LUẬN văn THẠC sĩ bồi DƯỠNG NĂNG lực NGHIÊN cứu KHOA học CHO học VIÊN đào tạo GIẢNG VIÊN KHOA học xã hội NHÂN văn ở NHÀ TRƯỜNG QUÂN đội HIỆN NAY - Pdf 40

3

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, trước yêu cầu đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước đất nước, yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ
quốc, xây dựng quân đội và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo trong
nhà trường quân đội đòi hỏi phải coi trọng hoạt động NCKH.
Nghiên cứu khoa học ở nhà trường quân đội có vai trò quan trọng
góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn của đất nước, nghiên
cứu phát triển lý luận, xây dựng quân đội về chính trị, đấu tranh chống các
tư tưởng sai trái, thù địch, bảo vệ trận địa tư tưởng của Đảng, nâng cao chất
lượng giáo dục đào tạo, làm cơ sở nâng cao tri thức cho cán bộ, học viên,
khẳng định vị thế và uy tín của nhà trường quân đội.
Nghiên cứu khoa học là yêu cầu khách quan, là một trong hai nhiệm vụ chính
trị trọng tâm của các học viện, nhà trường, đối với tất cả các cấp học, bậc học. Bồi
dưỡng năng lực NCKH cho học viên nhằm vừa phục vụ trực tiếp cho học tập, vừa rèn
luyện phương pháp, kỹ năng nghiên cứu, nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực tư
duy, hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập, NCKH và hình thành các phẩm chất cần thiết
khác của cán bộ trong thời gian học tập tại trường, làm cơ sở cho học viên sau khi ra
trường có năng lực NCKH, gắn lý luận với thực tiễn, hoàn thành mọi nhiệm vụ được
giao.
Học viên viên đào tạo giảng viên KHXHNV trong nhà trường quân đội là
lực lượng có vị trí, vai trò quan trọng trực tiếp tác động đến chất lượng, hiệu quả
giáo dục đào tạo và NCKH ở nhà trường quân đội. Lực lượng này sau khi ra
trường sẽ trở thành các giảng viên, cán bộ khoa học của quân đội ở các học viện,
nhà trường, là người trực tiếp giảng dạy, NCKH, hướng dẫn học viên NCKH và
sẽ là lực lượng chủ yếu đi đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ sau này.


4

5

* Về xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ khoa học trong quân đội có các
công trình tiêu biểu như:
Đề tài khoa học cấp Bộ Quốc phòng: “Xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu
khoa học xã hội nhân văn trong quân đội hiện nay” do PGS, TS Vũ Quang Đạo
làm chủ nhiệm, nghiệm thu năm 2007; Đề tài nhánh trong Chương trình KX-HV
03 của Học viện Chính trị quân sự về: “ Xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên ở
Học viện Chính trị quân sự hiện nay” do TS Nguyễn Quang Phát làm chủ nhiệm,
nghiệm thu năm 2007; Đề tài cấp Học viện Chính trị quân sự: “Bồi dưỡng năng lực
giảng dạy của đội ngũ giảng viên trẻ khoa học xã hội nhân văn ở Học viện Chính
trị quân sự hiện nay” do TS, Nguyễn Xuân Trường làm chủ nhiệm, nghiệm thu
năm 2007; Đề tài cấp Đề tài cấp Học viện Chính trị quân sự: “Bồi dưỡng năng lực
nghiên cứu khoa học của giáo viên khoa học xã hội nhân văn ở Học viện Chính trị
quân sự hiện nay” do TS Phạm Xuân Mát làm chủ nhiệm, nghiệm thu năm 2008.
Các công trình khoa học trên đã nghiên cứu làm sáng tỏ những nội
dung cơ bản liên quan đến hoạt động giáo dục, đào tạo, vai trò của NCKH,
xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ khoa học KHXHNV, mối quan hệ
giữa giáo dục, đào tạo và NCKH...Từ đó đặt ra những yêu cầu trong công
tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý hoạt động giáo dục, đào tạo, NCKH ở nhà
trường quân đội trong giai đoạn hiện nay. Đề xuất một số giải pháp cơ bản
xây dựng đội ngũ giảng viên KHXHNV, bồi dưỡng kiến thức, tư duy khoa
học, kỹ năng NCKH cho đội ngũ giảng viên KHXHNV ở các nhà trường
quân đội trong giai đoạn hiện nay.
Tuy nhiên trong các công trình trên chưa có công trình nào đề cập
đến hoạt động NCKH, bồi dưỡng năng lực NCKH cho học viên, nhất là học
viên đào tạo giảng viên KHXHNV trong nhà trường quân đội.
Một số luận văn tiêu biểu như: Võ Bá Dương (2003), “Xây dựng đội
ngũ giảng viên ở Trường sĩ quan Chỉ huy kỹ thuật thông tin hiện nay ”, luận




