra, khảo sát của tác giả dựa trên cơ sở thực tiễn đó
để tác giả luận giải làm rõ nội dung của luận án.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa
học chuyên ngành và liên ngành; chú trọng phương pháp nghiên cứu lý luận,
tổng kết thực tiễn, trong đó tập trung vào một số phương pháp cơ bản như
phân tích, tổng hợp, lôgic, lịch sử, điều tra, khảo sát thực tiễn, so sánh và
phương pháp chuyên gia để luận giải làm rõ nội dung của luận án.
* Các công trình, nhóm công trình khoa học ở Trung Quốc
12
Giáo trình “Công tác đảng, công tác chính trị trong học viện, nhà
trường Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc trong thời kỳ đổi mới” [55],
do Nxb, Đại học Quốc phòng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, phần
II cuốn sách cho rằng: Quân uỷ Trung ương và Quân giải phóng nhân dân
Trung Quốc rất quan tâm, coi công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt
là bồi dưỡng năng lực công tác và coi hoạt động này là một trong những
nhiệm vụ chiến lược lâu dài, có ý nghĩa quyết định đến việc xây dựng quân
đội cách mạng hoá, hiện đại hoá và chính quy hoá.
Các tác giả cho rằng, nội dung bồi dưỡng cán bộ phải toàn diện trên
tất cả các lĩnh vực, cả về chính trị, quân sự, khoa học tự nhiên, khoa học
kỹ thuật, kinh nghiệm thực tiễn. Đồng thời, chỉ rõ hình thức, phương pháp
bồi dưỡng cơ bản là kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo, bồi dưỡng tại nhà
trường với bồi dưỡng ở đơn vị; khuyến khích, động viên cán bộ tự nghiên
cứu, học tập. Về nội dung chú trọng bồi dưỡng năng lực sáng tạo, năng lực
rèn luyện, năng lực thực hành của cán bộ trong thực tiễn và yêu cầu rõ:
“Tăng cường bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho cán bộ là yêu cầu bức thiết
của xây dựng “Bốn hoá” và hiện đại hoá quân đội”, “ Quân uỷ Trung ương
cần phải đưa nhiệm vụ giáo dục huấn luyện cán bộ lên vị trí chiến lược,
đảng uỷ các cấp phải coi trọng giáo dục, bồi dưỡng cán bộ” [55, tr. 336].
Trong cuốn “Điều lệ Công tác đảng, công tác chính trị Quân giải
phóng nhân dân Trung Quốc” [48], do Phòng Biên tập sách quốc tế, Nxb.
Quân đội nhân dân Việt Nam phát hành. Sách chỉ rõ vị trí, vai trò, trách
nhiệm, phẩm chất, năng lực của người chính uỷ, chính trị viên, trong đó, có
bàn về bồi dưỡng năng lực nghiên cứu cho cán bộ, học viên trong nhà
trường Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.
14
quân sự mới, trực tiếp đào tạo trên 90.000 học viên quân sự và tiến hành
bồi dưỡng nâng cao trình độ cho hơn 13.000 sĩ quan [96, tr. 98].
Tác giả V.V Gierepsov, trong bài “Về những phương hướng có thể
phát triển lực lượng vũ trang Nga”, đăng trên Tạp chí “Tư tưởng quân sự”
Nga [56], đã chỉ rõ: “Cộng hoà liên bang Nga tiếp tục tiến hành hiện đại
hoá các lực lượng vũ trang từ việc hiện đại hoá con người. Theo tác giả,
một nội dung cơ bản trong Học thuyết quân sự mới của Nga là phát triển
lực lượng nhân tài quân sự trong thế kỷ XXI, đặc biệt là lực lượng ở các
viện nghiên cứu, giảng viên trong các nhà trường quân sự và chất lượng
GD ĐT và NCKH ở đó” [56, tr. 32], . Bởi lực lượng này là khâu đột phá
trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học để giúp Nga thoát khỏi nguy cơ tụt
hậu về nền khoa học kỹ thuật quân sự so với một số cường quốc trên thế
giới.
Các công trình nghiên cứu ở Trung Quốc, Cộng hoà Liên Bang Nga
trên đây đều khẳng định vai trò của hoạt động NCKH trong các học viện,
trường sĩ quan, đặc biệt là bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ cán bộ,
giảng viên, học viên trong các trường quân sự luôn được coi là hoạt động
cần thiết, quan trọng nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển, hiện đại hoá
quân đội của mỗi nước. Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học của các tác
giả nước ngoài nào đề cập một cách độc lập, chuyên sâu về năng lực
NCKH và bồi dưỡng năng lực NCKH của đội ngũ học viên ĐTGV.
