ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Vũ Mai Phương
TỔNG HỢP VẬT LIỆU HẤP PHỤ CÓ TỪ TÍNH VÀ KHẢO SÁT
KHẢ NĂNG TÁCH LOẠI PHẨM MÀU AZO TRONG MÔI TRƯỜNG
NƯỚC
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Hóa Môi Trường
Mã số: 60440120
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS. CHU XUÂN QUANG
2. PGS.TS. ĐỖ QUANG TRUNG
Hà Nội – 2015
Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN.
Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. Chu Xuân Quang
2. PGS.TS. Đỗ Quang Trung
Phản biện 1: TS Phương Thảo
Phản biện 2: PGS.TS Đỗ Khắc Uẩn
Gần đây, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra tính độc hại và nguy hiểm của hợp
chất họ azo đối với môi trường sinh thái và con người, đặc biệt là loại thuốc
nhuộm này có thể gây ung thư cho người sử dụng sản phẩm [19,30].
Với mục đích hiểu rõ hơn về đặc điểm quá trình xử lý các hợp chất hữu cơ
độc hại, đặc biệt là hợp chất tạo màu họ azo bằng vật liệu hấp phụ có từ tính,
qua đó xác định được điều kiện thích hợp để xử lý nước thải dệt nhuộm thực tế
nên đề tài luận văn “Tổng hợp vật liệu hấp phụ có từ tính và khảo sát khả năng tách
loại phẩm màu azo trong môi trường nước ” đã được thực hiện.
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Chitosan
1.1.1. Khái quát về chitosan
Chitosan là polyme không độc, có khả năng phân huỷ sinh học và có tính tương
thích về mặt sinh học. Trong nhiều năm qua, các polyme có nguồn gốc từ chitin đặc
biệt là chitosan đã được chú ý đặc biệt như là một loại vật liệu mới có ứng dụng
đặ biệt trong công nghiệp dược, y học, xử lý nước thải và trong công nghiệp thực
phẩm như là tác nhân kết hợp, gel hoá, hay tác nhân ổn định ...
Trong các loài thuỷ sản đặc biệt là trong vỏ tôm, cua, ghẹ, hàm lượng chitin –
chitosan chiếm khá cao dao động từ 1435% so với trọng lượng khô. Vì vậy vỏ tôm,
cua, ghẹ là nguồn nguyên liệu chính để sản xuất chitin – chitosan.
Hình 1.1: Công thức cấu tạo chitin, chitosan và xenlulozo
Chitosan và các dẫn xuất của nó có hoạt tính kháng nấm, kháng khuẩn, có khả
năng tự phân hủy sinh học cao, không gây dị ứng. Không gây độc hại cho người và
gia súc, có khả năng tạo phức với một số kim loại chuyển tiếp như Co(II), Ni(II),
Cu(II)... do vậy chúng được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: xử lý
nước thải và bảo vệ môi trường, dược học và y học, nông nghiệp, công nghiệp,
vật tự nhiên có khả năng định hướng theo phương Bắc Nam địa lý. Đến thế kỷ
XII, họ đã sử dụng vật liệu Fe3O4 là la bàn, một công cụ giúp xác định phương
hướng rất có ích. Trong tự nhiên, oxit sắt từ không những được tìm thấy trong
khoáng vật mà nó còn được tìm thấy trong cơ thể các sinh vật như ong, kiến, bồ
câu…Chính sự có mặt của Fe3O4 trong cơ thể những sinh vật đã tạo nên khả năng
xác định phương hướng mang tính bẩm sinh của chúng.
6
Trong phân loại vật liệu từ Fe3O4 được xếp vào nhóm vật liệu ferit có công
thức tổng quát MO. Fe3O4 có cấu trúc spinel (M là kim loại hóa trị II như : Fe, Ni,
Co, Mn, Mg hoặc Cu)
Hinh Hình 1.2 : Cấu trúc spinel của Fe3O4
Mỗi phân tử Fe3O4 có momen từ tổng cộng là 4µβ ( µβ là magneton bohr nguyên
tử, µβ = 9,274.1024 J/T trong hệ SI)
1.2.2. Tính chất
Một vài oxit sắt có chung cấu trúc tinh thể với các tương đồng khoáng chất
khác nhau. VD: gocthie có cấu trúc giống với diaspore ( αALOOH), quặng sắt từ
giống với spinel (MgAl2O3). Các cấu trúc của oxit sắt được xác định bởi sự sắp xếp
của các ion oxy hay hydroxide. Các ion dương chiếm các vị trí so le đối với lớp các
ion âm.