7

Nội, 2009. Đã làm rõ đặc điểm của hoạt động NCKH, mối quan hệ chặt chẽ
giữa hoạt động giáo dục đào tạo cán bộ chính trị với giảng viên KHXHNV.
Đi sâu nghiên cứu lĩnh vực khoa học quân sự và nghiên cứu các vấn đề lý
luận cơ bản trong lĩnh vực KHXHNV, nâng cao chất lượng giáo dục đào
tạo. Các tác giả đều khẳng định hoạt động khoa học ở HVCT quân sự là
một bộ phận đặc thù của hoạt động KHXHNV gắn liền với công tác tư
tưởng, lý luận của quân đội.
* Về bồi dưỡng năng lực, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa
học cho học viên
Đề tài khoa học cấp hệ Sau đại học: “Nâng cao chất lượng nghiên cứu
khoa học của học viên Hệ Đào tạo sau đại học ở học viện chính trị quân sự
hiện nay” do Thạc sĩ Dương Quang Bích làm chủ nhiệm, nghiệm thu năm 2004;
Đề tài cấp khoa: “Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học cho học viên đào tạo
cán bộ chính trị cấp phân đội ở Học viện Chính trị quân sự hiện nay” do Thạc sĩ
Nguyễn Văn Phúc làm chủ nhiệm, nghiệm thu năm 2009. Các đề tài đã đề cập
đến một số vấn đề lý luận, thực tiễn, đưa ra khái niệm về nâng cao chất
lượng NCKH của học viên đào tạo sau đại học và học viên đào tạo chính trị
viên ở HVCT, rút ra những kinh nghiệm, đề xuất những giải pháp cơ bản
nhằm nâng cao chất lượng NCKH cho học viên. Tuy nhiên, cho tới nay
chưa có công trình nào nghiên cứu về bồi dưỡng năng lực NCKH cho học
viên đào tạo giảng viên KHXHNV một cách hệ thống dưới góc độ khoa
học xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam.
Luận văn của tác giả Nguyễn Văn Lan (2004), "Phát triển năng lực
nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan
Lục quân II hiện nay" luận văn thạc sĩ Triết học, bảo vệ tại Học viện
Chính trị quân sự đã phân tích làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn vấn đề phát triển

nội dung, yêu cầu và giải pháp xây nâng cao chất lượng NCKH của học viên đào
tạo chính uỷ, chính trị viên ở HVCT và TSQCT. Đi sâu nghiên cứu lĩnh vực


