1
1
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những số liệu,
dữ liệu và kết quả đưa ra trong luân văn là trung thực và nội dung luận văn chưa
từng được công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Tác giả
Đặng Ngọc Sơn
2
2
2
LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với sự hỗ trợ,
giúp đỡ dù ít dù nhiều, dù là trực tiếp hay gián tiếp. Trong suốt thời gian học tập và
thực hiện luân văn của mình, mặc dù gặp khá nhiều khó khăn nhưng nhờ có các
thầy cô giáo trong Trường Đại học Thương Mại, Khoa sau đại học Trường đại học
học Thương Mại đã chỉ giúp, giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy cô giáo trong Trường Đại học Thương
Mại và các thầy cô Khoa sau đại học Trường Đại học Thương Mại đã giúp đỡ, trang
bị cho tôi những kiến thức, lý luận cơ bản để tôi hoàn thành luân văn tốt nghiệp.
Xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến thầy giáo hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn
Tiến Dũng
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người trong gia đình và phòng kinh doanh
Nam nên tìm kiếm giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu trong tình hình kinh tế toàn cầu
hóa như hiện nay.
Công ty Cổ phần may Thăng Long là một trong những thành viên của Tập
đoàn Dệt May Việt Nam được thành lập từ năm 1958, Công ty là một trong những
doanh nghiệp đầu đàn trong ngành Dệt may Việt Nam. Trải qua 60 năm xây dựng
và phát triển, tập thể cán bộ công nhân viên trong công ty đã không ngừng nỗ lực
phấn đấu vượt qua những trở ngại khó khăn để đưa công ty phát triển với quy mô
rộng lớn như hiện nay. Hoạt động chủ yếu của công ty là sản xuất kinh doanh xuất
nhập khẩu hàng may mặc. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra
mạnh mẽ , công ty nói riêng và các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nói chung đang
phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường trong nước cũng như quốc tế.
Phát huy truyền thống của mình công ty đang nỗ lực sáng tạo, đổi mới trong sản
xuất kinh doanh để đứng vững và tiếp tục phát triển. Một trong những hoạt động
4
được công ty chú trọng đẩy mạnh trong thời gian qua là hoạt động marketing xuất
khẩu, nhờ có những chính sách và hoạt động marketing xuất khẩu đúng đắn nên
doanh số tiêu thụ hàng hoá của công ty đã tăng lên đáng kể, phần nào xây dựng
được thương hiệu về sản phẩm của công ty trên thị trường trong nước và quốc tế
giúp công ty vượt qua những khó khăn.
Mỹ là thị trường xuất khẩu đầy tiềm năng, lực lượng tiêu dùng đông đảo trong
đó có 200 triệu dân giàu với mức sống cao vào bậc nhất thế giới. Tuy nhiên, đây
cũng là thị trường khó tính với thị hiêu và tập quán tiêu dùng rát khát khe. Để thâm
nhập vào thị trường Mỹ và đê tạo một chò đứng vững chác, lâu dài trên thị trường
tiềm năng này, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải giải nhiều bài toán khó. Một
trong những bài toán đó là phải biết xây dựng một chiến lược marketing xuất khấu
thích hợp dựa trên cơ sở phân tích nhu câu, hành vi tiêu dùng và môi trường
marketing ở Mỹ. Khi Hiệp định dệt may Việt Nam – Mỹ có hiệu lực từ ngày
lẫn thực tiễn, mặc dù chúng đã được vận dụng song chỉ ở dạng sơ lược và thiếu
đồng bộ trong hoạt động marketing xuất khẩu ở nước ta. Có thể kể đến những công
trình tiêu biểu như sau:
Nguyễn Đức Nhuận (2010), Phát triển chiến lược marketing xuất khẩu hàng
may vào thị trường Mỹ của các doanh nghiệp thuộc VINATEX, Luận án Tiến sĩ
kinh tế. Luận án đã xác lập rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển chiến lược
marketing nói chung và chiến lược marketing xuất khẩu nói riêng của doanh nghiệp
ngành may, chỉ rõ những đặc điểm của phát triển chiến lược marketing xuất khẩu
cho thị trường Mỹ. Cụ thể, đã hệ thống và tổng hợp các tài liệu trong và ngoài nước,
đưa ra được khái niệm, xác lập mô hình nội dung, quy trình tổng quát, những nhân
tố ảnh hưởng và làm điều kiện phát triển chiến lược marketing xuất khẩu vào thị
trường Mỹ. Thông qua vận dụng các phương pháp và mô hình nghiên cứu phù hợp,
luận đã nhận dạng và làm rõ thực trạng phát triển chiến lược marketing ở các doanh
nghiệp may thuộc Vinatex giai đoạn 2000 – 2009. Cụ thể, đã phân tích có hệ thống
và đánh giá khách quan thực trạng các yếu tố, các nội dung phát triển chiến lược
marketing xuất khẩu vào thị trường Mỹ, phân tích và chỉ ra những điểm mạnh và
điểm yếu, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra qua phân tích thực trạng. Từ đó, luận
án đã đưa được hệ quan điểm, các định hướng, các giải pháp chung những phát triển
chiến lược marketing xuất khẩu vào thị trường Mỹ, cùng những kiến nghị để các
doanh nghiệp ngành may thuận lợi trong tái cấu trúc chiến lược và phát triển chiến
6
lược marketing của mình trong giai đoạn hậu khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn
cầu đến 2015, tầm nhìn 2020.