Bất cứ vật liệu nào đều có sự ảnh hưởng với từ trường ngoài (H), thể hiện
bằng độ từ hóa ( từ độ M). Tỷ số C = M/N được gọi là độ cảm từ. Tùy thuộc vào
giá trị, độ cảm từ có thể phân ra làm các loại vật liệu từ khác nhau. Vật liệu có C 0 (~106) được gọi là vật
liệu thuận từ. Vật liệu có C > 0 với giá trị rất lớn có thể là vật liệu sắt từ, ferit từ.
Ngoài độ cảm từ, một số thông số khác cũng rất quan trọng trong việc xác
định tính chất của vật liệu. VD: từ độ bão hòa Ms ( từ độ đạt cực đại tại từ trường
quá trình giặt sau mỗi công đoạn. Nhu cầu sử dụng nước trong nhà máy dệt nhuộm
rất lớn và thay đổi tùy theo mặt hàng khác nhau. Theo phân tích của các chuyên gia,
lượng nước được sử dụng trong các công đoạn sản xuất chiếm 72,3%, chủ yếu là
từ các công đoạn nhuộm và hoàn tất sản phẩm. Người ta có thể tính sơ lược nhu
cầu sử dụng nước cho 1 mét vải nằm trong phạm vi từ 12 65 lít và thải ra 10 40 lít
nước [7,8].
8
Đối với con người, thuốc nhuộm có thể gây ra các bệnh về da, đường hô
hấp, đường tiêu hóa. Ngoài ra, một số thuốc nhuộm hoặc chất chuyển hóa của
chúng rất độc hại có thể gây ung thư (như thuốc nhuộm Benzidin, 4 – amino – azo –
benzen). Các nhà sản xuất Châu Âu đã cho ngừng sản xuất các loại thuốc nhuộm
này nhưng trên thực tế chúng vẫn được tìm thấy trên thị trường do giá thành rẻ và
hiệu quả nhuộm màu cao .
1.4.2. Các loại thuốc nhuộm thông thường
Thuốc nhuộm là các hợp chất mang màu dạng hữu cơ hoặc dạng phức của
các kim loại như Cu, Co, Ni, Cr…Tuy nhiên, hiện nay dạng phức kim loại không
còn sử dụng nhiều do nước thải sau khi nhuộm chứa hàm lượng lớn các kim
loại nặng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Thuốc nhuộm dạng hữu cơ
mang màu hiện rất phổ biến trên thị trường.
1.4.3. Một số phương pháp xử lí nước thải dệt nhuộm
1.4.3.1. Phương pháp keo tụ
Đây là phương pháp thông dụng để xử lý nước thải dệt nhuộm. Nước thải
dệt nhuộm có tính chất như một dung dịch keo với các tiểu phân có kích thước hạt
107 – 105 cm, các tiểu phân này có thể đi qua giấy lọc.
Quá trình lắng chỉ có thể tách được các hạt rắn huyền phù nhưng không thể
tách được các chất gây ô nhiễm bẩn ở dạng keo và hòa tan, vì những hạt rắn có kích
thước quá nhỏ.Để tách các hạt rắn đó một cách có hiệu quả, cần chuyển các tiểu
phân nhỏ thành các tập hợp lớn hơn.Việc khử các hạt keo đòi hỏi trước hết cần
lượng.
Quy trình xử lý đơn giản, công nghệ xử lý không đòi hỏi thiết bị phức tạp.
Vật liệu hấp phụ có độ bền khá cao, có khả năng tái sử dụng nhiều lần nên
chi phí thấp nhưng hiệu quả xử lý cao.
Vật liệu ứng dụng trong phương pháp hấp phụ rất đa dạng : than hoạt tính,
zeolite, composit, đất sét, silicagel... Với mỗi loại vật liệu có đặc điểm và tính chọn
lọc riêng phù hợp với từng mục đích nghiên cứu và sử dụng thực tiễn.