2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài
* Các công trình nghiên cứu liên quan đến năng lực nghiên cứu khoa học
Bàn vền hoạt động NCKH có một số tác giả đã viết giáo trình, sách
tham khảo, chuyên khảo về hoạt động này như sách: “Phương pháp luận
nghiên cứu khoa học”, do Vũ Cao Đàm chủ biên [34], sách gồm 207 trang giới
15
Các tác giả đã luận giải về đặc điểm NCKH, tiêu chí đánh giá chất lượng,
đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân, rút ra những kinh nghiệm nâng
cao chất lượng NCKH của học viên đào tạo chính trị viên tại cơ sở 2, Học
viện Chính trị quân sự hiện nay. Xác định những yếu tố tác động, phương
hướng, yêu cầu, đề xuất một số giải pháp cơ bản, cấp thiết để nâng cao
chất lượng NCKH cho học viên đào tạo chính trị viên tại Học viện Chính
trị quân sự.
Trong phần thực trạng đề tài đánh giá: “Nhận thức của một số lãnh
đạo, chỉ huy, cán bộ, giảng viên, học viên về vị trí tầm quan trọng và
nhiệm vụ, nội dung hoạt động khoa học của học viên có mặt chưa đầy
đủ...Chưa chủ động tổ chức các buổi bồi dưỡng năng lực và phương pháp
NCKH cho học viên ở đơn vị, nội dung bồi dưỡng chưa toàn diện và sâu
sắc, đối tượng bồi dưỡng còn dàn đều, hình thức, biện pháp bồi dưỡng
chưa phong phú…do đó năng lực NCKH của học viên còn nhiều hạn
chế...” [115, tr. 42].
Bài báo khoa học của tác giả Lê Văn Làm “Nâng cao chất lượng
nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo chính trị viên ở Học viện Chính
trị quân sự hiện nay”, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự [82]. Sau
khi khẳng định tính tất yếu phải nâng cao chất lượng NCKH của học viên
nói chung và học viên đào tạo chính trị viên nói riêng trong nhà trường quân
đội tác giả chỉ rõ: “Chất lượng công trình khoa học của học viên còn hạn
chế. Tình trạng trùng lặp đối tượng, phạm vi nghiên cứu và kết cấu lôgíc
đề tài vẫn là phổ biến. Nhiều đề tài, chuyên đề có nội dung sao chép của
các công trình đã công bố. Từ thực trạng ấy, việc quan tâm hơn nữa đến
nâng cao chất lượng NCKH của học viên là thực sự cần thiết để đáp ứng
17
được mô hình, mục tiêu, yêu cầu đào tạo chính trị viên hiện nay” [82, tr.
64].
phân tán, thiếu kết nối và trùng lặp về tiềm lực chuyên môn của các cơ
sở thuộc các bộ, ngành khác nhau, nhất là các chuyên ngành công nghệ
cao; thiếu các thể chế pháp lý để động viên, khuyến khích, tạo động lực
gắn kết trách nhiệm và các chế tài kèm theo, nhất là việc tháo gỡ các rào
cản về thủ tục hành chính trong NCKH... Những đánh giá chính xác và
các giải pháp cơ bản trong bài báo này là những thông tin cần thiết đề
nghiên cứu sinh vân dụng đưa vào phần phương hướng, yêu cầu bồi
dưỡng năng lực NCKH của học viên ĐTGV trong nhà trường quân đội
trong luận án của mình.
Bài báo khoa học “ Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học quân sự ở Học
viện Quốc phòng” [143], của tác giả Võ Tiến Trung, đăng trên Tạp chí
Quốc phòng toàn dân, số 10/2013, kh ẳng định tính tất yếu phải đẩy
mạnh NCKH nói chung, NCKH quân sự ở Học viện Quốc phòng nói riêng,
tác giả chỉ rõ: “Phải tiếp tục đẩy mạnh hoạt động NCKH, phát triển nghệ
thuật quân sự sát với thực tiễn... đẩy mạnh NCKH, phát triển nghệ thuật
quân sự là đòi hỏi khách quan cấp thiết cả trước mắt và lâu dài” [143, tr.
69].
