Chưđng III. Binh luận vả phân tich một sô điểm mái
trong tô tụng dân sự
Nguvẻn tấc tranh tụng có thổ được quy định
thành một điều luật (như Bộ luật tô" tụng dân sự của
nưóc Cộng hoà nhân dán Trung Hoa), hay được quy
định thành nhiều điếu luật (như Bộ luật tố tụng dân
sự của nước Cộng hoà Pháp
VỚI
bốn điểu, từ Điểu 14
đến Điều 17). Nội dung cổ bán của nguyên tắc tranh
tụng là nghĩa vụ cung cấp chứng cứ (Dự thảo Bộ luật
tỏ* tụng dân sự gọi là nghĩa vụ giao nộp chứng cử) và
quyền được tranh luận công khai tại phiên toà. Nguyên
tấc tranh tụng sẽ có ý nghĩa quan trọng trong nhận
thức của Toà án và những ngưòi tham gia tố tụng vể
địa vị pháp lý của họ trong tô tụng. Độc biệt, quy định
về nguyên tắc tranh tụng làm cho đương sự hiểu rõ
hơn về quyển và nghĩa vụ tô tụng của mình, đê họ cần
hiểu ràng khởi kiện ra Toà án, có nghĩa là họ đă tham
gia vào quá trình tranh tụng, trưóc hết là họ phải
tranh luận với nhau. Còn Toà án, trên cơ sở chứng cứ
các bên cung cấp và chứng cứ mà Toà án thu thập
đưỢc, sẽ đ ư a r a q u y ế t đ ịn h t r o n g n h í ìn g b ả n á n , q u y ế t
định của mình.
Với những nội dung như vậy. theo chúng tôi, khi
quy định nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự,
không nhất thiết phải thay đổi mô hình tô' tụng. Nghĩa
xót xứ, tranh luận tại Toà án; mà trong tỏ tụng dân
sự thì trình tụ tô tụng chi phát sinh từ khi có đơn khỏi
kiện của đương sự. Bới vậy không quy định thành
nguyên tác chung mà tranh tụng tại phiên toà được
208
Chương III. Bình luận và phản tich một sô điểm mới
trong tô tụng dân sự
cụ thế hoá trong thủ tục xét hoi và tranh luận tại
toà"’. Có thế xem đây là những lập luận không xác
đáng, chưa thuyết phục cho việc vì sao không quy
định tranh tụng là một nguyên tắc tô tụng.
Bộ luật tố tụng dân sự được thông qua đã không
quy định về nguyên tác tranh tụng. Chúng tôi mong
muôVi cơ quan có thẩm quyền cần xem xét dẻ có thê
đưa nguyên tác tranh tụng vào Bộ luật tò tụng dán sự
trong lần sủa đổi, bố sung gần nhất.
C ổn q u y đ ịn h v ổ q u y ồ n và
n g h ĩa v ụ c h ú n g m in h củ a
đương sự cũng như thủ tục
tra n h ỉu ậ n p h iê n to à , ,
Theo phân tích ỏ trên, mặc dù trong hệ thống luật
thực định cũng đã có những quy định vê tranh tụng
trong tố tụng, nhưng thực tẻ lại đang diễn ra không
theo đúng như vậy. Điều này có nguyên nhân từ nhận
hoặc về sự việc nếu xét tháy cần thiết, hoặc
yéu cầu nói rõ thêm điểm còn chưa rõ
Các quy định này cũng cho thấy, toà chỉ giữ vai
'"Dự thảo Bộ luật tổ tụng dân sự của nước Cộng hoà Pháp,
Nxb. Chính trị quốc gia. 1998.
214
Chương III. Bình luận và phản tích một số điểm mới
trong tố tụng dàn sự
trò điều hành phiên toà. Còn các bén tham gia vào
quá trình tranh luận là chính các đương sự.
