Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014
Nghiên cứu Y học
KHẢO SÁT KÍCH THƯỚC CỦA TUYẾN THƯỢNG THẬN BÌNH THƯỜNG
Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TRÊN X‐QUANG CẮT LỚP ĐIỆN TOÁN
Hồ Quốc Cường*, Trần Lê Linh Phương**, Lâm Thanh Ngọc*, Trần Minh Hoàng*
TÓM TẮT
Mở đầu: Tuyến thượng thận (TTT) là một trong những tuyến nội tiết quan trọng trong cơ thể. Các bệnh lý
TTT cũng vô cùng đa dạng. Việc xác định kích thước của TTT thông qua X‐quang cắt lớp điện toán là phương
pháp không xâm lấn và hữu ích giúp cho các nhà lâm sàng đưa ra các chẩn đoán xác định chính xác nhằm hướng
đến một liệu pháp điều trị tối ưu cho bệnh nhân.
Mục tiêu: Khảo sát hình dạng, kích thước trung bình: thân, chi trong và chi ngoài của tuyến thượng thận ở
người trưởng thành; So sánh sự khác biệt về chiều rộng của chi trong, chi ngoài và của thân tuyến thượng thận
ở người trưởng thành theo giới, theo tuổi và theo BMI.
Đối tượng – Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang, mô tả, thực hiện trên 424 người Việt Nam >/= 18 tuổi,
được chụp CLĐT bụng có cản quang từ tháng 7/2012 đến tháng 1/2013, tại khoa Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện
Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Kết quả: Kích thước trung bình của thân, chi ngoài và chi trong của TTT (P) lần lượt là 4,7mm (S.D.
0,83), 2,76mm (S.D. 0,49), 3,03mm (S.D. 0,50); của TTT (T) là 5,12mm (S.D. 1,0), 3,16mm (S.D. 0,65),
3,67mm (S.D. 0,75). TTT có hình Y ngược chiếm đa số, 89,9% bên (P) và 92,7% bên (T). Độ dày trung bình của
thân TTT (P) 4,7mm (S.D. 0,83), TTT (T) 5,12 (S.D. 1,0). Chi ngoài của cả TTT (P) và (T) đều có kích thước
nhỏ hơn chi trong (p
AG bodies were 4.7mm (S.D. 0.83) in right and 5.12 (S.D. 1.0) in left. The sizes of lateral limbs of both right and
left AG were smaller than this of medial ones (p
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Người Việt Nam trưởng thành không kể giới
tính, đến từ phòng khám ngoại chẩn hoặc được
điều trị tại các khoa trại nội viện, được chụp
CLĐT bụng có cản quang tại Bệnh viện Đại học
Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng
7/2012 đến tháng 1/2013.
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân có bệnh lý ác tính đã được chẩn
đoán.
Chuyên Đề Ngoại Khoa
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014
Bệnh nhân có rối loạn nội tiết.
Một số tình trạng như: Suy thận, Nhiễm
trùng huyết, Sau phẫu thuật, đang điều trị
Steroid, Trên hình ảnh CLĐT: có u tuyến thượng
thận hoặc các u ác tính khác.
Thu thập số liệu
Phương pháp thu thập số liệu
Phương tiện kỹ thuật:
Máy MSCT 64 (Light speed VCT, GE
healthcare, Mỹ).
Máy chủ có phần mềm xử lí (Workstation).
Các bước tiến hành:
Chuẩn bị bệnh nhân: bệnh nhân nhịn ăn ít
Chẩn Đoán Hình Ảnh
Nghiên cứu Y học
khoảng 50cm), bước bàn 0,984: 1. Độ rộng và
trung tâm cửa sổ khoảng 300 – 65 HU.
Thực hiện tái tạo lát cắt mỏng 1 mm ở thì
động mạch và tĩnh mạch.
Khảo sát dữ liệu những bệnh nhân được
chụp CLĐT bụng có cản quang với 3 thì (thì
chưa tiêm thuốc, thì động mạch, thì tĩnh mạch)
thỏa các tiêu chuẩn chọn bệnh.
Các thông số về kích thước TTT được đo
trên máy Workstation, dùng các hình axial tái
tạo với độ dày lát cắt 1mm, do một người thực
hiện có kiểm tra ngẫu nhiên bởi người đo thứ 2
(khoảng 10% mẫu nghiên cứu).
Các biến số khảo sát:
Tuổi: biến định lượng, liên tục. Tuổi được
tính bằng thời điểm khảo sát trừ năm sinh (đơn
vị tính là năm). Tuổi được phân thành 5 nhóm
tuổi: 18 – 29, 30 – 44, 45 – 59, 60 – 74, >75.
Giới tính: biến danh định, có 2 giá trị nam
và nữ.
Cân nặng: biến định lượng, đơn vị tính
kilogram (kg).
Chiều cao: biến định lượng, đơn vị tính
centimet (cm).