1.5. Khái niệm chung về hợp chất màu azo
1.5.1. Đặc điểm cấu tạo
Hợp chất azo là những hợp chất màu tổng hợp có chứa nhóm azo N= N.
Hầu hết các loại hợp chất màu azo chỉ chứa một nhóm azo (gọi là monoazo), một
số ít chứa hai nhóm hoặc nhiều hơn. Hợp chất azo thường có chứa một vòng
10
thơm liên kết với nhóm azo và nối với một naphtalen hay vòng benzen thứ hai.
Sự khác nhau giữa các hợp chất azo chủ yếu ở vòng thơm, các nhóm quanh liên
kết azo giúp ổn định nhóm –N = N – bởi chính những nhóm này tạo nên một hệ
thống chuyển động, là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới màu sắc của hợp chất
azo. Khi hệ thống chuyển vị và phân chia sẽ xảy ra hiện tượng hấp thụ thường
xuyên ánh sáng ở vùng khả kiến [12,13].
1.5.2. Tính chất
Hợp chất màu azo bền hơn tất cả các phẩm màu thực phẩm tự nhiên. Đặc
biệt, phẩm màu azo bền trong phạm vi pH khá rộng của thực phẩm, bền với nhiệt
khi phơi dưới ánh sáng và oxy, rất khó bị phân hủy bởi các vi sinh vật. Chính vì
vậy, các hợp chất màu azo được ứng dụng phổ biến trong nhiều ngành công
nghiệp (thực phẩm, in, nhuộm...) [2,21].
CHƯƠNG 2 – THỰC NGHIỆM
2.1. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
Cân phân tích HR200 – SHIMMADZU
Bộ máy khuấy Jar tester
Tủ sấy MENMERT Đức
Máy khuấy từ MSH 20 D/MS – MP4
Máy hút chân không LAB LABOPORT
2.3. Phương pháp phân tích trắc quang xác định nồng độ phẩm màu trong
dung dịch
Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu, xác định hàm lượng phẩm màu còn lại
sau quá trình hấp phụ của chitosan, Fe3O4 và các vật liệu chúng tôi khảo sát lại khả
năng hấp thụ ánh sáng của 2 loại phẩm màu (Methyl đỏ, Alizarin vàng G) ở các pH
khác nhau.
Chuẩn bị các dung dịch phẩm màu (Methyl đỏ, Alizarin vàng G) có nồng độ 5
mg/l trong các pH khác nhau(2, 4, 6, 8, 10). Khảo sát độ hấp thụ ánh sáng trong
khoảng bước sóng từ 200 – 800 nm. Tìm khoảng bước sóng tối đa và ổn định, khảo
sát tiếp với khoảng cách 2nm để tìm bước sóng tối ưu. Các kết quả được thể hiện
trên hình 2.1, 2.2 :
Hình Hình 2.1. Đồ thị sự phụ thuộc độ hấp thụ quang Methyl đỏ vào pH
Hình Hình 2.2. Đồ thị sự phụ thuộc độ hấp thụ quang Alizarin vàng G vào pH
12
Từ các số liệu biểu diễn trên đồ thị cho thấy độ hấp thụ quang của các
phẩm màu ổn định và đạt cực đại tại : bước sóng 524 nm tại pH của dung dịch là 4
đối với Methyl đỏ, bước sóng 352 nm tại pH của dung dịch là 7 đối với Alizarin
vàng G. Trên cơ sở này chúng tôi xây dựng đường chuẩn đối với từng phẩm màu.
Kết quả được thể hiện trên bảng 2.1, 2.2 và hình 2.3, 2.4.
Bảng Bảng 2.1 Số liệu xây dựng đường chuẩn xác định nồng độ Methyl đỏ
C (mg/L)
Abs
Abs
10
0,065
20
0,14
30
0,192
40
0,256
60
0,383
80
0,490
Hình 2.4 Đường chuẩn xác định nồng độ alizarin vàng G
13
100
0,637
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Các đặc trưng cơ bản của vật liệu
Từ kết quả chụp phổ IR cho thấy, ta đã tổ hợp được vật liệu chitosan/ oxit sắt
từ.