Nguyễn Quốc Lợi (2015), Giải pháp marketing xuất khẩu thủy sản cho Công
ty Cổ phần Chế biến thủy hải sản Hiệp Thanh tại thành phố Cần Thơ, Luận văn thạc
sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Đại học Cần Thơ. Đề tại đã hệ thống những
vấn đề lý luận về marketing xuất khẩu, hoạt động marketing xuất khẩu của doanh
các góc độ nghiên cứu khác nhau, như tài chính, công tác hạch toán chi phí và tính
giá, hoặc cải tiến các kỹ thuật dệt, nhuộm v,v…, nhưng chưa có luận văn nào đề cập
đến marketing xuất khẩu tại Công ty cổ phần May Thăng Long.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là hệ thống lại những vấn đề lý luận về hoạt
động marketing xuất khẩu, nghiên cứu thực trạng hoạt động marketing xuất khẩu
của công ty May Thăng Long tại thị trường Mỹ và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn
thiện hoạt động này trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt tới mục đích trên, đề tài sẽ giải quyết những nhiệm vụ sau đây:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về marketing xuất khẩu của DN.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động marketing xuất khẩu của công ty cổ
phần May Thăng Long tại thị trường Mỹ.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing xuất khẩu của công ty
cổ phần May Thăng Long tại thị trường Mỹ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động marketing xuất khẩu của công ty cổ phần May Thăng Long tại thị
trường Mỹ.
4.2. Phạm vị nghiên cứu
- Về mặt nội dung: Hoạt động marketing xuất khẩu của Công ty cổ phần May
Thăng Long tại thị trường Mỹ;
- Về mặt thời gian: Nghiên cứu hoạt động marketing xuất khẩu của Công ty cổ
phần May Thăng Long tại thị trường Mỹ từ 2013 - 2017. Định hướng phát triển
hoạt động marketing xuất khẩu của Công ty cổ phần May Thăng Long tại thị trường
Mỹ tới năm 2020.
8
Thăng Long để làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu.
9
* Phương pháp xử lý thông tin
Số liệu thu thập được xử lý trên phần mềm Excel.
* Phương pháp tổng hợp - so sánh được dùng để so sánh số liệu và tình hình
hoạt động marketing xuất khẩu năm sau so với năm trước của Công ty CP May
Thăng Long, để nhận định, đối chiếu được thấy được sự thay đổi tích cực hay hạn
chế qua các năm.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mục lục, lời mở đầu, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng biểu,
kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về hoạt động marketing xuất khẩu của doanh nghiệp
Chương 2. Thực trạng hoạt động marketing xuất khẩu của Công ty cổ phần
May Thăng Long tại Thị trường Mỹ
Chương 3. Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing xuất khẩu của
Công ty cổ phần May Thăng Long tại Thị trường Mỹ
10
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING XUẤT
KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Một số vấn đề cơ bản về Marketing và hoạt động Marketing xuất
khẩu
1.1.1. Khái quát về hoạt động Marketing
1.1.1.1. Khái niệm, bản chất của Marketing
a) Khái niệm
vụ; trình bày rõ Marketing không chỉ áp dụng cho các hoạt động kinh doanh nhằm
mục đích lợi nhuận; xác định rõ chức năng của Marketing không chỉ là bán hàng
hay phân phối. Khái niệm này tiếp cận theo quan điểm chức năng Marketing, khi
nói đến Marketing là nói đến 4P, đây cũng là cách tiếp cận của một số giáo trình về
Marketing tại Việt Nam vì nó mang ưu điểm là đơn giản và hướng dẫn thực hiện
cao. Cách tiếp cận lại phù hợp với quy trình quản trị Marketing mà Philip Korler
đưa ra.
- Khái niệm của Viện Marketing Anh quốc-UK Chartered Institute of
Marketing: “Marketing là quá trình tổ chức và quản lý toàn bộ các hoạt động sản
xuất kinh doanh từ việc phát hiện ra nhu cầu thực sự của người tiêu dùng về một
mặt hàng cụ thể đến việc sản xuất và đưa hàng hóa đó đến người tiêu dùng cuối
cùng nhằm bảo đảm cho công ty thu được lợi nhuận như dự kiến.”