Với cách thức này, Bộ luật tố tụng dàn sự của Nhật
Bản cũng quy định thủ tục phiên tranh luận bàng lòi,
bắt đầu cũng là phần khai mạc. được mở đầu bằng việc
giới thiệu vụ việc (sô vụ việc, tên vụ việc và tuỳ theo
từng trưòng hợp, tên của các bên). Việc giói thiệu do
Thẩm phán chủ tọa phiên toà tiến hành. Tuy nhiên,
trên thực tê trong nhiều trường hỢp một Thư ký toà
hoặc cán bộ toà án làm thay Thẩm phán chủ toạ.
Tiếp theo phần khai mạc sẽ là lòi trình bày đơn
kiện của nguyên đơn. Các vấn đề trình bày trong đơn
kiện trở thành tư liệu đế xét xủ sau khi đơn kiện được
trình bày. Đế có thể thắng kiện, nguyên đơn phải
thuyết phục được Thẩm phán về quyền mà họ đòi tồn
tại trên thực tế. Nói cách khác, nguyên đơn phải
thuyết phục được Thẩm phán là các tình tiết cụ thể
Tóm lại, theo chúng tôi, các bộ luật tò*tụng cùa các
nưỏc đểu quy định rất rõ nội dung tranh tụng trong
vụ án dân sự. Trong khi đó, Lu ật tô tụng Việt Nam
mới chỉ thể hiện được một phần nội dung tranh tụng
ơapanese laws (Luật Nhật Bản), tập II. 1997-1998, Nxb
Thanh niên.
216
Chương III. Bình luận vả phản tich một sò điếm mdi
trong tô tụng dân sự
hỏng qua việc quy (lịiih nghĩa vụ cung cã*p chứng cử
c ủ a đ ư ơ n g sự. c ũ n g n h ư q u y ề n ti a n h lu .ận c ủ a đư(Jng
sự tại phiên toà. Hên cạnh dó, pháp luật củng đã quy
định cụ thê cho việc xót hoi Iihii íiã viện dẫn V'à phân
tích điểu luật vê thú tục xét hoi (Điếu 50 Pháp lệiih
thù tục giái quyết các vụ án (iãn sự. Điều 221 và
những diều luật lièn quan cun Bộ luật tô tụng dân
sự). Với kết quá xót hoi của Hội đồng xét xử, việc
tranh luận của dương sự duònịí như đã trở nèn khòng
cẩn thiết hoặc chi mang tinh hình thức
Các hạn chè này dã đưỢc cóc nhà soạn tháo có ý
thức khắc phục trong quá trình soạn thào Bộ luật tố
tụng dân sự. Tại Dự thíio Bộ luật tố tụng dân sự.
Chương V. Mục 3 quy dịnh thâm vân tại phiên toà
với các diều từ Điều 2 2 í đến Điéu 225, thì tại Mục 4
nguyên những điều luật của Dự thảo, chỉ thay đổi sô
thứ tự của điều luật với các điều từ Điều 217 đến
Điều 231.
Việc quy định thủ tục xét hỏi như trong Dự thảo,
cũng như trong Bộ luật tố tụng dân sự. bưóc đầu đã
tạo ra một nội dung mới, theo đó, nếu trưỏc kia. việc
xét hỏi của Hội đồng xét xử “phải xác định đầy đù các
tỉnh tiết của vụ án", thì Dự thảo và Bộ luật tô' tụng
218
Chương III. Bỉnh luận vả phản tich một sô điểm mdi
trong tô tụng dân sự
dân sự chí đưa ra những công việc cụ thê của thú tục
xét hòi mà khòng quy (.lịnh mục ctích của thủ tục xét
hỏi. Điều này cho thay, nhà làm liuật đã ý thức được
việc mớ rộng tranh tụng tại phiẻn toà. T u y nhiên, có
thế giửa mong muốn vã kết quá sẽ có khoáng cách.