9

khoa học quân sự và nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản trong lĩnh vực
KHXHNV, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các tác giả đều khẳng định
hoạt động khoa học ở HVCT và TSQCT là hoạt động có vị trí, vai trò quân trọng
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, NCKH ở nhà trường quân đội.
Như vậy, vấn đề nâng cao chất lượng NCKH, bồi dưỡng năng lực NCKH
trong nhà trường quân đội, của đội ngũ giảng viên, học viên đào tạo Chính trị viên, sĩ
quan chỉ huy cấp phân đội, học viên đào tạo sau đại học được đầu tư nghiên cứu và
đạt được những kết quả quan trọng, có những đóng góp về khoa học. Tuy nhiên, cho
đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu
về bồi dưỡng năng lực NCKH cho học viên đào tạo giảng viên KHXHNV ở nhà
trường quân đội dưới góc độ khoa học Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy,
luận văn không trùng lặp với các công trình đã được công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Mục đích: Làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn năng
lực NCKH và bồi dưỡng năng lực NCKH cho học viên trên cơ sở đó đề xuất
những giải pháp cơ bản bồi dưỡng năng lực NCKH cho học viên đào tạo
giảng viên KHXHNV ở nhà trường quân đội hiện nay.
* Nhiệm vụ: Luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về năng lực NCKH
và bồi dưỡng năng lực NCKH cho học viên đào tạo giảng viên KHXHNV ở
nhà trường quân đội. Đánh giá đúng thực trạng bồi dưỡng năng lực NCKH
choG8 học viên đào tạo giảng viên KHXHNV ở nhà trường quân đội. Đề xuất
những giải pháp cơ bản bồi dưỡng năng lực NCKH cho học viên đào tạo giảng
viên KHXHNV ở nhà trường quân đội hiện nay.
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: bồi dưỡng năng lực NCKH cho

cơ bản sau:
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết


11

Phân tích, tổng hợp, khái quát hoá và hệ thống hoá các nguồn tài liệu

liên quan đến lĩnh vực bồi dưỡng năng lực NCKH cho học viên đào tạo
giảng viên KHXHNV ở nhà trường quân đội hiện nay , nhằm khai thác có
hiệu quả các thông tin cần thiết, cập nhật và hướng nghiên cứu mới để xây
dựng cơ sở lý luận, thực tiễn của đề tài. Sử dụng phương pháp lôgic-lịch
sử, so sánh, tổng kết thực tiễn nhằm đánh giá một cách toàn diện, hệ
thống quá trình bồi dưỡng năng lực NCKH cho học viên đào tạo giảng
viên KHXHNV trong những năm qua, rút ra những vấn đề có tính nguyên
tắc, những yêu cầu, những kinh nghiệm và những định hướng trong bồi
dưỡng năng lực NCKH cho học viên đào tạo giảng viên KHXHNV trong
những năm tới.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát thực tiễn: Thông qua hoạt động giảng dạy, NCKH,
quan sát, theo dõi hoạt động bồi dưỡng năng lực NCKH cho học viên đào tạo
giảng viên KHXHNV, kết quả NCKH, chất lượng các sản phẩm NCKH của học
viên ở HVCT và TSQCT bằng nhiều hình thức, thời điểm khác nhau.
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Tiến hành khảo sát bằng 200
mẫu phiếu in sẵn, với 100 học viên, 100 giảng viên và cán bộ quản lý học
viên ở HVCT và TSQCT. Nội dung tìm hiểu thực trạng năng lực NCKH và
hoạt động bồi dưỡng năng lực NCKH cho học viên đào tạo giảng viên
KHXHNV.
Phương pháp toạ đàm: Tiến hành trao đổi với một số giảng viên
KHXHNV trực tiếp giảng dạy cho học viên, cán bộ quản lý học viên và một số


13

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN BỒI DƯỠNG NĂNG
LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO
GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN Ở NHÀ TRƯỜNG
QUÂN ĐỘI
1.1. Năng lực nghiên cứu khoa học và bồi dưỡng năng lực nghiên
cứu khoa học cho học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội nhân văn ở
nhà trường quân đội
1.1.1. Học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội nhân văn và
hoạt động nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo giảng viên khoa học
xã hội nhân văn ở nhà trường quân đội
* Quan niệm về học viên đào tạo giảng viên KHXHNV
Học viên, sinh viên là danh từ chỉ những người đang học trong các nhà
trường quân sự và dân sự. Sinh viên là danh từ sử dụng rộng rãi chỉ những người
đang học ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp dạy nghề... còn học viên là danh
từ chỉ đối tượng người học trong nhà trường quân đội ở tất cả các cấp học, bậc học
đang học tập, rèn luyện, NCKH theo mô hình, mục tiêu đào tạo của quân đội. Với
phương pháp tiếp cận này có thể quan niệm: học viên đào tạo giảng viên KHXHNV
ở nhà trường quân đội là: những sĩ quan, hạ sỹ quan, được tuyển chọn chặt chẽ về
lai lịch chính trị, phẩm chất, năng lực, xu hướng nghề nghiệp, năng khiếu sư phạm;
đã trúng tuyển qua các kì thi, đang được đào tạo tại các nhà trường quân đội theo
mô hình, mục tiêu đào tạo người giảng viên KHXHNV, sau khi ra trường đáp ứng
yêu cầu của người giảng viên KHXHNV ở nhà trường quân đội.
Đối tượng học viên đào tạo giảng viên KHXHNV ở nhà trường quân
đội hiện nay gồm đào tạo giảng viên cấp phân đội và giảng viên cấp trung
đoàn. Học viên đào tạo giảng viên KHXHNV cấp phân đội là những hạ sĩ
quan, chiến sĩ là học viên đã học hết năm thứ nhất chương trình đào tạo chính