Bài tham luận Hội thảo “Gắn đào tạo bậc đại học và nghiên cứu
khoa học tại bộ môn Cơ học Vật liệu rắn” [30], của PGS, TS Nguyễn Thái
Chung; bài “Những kết quả đạt được trong phong trào thi OLYMPIC, nghiên
cứu khoa học trong thời gian qua” [131], tham gia hội thảo ở Học viện Kỹ
thuật Quân sự của Hoàng Công Thông. Các tác giả đã tổng kết những thành
tích đạt được, những hạn chế chủ yếu trong phong trào thi OLYMPIC và
19
NCKH của học viên Học viện Kỹ thuật Quân sự 45 năm qua (1966 2011).
Những thông tin này rất quan trọng để nghiên cứu sinh kế thừa nghiên cứu
đưa và luận án của mình.
Các công trình khoa học, các bài báo, bài tham gia hội thảo liên quan
nghiệm quản lý, bồi dưỡng năng lực NCKH của giáo viên, sinh viên và cho rằng
việc đưa NCKH vào các trường đại học sẽ thúc đẩy sự phát triển khoa học,
công nghệ, đem lại sự tiến bộ vững chắc cho hoạt động GD ĐT và NCKH của
các trường đại học.
Sách “Bồi dưỡng năng lực công tác đảng, công tác chính trị của đội
ngũ chính trị viên ở các đơn vị huấn luyện chiến đấu trong Quân đội ta hiện
nay”, do TS Tô Xuân Sinh chủ biên [122], Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
xuất bản năm 2006. Tác giả đã làm rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm, đặc điểm
của đội ngũ chính trị viên với tư cách là người trực tiếp, chỉ đạo và tiến
hành công tác đảng, công tác chính trị ở các đơn vị huấn luyện chiến đấu
trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Bằng cơ sở lý luận và thực tiễn, tác
giả làm rõ: khái niệm, vai trò, tính tất yếu khách quan của hoạt động bồi
dưỡng năng lực công tác đảng, công tác chính trị của đội ngũ chính trị viên
ở các đơn vị huấn luyện chiến đấu trong quân đội; chỉ ra thực trạng năng
lực công tác đảng, công tác chính hiện nay của đội ngũ chính trị viên ở các
đơn vị làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu phải được tiến hành thường
xuyên, liên tục, tập trung vào khâu yếu, mặt yếu. Trên cơ sở xác định
đúng đắn phương hướng, yêu cầu, đề ra một số giải pháp cơ bản nâng
cao năng lực công tác đảng, công tác chính của đội ngũ chính trị viên ở các
đơn vị làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu trong tình hình hiện nay.
21
Trong cuốn sách “Bồi dưỡng năng lực thực hành công tác đảng, công
tác chính trị, của học viên đào tạo chính trị viên hiện nay” của tác giả
Nguyễn Chính Lý [92], đã đưa ra quan niệm về học viên đào tạo chính trị
viên, quan niệm; năng lực của học viên đào tạo chính trị viên; bồi dưỡng
năng lực thực hành CTĐ, CTCT của học viên. Tác giả đã tập trung làm rõ
cơ sở lý luận, thực tiễn của hoạt động bồi dưỡng năng lực thực hành công
tác đảng, công tác chính trị của học viên đào tạo chính trị viên, rút ra 5 kinh
Luận án “Bồi dưỡng năng lực công tác thanh niên của đội ngũ chính
trị viên ở các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu
Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay” của tác giả Đỗ Hoàng
Ngân [109]. Tác giả làm rõ về quan niệm, vai trò, tiêu chí đánh giá và những
vấn đề có tính nguyên, tắc bồi dưỡng năng lực công tác thanh niên của đội
ngũ chính trị viên ở các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng
chiến đấu thực trạng và những kinh nghiệm bồi dưỡng hoạt động này.
Trong đề tài“Bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học của giáo viên
khoa học xã hội nhân văn ở Học viện Chính trị quân sự hiện nay”, đề tài cấp
Học viện Chính trị do tác giả Phạm Xuân Mát làm chủ nhiệm, các tác giả đã xác
định cơ sở lý luận, thực tiễn bồi dưỡng năng lực NCKH của giáo viên khoa học
xã hội nhân văn. Đưa ra quan niệm chung về năng lực và năng lực NCKH, quan
niệm về bồi dưỡng năng lực NCKH của đội ngũ giáo viên KHXHNV và xác
định năm giải pháp cơ bản bồi dưỡng năng lực NCKH của giáo viên khoa học xã
hội nhân văn ở Học viện Chính trị quân sự hiện nay. Đề tài có ý nghĩa cả về lý
luận và thực tiễn, trực tiếp cung cấp những thông tin cần thiết cho luận án của
nghiên cứu sinh.