Xêu đọc kỷ các quy định trong Hộ luật tỏ tụng dán sự
vé thủ tục xét hoi và tranh luận, sẽ thâV vấn đê không
khác nhau nhiều lám vê nội dung: nếu Pháp lệnh thủ
tục giái quyết các vụ án dân íự quy định nội dung xét
hỏi là làm sáng tó các tình tiốt của vụ án. bói vậy. việc
tranh luận đã trơ nên clưòng nhú khòng cần thiết, thì
Bộ luật tô tụng dân sự cùng quy định thủ tục xét hỏi
có quá nhiều nội dung. Từ việc trình bày của đương sự
(Điếu 221), chuyên qua việc xét hoi từng đương sự, hói
2. Trong trưíPìg hỢp ngu vẻn đơn, bị điPi,
ngưiii có quyến Un, nghĩa vụ liên quan không
có người báo vệ quyến i'á ỉợi ich hỢp p h á p của
m inh thì họ tự p h á t biêu khi tranh luận".
Điểu 233. Phát biểu khi tranh luận và đổi đáp
"Khi p h á t hiếu L’ế đ á n h g iá chứng cứ, đ ề
x u ấ t quan điếm cùa m in h vé việc g iả i quyết
vụ án. người tham gia tran h luận p h ả i cản
cứ vào tái liệu, chứng cứ đ ả thu th ập đưỢc và
đ á được xem xét, kiếm tra tạ i phién toá củng
n h ư kết quả việc hòi tạ i p h iên toà. Người
th a m g ia tranh luận có quyền đ á p lại ý kiến
của người khác. Chủ toạ phiên toá không
được hạn c h ế thời gian tra n h luận, tạo điều
kiện cho những người th a m g ia tranh luận
trinh bày hết ý kiến, nh ư n g có quyền cắt
221
Bỉnh luận khoa học một sô vấn dể
của pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng
nhừỉĩịí
V
ktên không liên quan (ĩì‘h ưụ nn".
lá có c ă n c ứ v à h ợ p p h á p . Nguyên đ ơ n có q u y ể n b ổ s u n g
ý kiên' {điếm a khoản 1 Điếu 221 Bộ luật tô tụng dán
sự). Sau khi phải trình bày theo quy định trên, đương
sự lại phái tiếp tục tra lời những câu hỏi của Hội đồng
xét xử và những người tham gia phiên toà theo quy
định của Bộ luật tô' tụng dân sự. Tương tự. bị đơn,
người có quyển lợi. nghĩa vụ liên quan cũng phái
chứng minh cho yêu cầu cùa mình là có cản cứ và hợp
pháp. Vậy đương sự còn gì để nói khi tranh luận?
Việc quy định Kiếm sát viên phát biểu trong mục
tr a n h luận, có nghĩa là Viện kiêm sát cũng là một chủ
thế của việc tranh luận Vậy, Viện kiếm sát tranh
luận vỏi ai và tranh luận vế vấn đề gì trong vụ án dân
sự, trong đó chỉ có quyền và lợi ích mang tính cá
nhân? Hơn nữa, quy định “sau khi những người tham
gia tò'tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Chủ
toạ phiên toà đề nghị Kiểm sát viên phát biếu ý kiến
của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án”, thì còn ai
được tranh luận vói đại diện Viện kiểm sát. Việc quy
định vế vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự
223
Binh luận khoa học một sô vân dề
của pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng
nói chung cũng như tại phiên toà dân sự nói nòng
Các điếu luật còn lại trong thu tục hoi, từ Điếu 221
đến Điểu 231 cần được chuyến snng thủ tục tranh luận.
Thứ hai: vê thủ tục tranh luận. Nội dung phần
tranh luận bắt đầu bằng diêu luật quy định việc
nguyên đơn phái trình bày yêu cầu của mình, những
chứng cứ, lý lẽ đẽ báo vệ cho yêu cầu đó. Tiếp theo là
lời trình bày của bị đơn với nhùng chứng cứ. lý lẽ
phán bác hoặc chấp nhận yéu cau của nguyên đơn.