15

Như vậy, chất lượng đầu vào của học viên đào tạo giảng viên KHXHNV
cấp trung đoàn và cấp phân đội có chênh lệch khá lớn về tuổi quân, tuổi đời, trình
độ học vấn, năng lực sư phạm, năng lực NCKH, kinh nghiệm cuộc sống, hoạt động
quân sự, nhất là kinh nghiệm nghề nghiệp giảng viên KHXHNV. Điều đó sẽ tác
động trực tiếp đến kết quả học tập, NCKH của học viên trong thời gian học tập tại
trường. Vì vậy, trong thời gian học tập tại trường, học viên đào tạo giảng viên
KHXHNV sẽ được nhà trường quân đội được trang bị hệ thống kiến thức rất cơ
bản, toàn diện, gồm các môn lý luận cơ bản, các môn cơ sở và chuyên ngành, các
môn quân sự, ngoại ngữ, tin học... truyền thụ những kinh nghiệm nghề nghiệp sư
phạm quân sự, bồi dưỡng, nâng cao trình độ sư phạm, năng lực NCKH... đủ sức
hoàn thành nhiệm vụ người giảng viên KHXHNV sau khi ra trường.
Trong thời gian học tập tại trường, học viên đào tạo giảng viên
KHXHNV được giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện về phẩm chất chính trị, phẩm
chất đạo đức cách mạng, phẩm chất tâm lý, phẩm chất nghề nghiệp sư phạm
quân sự, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống phẩm chất nhân cách nhà giáo,
cán bộ, sĩ quan quân đội... thực sự chuẩn mực, làm tấm gương cho học viên
noi theo sau khi ra trường.
Với cương vị là học viên đào tạo giảng viên KHXHNV, dù là học viên
đào tạo giảng viên cấp phân đội hay cấp trung đoàn đều phải thực hiện tốt chức
trách, nhiệm vụ của người quân nhân, người học viên, trong đó nhiệm vụ chính
trị trung tâm là học tập và NCKH. Đây là một đặc điểm về nhiệm vụ của học
viên đào tạo giảng viên KHXHN. Bởi vì, hoạt động giảng dạy và NCKH là
nhiệm vụ song hành trong hoạt động nghề nghiệp của người giảng viên
KHXHNV, hoạt động NCKH trước hết phục vụ cho công tác giảng dạy, nâng
cao chất lượng bài giảng, biên soạn giáo khoa, giáo trình, tài liệu học tập,
hướng dẫn học viên NCKH, xây dựng luận văn tốt nghiệp... thực hiện nhiệm