BMI: (Body Mass Index = Chỉ số khối cơ thể)
tuyến thượng thận, ngay điểm nối giữa thân và
các chi, tính bằng mm.
thuật,đang điều trị Steroid và trên hình ảnh
CLĐT: có u tuyến thượng thận hoặc các u ác tính
khác. Như vậy, có 424 trường hợp thỏa tiêu chí
nhận – loại được lấy số liệu và đưa vào phân
tích trong nghiên cứu của chúng tôi.
Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Bảng 1. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu (n=424)
Chiều rộng chi ngoài tuyến thượng thận:
Chiều rộng lớn nhất vuông góc với trục dọc của
chi ngoài, tính bằng mm.
Đặc điểm
Xử lí số liệu:
Số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm
SPSS 16.0.
Thống kê phân tích: việc so sánh sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê được thực hiện bởi phép
kiểm t‐test, pair‐samples t‐test, one‐way Anova
ở mức ý nghĩa 5%.
KẾT QUẢ
Độ lệch
chuẩn
Chiều cao
(cm)
Cân nặng
(kg)
BMI (kg/m2)
Chiều rộng chi trong tuyến thượng thận:
Chiều rộng lớn nhất vuông góc với trục dọc của
chi trong, tính bằng mm.
Nhận xét: Mẫu nghiên cứu có tuổi trung
bình là 49 tuổi; Chiều cao trung bình 157,8 cm;
cân nặng trung bình 52,1 kg; BMI trung bình là
20,8 (kg/m2).
Giá trị của các kích thước tuyến thượng
thận
Bảng 2. Tỉ lệ phần trăm hình dạng của TTT
Hình dạng
Trong thời gian từ tháng 7/1012 đến tháng
1/2013 có 4952 người Việt Nam từ 18 tuổi trở lên
đến khám tại các phòng khám ngoại chẩn hoặc
được điều trị tại các khoa trại nội viện, được
chụp CLĐT bụng có cản quang tại Bệnh viện
Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Trong
đó có 4528 bệnh nhân bị loại ra khỏi mẫu do có
bệnh lý ác tính đã được chẩn đoán, rối loạn nội
tiết, suy thận, nhiễm trùng huyết, lao,sau phẫu
TTT (T)
Tần số
%
393
92,7
4
0,9
4
0,9
8
1,9
13
3,1
2
0,5
Nhận xét: TTT có hình Y ngược chiếm đa số,
89,9% bên (P) và 92,7% bên (T).
Bảng 3. Các giá trị của kích thước tuyến thượng thận.
Dạng đường thẳng
Y ngược
V ngược
Lamdoid
Chung
Trung bình TTT (P) (SD) mm
Thân
3,66 (0,73)
5,50 (0,93)
3,25 (0,58)
3,70 (1,18)
5,55 (0,79)
3,25 (0,57)
4,56 (0,72)
5,12 (1,00)
3,16 (0,65)
3,67(0,75)
0,84). Đối với TTT (T) dạng đường thẳng có kích
thước thân nhỏ nhất 4,8mm (S.D. 0,14), trong khi
đó dạng TTT có kích thước lớn nhất là lamda
5,55mm (0,79).
Bảng 4. So sánh sự khác biệt giữa các giá trị của
Chuyên Đề Ngoại Khoa
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014
tuyến thượng thận.
Bên (P)
Bên (T)
Thân
Chi ngoài
Chi trong
Chi ngoài
1,00
0,49
0,65
0,50
0,75
p
P < 0,01
P < 0,01
P < 0,01
P < 0,01
P < 0,01
Nhận xét: Chi ngoài của cả TTT (P) và (T)
đều có kích thước nhỏ hơn chi trong, 2,75 mm
(SD 0,48) so với 3,0 mm(SD 0,49) (p
V ngược
Y ngược
Lamda
V ngược
Lamda
Trung bình (mm) SD (mm)
3,66
0,73
3,70
1,18
3,66
0,73
4,56
0,72
3,70
1,18
4,56
0,72
p
0,99
< 0,01
0,09
Nhận xét: TTT (T) có dạng Y ngược có kích
thước chi trong nhỏ hơn dạng Lamda (p
có 1,4% đối tượng không xác định được TTT bên
(P) và tỉ lệ không xác định được của TTT (T) là
0,5% nên không thể lấy được kết quả chính xác
về kích thước TTT trong những trường hợp này.
Nguyên nhân đa số do lượng mỡ khoang sau
phúc mạc ít nên gặp nhiều khó khăn trong việc
xác định ranh giới giữa TTT (P) với trụ cơ hoành
(P), gan (6 trường hợp) và TTT (T) với trụ cơ
hoành (T), tụy (2 trường hợp). Nguyên nhân ít
gặp hơn ghi nhận được bao gồm: các tĩnh mạch
vùng rốn lách giãn ngoằn ngoèo (1 trường hợp),
đại tràng góc gan lên cao đến vùng TTT (P) (1
trường hợp). Đối với TTT (P), cùng nguyên nhân
do lượng mỡ khoang sau phúc mạc ít, có 9
trường hợp chi ngoài không đo được kích thước.
Ngoài ra đối với TTT có dạng tam giác do không
xác định được chi nên kích thước thân và không
được ghi nhận.