Ngoài ra. cần thiết phái có cá điêu luật về sự trình
bày của người liên quan, người làm chứng và của
những người tham gia khác trong việc làm sáng tỏ
thèm lòi trình bày của nguyên đơn, bị đơn. Toàn bộ
quá trình tranh luận này phái diễn ra dưới sự điêu
hành của Hội đồng xét xử. Trong triíòng hợp cần
thiết, Hội đồng xét xử công bò tài liệu, công bô" băng
ghi âm, báng ghi hình, cho xem xét vật chứng. Bằng
hoạt động này, Hội đồng xét xử đã tham gia vào quá
trình tranh tụng, chứ không chi giữ vai trò thụ động
như nhieu ý kiến bản khoăn vổ vai trò của Toà án
trong tô tụng tranh tụng. Ý nghĩa của việc tham gia
225
Binh luận khoa học một sô vấn đề
của pháp luật tô tụng dân sự vả thực tiễn áp dụng
«
ề
Chương III. Binh luận và phản tich một số điểm mdi
trong tô tụng dân sự
áp dụng cho đương sự hoặc nhửiiíí người tham gia tỏ
tụng mà còn áp dụng cho c h i n h nhừng người tiến
hành tô" tụng như Thẩm phán. Hội thẩm nhân dân.
Chẳng h ạ n , Bộ luật có thế có Iihừng điều luật quy
định rõ trách nhiệm của Hội ilồiìg xét xử trong việc
không cho hoặc hạn chè việc tranh tụng cúa đương sự.
Nếu xác định được đúng có những việc này. thì trách
nhiệm của Thẩm phán có thê bị xử lý như đôi vối việc
ra bản án sai hoặc thiếu sót dẫn dến việc bãn án phải
bị huỷ bỏ hoặc bị sửa chửa.
V III.
G IẢ I Q U Y ẾT TH ẤM QUYỂN
Á N ĐỐI VỚI Q U Y Ế T Đ ỊN H C Ủ A
cơ
củ a
tò a
QUAN, T ổ
CHỨC KHÁC
Tòa án là cơ quan xét xứ của nước Cộng hòa xã hội
sau: “Khi xét x ử vụ án dán sự, Tòa án có quvền hủy
quyết đ ịnh rỏ ràng là trái p h á p luật của cơ quan, tô
chức khác xâm p h ạ m quyến lợi hỢp pháp của đươtig
sự trong vụ án m à Tòa án có nhiệm vụ giải quyết".
Việc cụ thể hóa quyền h ạn của Tòa án đốỉ VỎI quyết
định của cơ quan, tổ chức khác trong quá trình Tòa án
giải quyết vụ án dân sự đà làm rõ hơn chức năng,
nhiệm vụ của Tòa án. làm rõ hơn nội dung th ẩ m
228
Chưđng III. Bính luận và phàn tich một sò điếm mdỉ
trong tô tụng dàn sự
quyên của Tòa án. Căn cư vào quy định này, các Tòa
án đã xem xét có quyền hủy bo những quyết định của
cơ quan, tổ chức khác, nếu có dủ cán cứ cho thấy quyết
định của cơ quan, tô chức là trái ị)háp luật. Ví dụ, khi
xem xéi. giải quyết các tra n h chãp thùa kê quyên sử
dụng đất. Tòa án có thê húy bỏ Giây chứng nhận
quyển sử dụng đất do Uỷ ban nhân dán có thẩm
quyển cấp. nếu có đủ cơ sờ cho thâV việc cảp Giấv
chứng n h ậ n không đúng thú tục do pháp luật quy
định. Việc tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đâ't là cơ sỏ để Tòa án có thê chia quyền sử dụng đất
cho nhửng người thừa kê thcơ quy định của pháp luật.
Thực té xét xử các vụ án dân sự đã cho thấy sự cần
thiết và tầm quan trọng của Điều 12 Pháp lệnh th ủ
tục giãi quyết các vụ án dán sự. Điều luật quan trọng
nãy đã giúp Tòa án thực hiện quyền lực của mình khi
qu\en sử dụng cỉất cùa cha mẹ vá làm thù tục
(te nghị cõp CìiấY chiỉtìịi nhận ọuvSì sử dụng
dát j\'nm 2003. vỢ chùng D dưdc Uy han
nhãn cián cãp co thám qtivền cáp Giấ\ chứng
nhãri (ỊHvén sứ dụng lỉát. Sau khi biết vỢ
chóng D tự V lam thú lục xin cáp Giấy chứng
231