được tích luỹ thêm kinh nghiệm thực tiễn NCKH trong quá trình hoạt động. Vì


17

vậy, học viên đào tạo giảng viên KHXHNV cấp trung đoàn có năng lực NCKH
cao hơn học viên đào tạo giảng viên KHXHNV cấp phân đội.
Tham gia NCKH của học viên đào tạo đào tạo giảng viên KHXHNV
là một nhiệm vụ đồng thời là phong trào thi đua sôi nổi của học viên, đây là
nét đặc thù hoạt động NCKH ở các nhà trường quân đội. Thực tiễn cho thấy
nếu kết hợp tốt giữa nhiệm vụ với phong trào bằng các hình thức tổ chức phù
hợp, xây dựng thái độ, trách nhiệm, động cơ NCKH của học viên sẽ tác động
tích cực đến chất lượng NCKH của học viên, góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục đào tạo, tạo ra khí thế thi đua sôi nổi, thường xuyên ở đơn vị.
Tuy nhiên, NCKH là hoạt động sáng tạo, khám phá chân lý khoa học,
vì thế NCKH đối với học viên đào tạo giảng viên KHXHNV vẫn là vấn đề mới
và khó, nhất là đối học viên đào tạo giảng viên KHXHNV cấp phân đội. Bởi lẽ,
hoạt động NCKH phải có điều kiện và môi trường, năng lực NCKH phải được
trải nghiệm củng cố và phát triển trong thực tiễn hoạt động khoa học. Vì thế,
khi về trường đào tạo giảng viên KHXHNV, mặc dù đã được trang bị một
lượng kiến thức lý luận cơ bản, nhưng chưa đạt đến độ sâu sắc, hơn nữa kinh
nghiệm thực tế, sự trải nghiệm trong cuộc sống xã hội và hoạt động quân sự
chưa nhiều, nhất là chưa tiếp xúc nhiều với hoạt động NCKH, chưa có kinh
nghiệm trong NCKH. Vì vậy, trong quá trình tổ chức bồi dưỡng năng lực
NCKH cho học viên đào tạo giảng viên KHXHNV cần tính đến đặc điểm này.
* Đặc điểm hoạt động NCKH của học viên đào tạo giảng viên
KHXHNV ở nhà trường quân đội
Thứ nhất, luôn gắn liền với thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện và các
nhiệm vụ khác được giao
Trong quá trình đào tạo ở nhà trường quân đội, nhiệm vụ, nội dung và

trị, cơ quan quản lý giáo dục đào tạo, Phòng Khoa học, công nghệ và môi
trường, đặc biệt luôn được đội ngũ giảng viên ở các khoa KHXHNV, cán bộ
khoa học trong nhà trường định hướng, giúp học viên thực hành nhiệm vụ
NCKH. Đội ngũ cán bộ quản lý ở các đơn vị có kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ


19

đạo, tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch NCKH cho học viên, thường xuyên
phối hợp với phòng khoa học công nghệ môi trường và các khoa giáo viên để
hợp đồng với cán bộ, giảng viên hướng dẫn khoa học cho học viên.
Thứ ba, điều kiện cơ sơ vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho NCKH
được nâng lên đáng kể, ngày càng hiện đại
Hiện nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học và
công nghệ, được sự đầu tư của Nhà nước, Bộ Quốc phòng, cơ sở vật
chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho giáo dục đào tạo và NCKH ở
nhà trường quân đội được nâng lên và ngày càng hiện đại, góp phần quan
trọng trong việc cung cấp thông tin, khai thác các nguồn tư liệu, tài liệu
tham khảo đa dạng, phong phú và cập nhật, trong việc trao đổi thông tin
khoa học, rút ngắn thời gian nghiên cứu, trong việc xã hội hoá và ứng
dụng kết quả NCKH một cách nhanh chóng, hiệu quả. Hiên nay, với sự
phát triển của máy vi tính, thư viện điện tử, mạng thông tin nội bộ
(LAN), mạng thông tin khoa học quân sự của Bộ Quốc phòng
(MISTEN), Internet...tạo điều kiện rất thuận lợi cho hoạt động NCKH
cho học viên đào tạo giảng viên KHXHNV.
Đồng thời, trong điều kiện kinh tế thi trường, các ấn phẩm khoa học
nói chung, KHXHNV nói riêng được phát hành rộng rãi với sự đa dạng,
phong phú về thể loại, cả trong nước và ngoài, cho phép học viên có thể
tiếp cận rất nhanh chóng các kết quả nghiên cứu mới nhất để có thể tiếp
thu, vận dụng trong quá trình NCKH của mình.