3.1.3. Kết quả phân tích nhiễu xạ tia X
Hình 3.3: Giản đồ nhiễu xạ tia X của vật liệu a. Chitosan; b. Fe3O4; c. FMMC11;
d. FMMC21; e. FMMC31
Từ giản đồ trên, ta thấy vật liệu chitosan tồn tại dưới dạng vô định hình.
Các vật liệu còn lại tồn tại dưới dạng tinh thể, có thành phần phần trăm Fe3O4 lần
lượt là 90%; 65%; 68% và 70%.
3.1.4. Xác định đường cong từ hóa và từ độ bão hòa
Các mẫu vật liệu Fe3O4, FMMC11, FMMC21 và FMMC31 đã được phân tích
bằng phương pháp từ kế mẫu rung. Các kết quả được thể hiện trong hinh 3.4.
Hình 3.4: Đường cong trễ từ của vật liệu a. Fe3O4; b.FMM-C11; c.FMM-C21;d. FMM-C31
15
Từ kết quả chụp phổ cho thấy từ độ bão hòa của các vật liệu Fe 3O4, FMM
C11, FMMC21 và FMMC31 lần lượt là 72; 37.8; 24; 16 emu/g.
Khi từ độ bão hòa thấp, vật liệu sẽ khó lắng, khi từ độ bão hào cao cần sử
dụng lực khuấy lớn để phân tán các hạt trong môi trường nước. Do đó, từ độ thích
hợp nằm trong khoảng 1020 emu/g. Do đó, chúng tôi chọn vật liệu FMMC31 làm
vật liệu hấp phụ.
3.1.5. Diện tích bề mặt riêng của vật liệu
Hinh Hình 3.5: Kết quả chụp BET của vật liệu a. FMM-C11; b. FMM-C21; c. FMM-C31.
Diện tích bề mặt riêng vật liệu FMMC11, FMMC21và FMMC31 lần lượt là
3,89; 0,645; 0,081 m2/g.
FMM31
108
34,8
13,3
7,2
6,04
5,15
132
34,9
9,02
6,71
6,03
5,9
Chitosan
thô
968
508
264
180
166
155
Chitosan
oligome
864
524
486
359
91,9
43,4
Thời gian lắng (phút)
Hinh Hình 3.6: Khảo sát thời gian lắng của vật liệu của vật liệu
Từ những kết quả trên, ta có thể kết luận được vật liệu FMMC31 có độ đục
thấp và thời gian lắng nhanh.
3.1.7. So sánh tính năng hấp phụ của các vật liệu
Tiến hành lắc hỗn hợp 1 g vật liệu với 100 ml dung dịch alizarin vàng G 500
mg/L lần lượt trong 3 bình tam giác với 3 loại vật liệu là FMMC11, FMM21 và
FMMC31 trong vòng 180 phút. Giữ nguyên pH, đo và ghi lại giá trị pH. Lấy một
lượng mẫu nhất định đem đi lọc, đo độ hấp phụ quang.
Kết quả được trình bày ở bảng 3.1
Bảng Bảng Bảng 3.1. So sánh sự hấp phụ alizarin vàng của 3 loại vật liệu FMM
C11, FMMC21 và FMMC31
FMMC11
FMMC21
FMMC31
Co(mg/l)
500
500
500
Ct(mg/l)
322
129,6
30
60
90
120
180
240
Co (mg/L)
20
20
20
20
20
20
20
20
Ct (mg/L)
19,9
11,5
6,1
3,87
3,77
3,66
3,45
3,4
Qt (mg/g)
0,001
0,85
50
50
50
Ct(mg/L)
7,05
6,9
8,6
14,35
14,29
qt(mg/g)
4,29
4,31
4,1
3,56
3,57
Qua bảng cho thấy đối với metyl đỏ, pH sau khi xử lý đối với pH thấp có xu
hướng tăng nhẹ. Đối với pH cao > 6 thì có xu hướng giảm, dao động xung quanh
pH = 7. Quá trình hấp phụ màu xảy ra mạnh nhất ở pH = 4. Ở pH cao, hiệu suất xử
lý độ màu thấp.
c. Khảo sát dung lượng hấp phụ metyl đỏ cực đại của vật liệu FMMC31
18
Bảng 3.8. Khảo sát dung lượng hấp phụ metyl đỏ cực đại của vật liệu FMMC314
Co(mg/L)
0
10
0
0,19
0,54
1,02
1,30
1,60
logqt
0
0
0,22
0,29
0,30
0,30
Hinh Hình 3.14: Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của Ct/qt vào Ct của metyl đỏ
Từ đồ thị ta tính được vật liệu FMMC31 có dung lượng hấp phụ metyl đỏ
cực đại: qmax=1/0,4898= 2,04 (mg/g).