247
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014
Ngoài dạng Y ngược thường gặp, TTT (P)
còn có các dạng V ngược, đường thẳng, tam giác
lần lượt chiếm 4,9%, 3,3% và 0,5%. TTT (T) đa
dạng hơn, có thêm hình ảnh Lamda chiếm 3,1%
quang CLĐT bao gồm: V ngược, đường thẳng,
tam giác và Lamda. Riêng hình ảnh Lamda chỉ
xuất hiện bên TTT (T).
Theo kết quả khảo sát (bảng 3), chiều rộng
lớn nhất của thân, chi ngoài, chi trong TTT (P)
lần lượt 4,70 mm (SD 0,83) với khoảng giới hạn
từ 2,5 đến 8 mm, 2,76 mm (SD 0,49) khoảng giới
hạn từ 1,5 đến 4,2 mm, 3,03 mm (SD 0,50),
khoảng giới hạn từ 1,7 đến 4,9 mm; và các kích
thước này của TTT (T) lần lượt là 5,12 mm (SD
248
1,00),với khoảng giới hạn từ 2,8 đến 4,8 mm, 3,16
mm (SD 0,65), khoảng giới hạn từ 1,8 đến 5 mm,
3,67 mm (SD 0,75), khoảng giới hạn từ 2,1 đến
5,8 mm. Những số đo này đều nhỏ hơn so với
kích thước đo được của tác giả Vincent ngoại trừ
giá trị của chi trong, tác giả Vincent đã báo cáo
kích thước TTT (P) 6,1 mm, 0,28 mm và 0,28;
TTT (T) 7,9 mm, 0,3 mm và 0,33 mm. Việc khác
biệt thể hiện khá rõ ở chiều rộng lớn nhất của
thân TTT. Nguyên nhân có thể do tác giả thực
hiện nghiên cứu bằng máy CLĐT với độ dày lát
cắt 10 mm, trong khi nghiên cứu của chúng tôi,
các dữ liệu được thu thập trên hình ảnh tái tạo
với độ dày 1 mm, có độ phân giải và tương phản
tốt hơn. Sự không đồng nhất này cũng có khả
năng do khác biệt về chủng tộc, người châu Âu
thường có sắc vóc to lớn hơn người châu Á, có lẽ
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014
Khi so sánh kích thước thân đo được từ các
TTT có hình dạng khác nhau, chúng tôi nhận
thấy bên TTT (P) có sự khác biệt giữa TTT có
hình dạng Y ngược và V ngược, các chỉ số trung
bình lần lượt là 4,67 mm (S.D 0,84) và 5,13 mm
(S.D. 0,56) với p = 0,02. Tuy nhiên, khi so sánh số
đo này giữa dạng Y ngược với đường thẳng và
V ngược với dạng đường thẳng, chúng tôi
không tìm thấy được sự khác biệt rõ rệt (bảng 5).
Khi phân tích bên TTT (T), trung bình của thân
TTT giữa các dạng khác nhau không thể hiện sự
khác biệt, p = 0,32. Dạng Y ngược và V ngược
khác nhau chủ yếu ở phần thân, thân của V
ngược ngắn hơn so với Y ngược, có lẽ chính vì
thế mà độ dày của V ngược được củng cố và lớn
hơn dạng Y ngược.
Đối với độ dày chi ngoài của TTT, sự sai
khác về hình dạng TTT không liên quan đến sự
khác biệt về kích thước, trên cả hai TTT (p >
0,05).
Đối với chi trong của TTT, tuy bên TTT (P)
không có sự thay đổi về kích thước đáng kể
nhưng bên TTT (T), chúng tôi ghi nhận TTT có
dạng Lamda có độ dày của chi trong lớn hơn
dạng Y ngược, 4,56 mm (S.D. 0,72) và 3,66 mm
(S.D. 0,73), p
TTT, 89,9% bên (P) và 92,7% bên (T).
Kích thước trung bình của thân, chi ngoài và
chi trong của TTT (P) lần lượt 4,7 mm (S.D. 0,83),
2,76 mm (S.D. 0,49), 3,03 mm (S.D. 0,50); của TTT
(T) 5,12 mm (S.D. 1,0), 3,16 mm (S.D. 0,65), 3,67
mm (S.D. 0,75).
TTT (T) có độ dày thân, chi ngoài và chi
trong lớn hơn TTT (P) có ý nghĩa thống kê.
Chi trong có kích thước lớn hơn chi ngoài
trên cả hai TTT (p
249
Nghiên cứu Y học
11.
12.
13.
14.
250
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014
ʺComputed tomography of the normal adrenal glands.ʺ am j
roentgnol 130(5): 963‐966.
Moulton JS, Moulton JS (1988). ʺCt of the adrenal glands.ʺ
seminars in roentgenology 23(4): 288‐303.
Soffer LS (1951). Diseases of the endocrine glands.
Philadelphia, lea & febiger.
Vincent JM, Morrison ID, et al (1994). ʺThe size of normal
adrenal glands on computed tomography.ʺ clinical radiology
49: 453‐455.
Wilms G, Baert A, et al (1979). ʺComputed tomography of the
normal adrenal glands: correlative study with autopsy
specimens.ʺ journal of computer assisted tomography 3(4):