BỆNH SỐT MÒ
Ths Phạm Thanh Thuỷ
MỤC TIÊU HỌC TẬP
Sau khi học xong bài này, học viên có thể:
1. Mô tả được những yếu tố dịch tễ học cơ bản của bệnh sốt mò.
2. Mô tả được các biểu hiện lâm sàng chính của sốt mò.
3. Chẩn đoán phân biệt được sốt mò với các căn nguyên sốt khác.
4. Nêu được các biện pháp điều trị và dự phòng bệnh sốt mò.
NỘI DUNG
1. ĐẠI CƯƠNG
- Bệnh sốt mò là bệnh nhiễm trùng cấp tính do vi khuẩn Orientia
tsutsugamushi gây ra qua trung gian mò Leptotrombidium.
- Bệnh biểu hiện bằng sốt li bì, phát ban và nổi hạch. Nếu không được điều trị
bệnh sẽ có những biến chứng nặng, tổn thương nhiều cơ quan nội tạng dễ dẫn
đến tử vong.
- Bệnh điều trị đặc hiệu được bằng kháng sinh như Tetracyclin, Doxycyclin...
2. TÁC NHÂN GÂY BỆNH
- Vi khuẩn gây sốt mò - Orientia tsutsugamushi (trước kia gọi là Rickettsia
orientalis hoặc R. tsutsugamushi) – là vi khuẩn Gram(-), ký sinh nội bào.
Orientia bắt màu Giemsa hoặc Gimenez, mọc trong túi thể vàng của phôi gà
và một loạt các dòng tế bào nuôi cấy.
- Các chủng orientia có tính chất kháng nguyên rất đa dạng, do có sự khác
biệt trong cấu trúc của các protein vỏ. Sự khác biệt về mặt kháng nguyên của
các chủng orientia có thể xác định bằng các phương pháp huyết thanh học và
kỹ thuật sinh học phân tử.
- Ba chủng orientia cổ điển là Karp, Kato và Gilliam; ngoài ba chủng này, đã
có hơn 30 chủng huyết thanh khác được xác định.
3. DỊCH TỄ HỌC
- Sốt mò phân bổ ở Châu Á - Thái Bình Dương, trên một vùng địa lý rộng lớn
có diện tích khoảng 13.000.000 km
2
- Việt Nam nằm trong vùng lưu hành của sốt mò. Các loài chuột và thú nhỏ -
vật chủ ký sinh của ấu trùng mò Leptotrombidium - có mặt đông đúc và phân
bổ rộng rãi ở nước ta; mò L .deliense cũng được phát hiện ở hầu hết các vùng
lãnh thổ với mật độ cao. Những ca sốt mò đầu tiên được báo cáo trong y văn
là vào những năm 1920 và đầu 1930. Sau năm 1954 cho đến nay, nhiều ổ dịch
sốt mò đã được phát hiện tại các vùng rừng núi và hải đảo ở vùng núi phía
Bắc, Tây Nguyên, Trung Bộ; tuy nhiên, vùng lưu hành thực sự của sốt mò có
thể rộng lớn hơn rất nhiều, bao gồm nhiều địa phương và nhiều vùng trong cả
nước và cần được nghiên cứu thêm. Các ca bệnh sốt mò được phát hiện vào
tất cả các tháng trong năm, cao điểm là từ tháng 5 đến tháng 11 là thời gian
phát triển mạnh của mò. Tất cả các lứa tuổi đều có thể mắc sốt mò.
4. SINH BỆNH HỌC
- Người bị nhiễm sốt mò khi rơi vào vòng lưu hành tự nhiên của bệnh và bị ấu
trùng mò đốt.
- Sau khi xâm nhập qua da, orientia nhân lên tại chỗ, tạo thành nốt sần, tiến
triển thành nốt phỏng và vết loét hoại tử có vảy.
2
- Trong cơ thể người, orientia phát triển trong các tế bào nội mạc các mạch
máu nhỏ ở tất cả các cơ quan và phủ tạng như phổi, gan, lách, thận, não, tim,
gây tổn thương và biểu hiện ở các cơ quan này.
5. LÂM SÀNG
- Thời gian ủ bệnh kéo dài từ 6 ngày đến 21 ngày (trung bình từ 9 đến 12
ngày).
- Thời kỳ khởi phát bệnh có thể đột ngột hoặc bán cấp, sau một vài ngày mệt
mỏi, đau đầu, sốt nhẹ.
- Thời kỳ toàn phát: thường gặp sốt, vết loét ngoài da, phát ban, sưng hạch
lymphô, tổn thương ở các cơ quan và phủ tạng.
+ Sốt: sốt thường liên tục, có hình cao nguyên, đôi khi dao động; nhiệt
độ có thể lên tới 40
o
quang phổi có thể có hình ảnh tổn thương nhu mô phổi, viêm phổi kẽ,
phù phế nang, xẹp phổi cục bộ, tràn dịch màng phổi, sưng hạch rốn
phổi. Trong các trường hợp nặng, bệnh nhân có các triệu chứng khó
thở, hạ tỷ lệ bão hoà oxy máu, và tổn thương thâm nhiễm lan toả cả hai
phổi trên phim X-quang. Các biểu hiện tim mạch thường gặp trong sốt
mò bao gồm phân ly mạch-nhiệt, hạ huyết áp, có thể có loạn nhịp tim
do ngoại tâm thu. Viêm cơ tim ổ và lan toả là một biểu hiện nặng của
sốt mò, biểu hiện bằng T
1
mờ, thổi tâm thu, ngoại tâm thu, kích thước
tim to, nhịp ngựa phi thoáng qua, và một số biểu hiện bất thường nhẹ
trên điện tim.
+ Biểu hiện thần kinh: Các biểu hiện thần kinh có thể gặp trong sốt mò
là viêm màng não và viêm não. Rối loạn ý thức thường xuất hiện từ
tuần thứ hai của bệnh. Bệnh nhân có các dấu hiệu của viêm não-màng
não như mê sảng, vật vã, tinh thần chậm chạp, hôn mê, co giật, rối loạn
cảm giác, run chân tay. Giảm thính lực là một biểu hiện thần kinh khư
trú thường gặp trong sốt mò. Viêm màng não trong sốt mò về bản chất
là viêm màng não tăng lymphô bào; dịch não tủy thường biến loạn nhẹ.
- Diễn biến bệnh:
+ Bệnh nhân sốt mò có thể diễn biến nặng ngay từ tuần đầu của bệnh
với viêm phổi kẽ và suy hô hấp. Tuy nhiên, trong phần lớn các trường
hợp, bệnh thường diễn biến nặng từ tuần thứ hai với biểu hiện ở nhiều
cơ quan và phủ tạng như hô hấp, tuần hoàn, thần kinh. Bệnh nhân
thường tử vong do suy đa phủ tạng, trong đó ARDS là nguyên nhân
hàng đầu. Tỷ lệ tử vong của sốt mò trong giai đoạn trước kháng sinh có
thể lên tới 50-60%.
+ Trong những trường hợp không được điều trị kháng sinh đặc hiệu và
không tử vong, bệnh nhân thường hết sốt sau 10-14 ngày; những bệnh
nhân nặng có thể có sốt kéo dài 21 ngày hoặc lâu hơn. Nhiệt độ thường