khoa học xã hội nhân văn ở nhà trường quân đội
* Quan niệm năng lực NCKH của học viên đào tạo giảng viên
KHXHNV
- Quan niệm chung về năng lực và năng lực nghiên cứu khoa học
Năng lực theo Đại từ điển Tiếng Việt định nghĩa: là “ Khả năng, điều
kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó”, “ Là


21

phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người hoàn thành một hoạt động nào
đó với chất lượng cao.” [40, tr.639].
Bàn về năng lực lao động của con người, C. Mác viết: "Chúng tôi
hiểu sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất
và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống và được
người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào
đó"[27, tr.251]. Tư tưởng trên của C. Mác là cơ sở phương pháp luận cho
việc nhận thức đúng đắn về bản chất của năng lực và năng lực nghiên cứu
khoa học của mỗi con người.
Các quan niệm trên tuy góc độ tiếp cận có khác nhau, phụ thuộc vào phạm
vi, chức năng của từng bộ môn khoa học, nhưng đều thống nhất cho rằng: Năng
lực là tổng hợp những tính chất hay phẩm chất cá nhân phù hợp với những yêu
cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, là điều kiện đảm bảo hoàn thành
hoạt động đó nhanh chóng thành thạo và đạt kết quả cao.
Theo hướng tiếp cận trên có thể quan niệm: Năng lực là tổng hoà các yếu tố
tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng hoạt động, là điều kiện nội tại, căn bản trong mỗi con
người đảm bảo cho con người hoạt động thực tiễn với chất lượng, hiệu quả cao.
Năng lực bao giờ cũng gắn với con người và hoạt động của con người;
là trình độ thực tế, là khả năng của con người, hoặc một tập thể người trong
hoạt động. Kết quả hoạt động thực tiễn của cá nhân hay tập thể là cơ sở đánh

năng lực sư phạm và các năng lực khác. Năng lực NCKH của học viên được
quy định bởi mô hình, mục tiêu đào tạo, chức trách, nhiệm vụ của người học,
thời gian đào tạo tại trường, điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động
khoa học. Như vậy, năng lực NCKH của học viên đào tạo giảng viên
KHXHNV được giới hạn khi họ đang học tập tại trường, theo đó yêu cầu về
năng lực NCKH phải phù hợp với đặc điểm, trình độ của đối tượng và yêu
cầu nhiệm vụ giáo dục đào tạo theo mô hình, mục tiêu đã xác định.


23

Vì vậy, có thể quan niệm: Năng lực NCKH của học viên đào tạo
giảng viên KHXHNV ở nhà trường quân đội là tổng hợp các yếu tố tri
thức, năng lực tư duy khoa học, kỹ năng nghiên cứu, phản ánh trình độ,
khả năng thực tế trong hoạt động NCKH, gắn với cương vị, chức trách,
nhiệm vụ trong thời gian học tập tại trường.
Như vậy, năng lực NCKH của học viên đào tạo giảng viên
KHXHNV ở nhà trường quân đội là sản phẩm tổng hợp, sự kết tinh của
cả tri thức (bao gồm cả tri thức lý luận và tri thức kinh nghiệm), tư duy
khoa học được rèn luyện hình thành những kỹ năng NCKH đảm bảo cho
học viên có đủ trình độ, khả năng thực tế tham gia vào các hình thức
hoạt động NCKH, hoàn thành nhiệm vụ NCKH của học viên, của đơn vị
giao cho. Sau khi ra trường, năng lực NCKH của học viên sẽ được được
bổ sung, hoàn thiện và phát triển gắn với cương vị người giảng viên
KHXHNV, người cán bộ KHXHNV trong quân đội.
* Những yếu tố cấu thành năng lực NCKH của học viên đào tạo
giảng viên KHXHNV
Một là, tri thức. Tri thức là cơ sở, nền tảng của năng lực, dựa trên
kho tàng tri thức của nhân loại mà loài người có năng lực để nhận thức và
cải tạo thế giới, phục vụ cho lợi ích của con người. Khẳng định vai trò của

sinh những sáng kiến và khởi nguồn của sự sáng tạo.
Hai là, năng lực tư duy khoa học
Năng lực tư duy khoa học là quá trình phản ánh hiện thực một cách gián
tiếp, khái quát, ở đó con người sử dụng ngôn ngữ và các hình thức thao tác tư
duy để phân tích, tổng hợp, xử lí các tài liệu do nhận thức cảm tính đem lại.
Tư duy khoa học hướng tới sự nhận thức bản chất, các quy luật vận động phát
triển của sự vật, hiện tượng và tìm tòi khám phá tri thức.