3.2.2. Tiến hành khảo sát khả năng hấp phụ alizarin vàng G của vật liệu
FMMC31
a. Khảo sát thời gian cân bằng hấp phụ
Bảng Bảng 3.3. Khảo sát thời gian cân bằng hấp phụ alizarin vàng G
T (phút)
0
15
30
60
90
120
180
8,63
113,7
8,63
Hinh Hình 3.9: Đồ thị biểu diễn thời gian cân bằng hấp phụ alizarin vàng G của
vật liệu
Từ đồ thị hình, cho ta thấy đối với vật liệu FMMC31 thời gian từ 0 đến 180
phút, dung lượng hấp phụ alizarin vàng G tăng dần, sau 180 phút thì dung lượng hấp
phụ gần như không tăng.
19
b. Khảo sát ảnh hưởng của pH đến khả năng hấp phụ alizarin vàng G của vật
liệu FMMC31.
Bảng 3.4. Khảo sát ảnh hưởng của pH đến khả năng hấp phụ alizarin vàng G của
vật liệu FMMC31.
pH
2
4
6
8
10
pH sau
2,39
5,18
5,7
6,3
6,66
0
100
200
400
600
800
1000
Ct(mg/L)
0
1,07
1,16
2
10,13
45,08
157,7
qt(mg/g)
0
9,89
19,88
39,8
58,99
75,49
84,23
Ct/qt
0
0,11
0,06
Đã tổ hợp được vật liệu Chitosan/Fe3O4 từ 3 loại chitosan thương mại có bán
trên thị trường Việt Nam (có độ deaxetyl hóa và phân tử lượng khác nhau) và oxit
sắt từ thương mại. Vật liệu có từ tính và có khả năng hấp phụ phẩm màu trong môi
trường nước. Vật liêu tổ hợp từ chitosan có độ deaxetyl hóa cao và phân tử lượng
cao (chitosan polyme) là phù hợp nhất.
Đã sử dụng các phương pháp phân tích như phổ hồng ngoại (IR), kính hiển vi
điện tử quét (SEM), diện tích bề mặt riêng (BET) ... để xác định đặc trưng vật liệu.
Kết quả cho thấy Fe 3O4 được phân tán tốt với chitosan, do đó vật liệu có khả năng
lắng tốt hơn vật liệu chitosan thông thường. Thời gian lắng để đạt độ đục thấp
hơn 10 NTU là 1 phút.
Đã khảo sát điều kiện và tính năng hấp phụ của vật liệu Chitosan/Fe 3O4 FMM
31 đối với phẩm màu azo ít tan trong nước là Methyl đỏ. Kết quả cho thấy thời gian
đạt cân bằng hấp phụ là 60 phút; khoảng pH phù hợp là pH = 2 6; tải trọng hấp
phụ cực đại là 2 mg/g.
Đã khảo sát điều kiện và tính năng hấp phụ của vật liệu Chitosan/Fe 3O4 FMM
31 đối với phẩm màu azo dễ tan trong nước là Alizarin vàng G. Kết quả cho thấy
thời gian đạt cân bằng hấp phụ là 180 phút; khoảng pH phù hợp là pH = 2 4; tải
trọng hấp phụ cực đại là 86 mg/g.
Như vậy, các kết quả nghiên cứu cho thấy đã tổ hợp được vật liệu hấp phụ
có từ tính và khả năng ứng dụng khá tốt. Tuy nhiên, các nghiên cứu tiếp theo cần đi
sâu đánh giá, lí giải và khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến cơ chế hấp phụ, khả
năng tái sử dụng cũng như từng bước hoàn thiện điều kiện chế tạo vật liệu nhằm
nâng cao hiệu quả hấp phụ của vật liệu.
21