25

Trong hoạt động NCKH, yêu cầu về tư duy khoa học đòi hỏi học viên
phải am hiểu quy luật phát triển của tư duy và sử dụng thành thạo phương pháp
thao tác tư duy để biến những nhận thức cảm tính thành tri thức lý luận, từng
bước tiếp cận chân lí, khắc phục những nhận thức lệch lạc; không ngừng phát
triển tư duy sáng tạo trong NCKH.
Năng lực tư duy khoa học ảnh hưởng quyết định đến năng lực NCKH của
người học viên đào tạo giảng viên KHXHNV. Nó giúp cho người học viên sử
dụng có hiệu quả kho tàng tri thức, sớm hình thành kỹ năng NCKH. Năng lực
tư duy khoa học được hình thành, phát triển trong quá trình học tập, bồi
dưỡng tại trường, quá trình trực tiếp tham gia vào hoạt động NCKH và sau
khi ra trường tiếp tục được củng cố, phát triển.
Ba là, kỹ năng nghiên cứu khoa học
Là khả năng vận dụng thành thạo những kiến thức, kinh nghiệm đã
được tích luỹ để tổ chức tiến hành có hiệu quả các hoạt động NCKH trong
thực tiễn, nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ NCKH. Đây là một trong những yếu
tố quan trọng cấu thành năng lực NCKH và quyết định chất lượng hiệu quả
NCKH của học viên.
Kỹ năng phát hiện vấn đề nghiên cứu là yếu tố hết sức quan trọng cấu
thành năng lực NCKH của học viên đào tạo giảng viên KHXHVNV ở các nhà

đây giúp những người cùng lĩnh vực chuyên môn tham khảo, đồng thời có
thể lấy những kết quả đó vào vận dụng trong hoạt động thực tiễn, tránh sự
trùng lặp một vấn đề tối kị trong hoạt động NCKH.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin: “ Thực tiễn là cơ sở của nhận
thức, là động lực của nhận thức, là mục đích của nhận thức, là tiêu chuẩn để
kiểm tra chân lý” [4, tr.264]. Một công trình khoa học chỉ có giá trị khi được áp
dụng vào để cải tạo hiện thực, được thực tiễn kiểm nghiệm và đánh giá... Thực tế
các đề tài, chuyên đề mà học viên đào tạo giảng viên KHXHVNV lựa chọn
nghiên cứu là những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn cuộc sống ở từng đơn vị, nội
dung đề cập tới các mặt hoạt động nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo rèn


27

luyện học viên và các mảng hoạt động CTĐ,CTCT ở đơn vị. Do đó, sau khi
nghiệm thu các đơn vị trong nhà trường quân đội đưa vào ứng dụng một cách
chặt chẽ, nghiêm túc sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo bồi
dưỡng tay nghề hoạt động CTĐ,CTCT cho học viên ở các nhà trường quân đội.
Như vậy, cấu thành năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo
giảng viên KHXHVNV bao gồm tổng hợp nhiều thành tố, trong đó những thành
tố cơ bản là tri thức tổng hợp; năng lực tư duy khoa học và kỹ năng trong thực
hành nghiên cứu.
1.1.3. Những vấn đề cơ bản về bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học
cho học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội nhân văn ở nhà trường quân đội
hiện nay
* Quan niệm về bồi dưỡng năng lực NCKH cho học viên đào tạo
giảng viên KHXHNV
Bồi dưỡng năng lực NCKH cho học viên đào tạo giảng viên KHXHNV là
yêu cầu khách quan trong quá trình đào tạo ở các nhà trường quân đội. Là hoạt
động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của các chủ thể hoạt động, nhằm nâng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status