Khái niệm này đề cập tương đối toàn diện về tìm nhu cầu, phát hiện và đánh
giá lượng cầu, xác định quy mô sản xuất rồi phân phối, bán hàng một các hiệu quả.
Viện Viện Marketing Anh quốc đả khái quát Marketing lên thành chiến lược từ
nghiên cứu thị trường đến khi thu lợi nhuận như dự kiến.
- Khái niệm của Philip Kotler: “Marketing là tiến trình qua đó cá nhân và tổ
chức có thể đạt được nhu cầu và ước muốn thông qua việc sáng tạo và trao đổi sản
phẩm và giá trị giữa các bên.”
Khái niệm này được trình bày dưới dạng triết lý, phương châm của con người.
ông xác định rõ ý tưởng cội nguồn của Marketing là nhu cầu và ước muốn và nội
dung cơ bản của Marketing là sự trao đổi giá trị. Vì vậy, Marketing cần cho tất cả
mọi người.
- Khái niệm của GS. Vũ Thế Phú: “Marketing là toàn bộ những hoạt động của
doanh nghiệp nhằm xác định nhu cầu chưa được thỏa mãn của người tiêu dùng, để
12
tìm kiếm các sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp có thể sản xuất được, tìm cách
- Marketing là hoạt động hướng tới thỏa mãn nhu cầu khách hàng ngày một tốt
hơn. Muốn biết thị trường và người tiêu dùng cần gì thì nhà sản xuất phải nghiên
cứu thị trường cẩn thận và có phản ứng linh hoạt.
- Marketing không phải là một hiện tượng mà là một quá trình xuất phát từ
khâu nghiên cứu thị trường, tìm kiếm nhu cầu đến khi tìm ra sản phẩm thỏa mãn
nhu cầu đó và sau đó quá trình này được lặp lại.
- Marketing gắn liền với tổ chức và quản lý, đòi hỏi đưa nhanh tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh.
Như vậy, Marketing được hiểu là tổng hòa nhiều hoạt động, với mục đích rõ
ràng. Khái niệm marketing nên được biểu hiện rõ sự chỉ dẫn hướng đến con đường
lập kế hoạch, giúp doanh nghiệp phân tích, cực đại hoá lợi nhuận và làm thoả mãn
nhu cầu tiêu thụ sản phẩm. Doanh nghiệp cũng cần quan tâm đến những điểm mạnh
và những điểm yếu của nó trong các lĩnh vực chức năng hoạt động khác như:sản
xuất, tài chính, kỹ thuật và nhân sự. Các kế hoạch marketing cần phải tạo cân bằng
các mục tiêu, nhu cầu tiêu thụ và khả năng nguồn lực của doanh nghiệp.
b) Bản chất
- Marketing có phạm vi hoạt động rất rộng
Marketing liên quan đến mọi hoạt động, mọi bộ phận trong doanh nghiệp. Hơn
nữa, hoạt động Marketing bắt đầu từ khi nghiên cứu thị trường, cho đến khi tiêu thụ
sản phẩm, thu tiền hàng nhưng Marketing chưa dừng lại ở đó mà hoạt động
Marketing vẫn tiếp tục gợi mở, phát hiện ra các nhu cầu mới và tiếp tục thoả mãn
các nhu cầu ngày càng tốt hơn.
Một mặt, Marketing nghiên cứu thận trọng và toàn diện nhu cầu cũng như thị
hiếu của người tiêu dùng, từ đó định hướng sản xuất để thoả mãn nhu cầu đó. Với ý
thức đó, doanh nghiệp cố gắng sản xuất và tạo ra cái mà thị trường cần, chứ không
chỉ dựa trên khả năng sản xuất của mình. Mặt khác, Marketing tìm cách tác động
đến thị trường và coi trọng nhu cầu tiềm tàng của người tiêu dùng.
- Marketing chỉ cung cấp cái mà thị trường cần chứ không cung cấp cái mà
doanh nghiệp sẵn có
trình này thể hiện rõ ràng ở 4 bước vận động hay 4 bước tiến hành chung của
Marketing.
Marketing vận động theo bốn bước sau:
15
– Thu thập thông tin: Đây là những thông tin đầy đủ và cần thiết về thị trường,
đặc biệt là thông tin về nhu cầu và lượng cầu.
– Kế hoạch hoá chiến lược: Là việc xây dựng kế hoạch Marketing với những
mục tiêu cần phải thực hiện.
– Hành động: Thực thi toàn bộ kế hoạch Marketing. Sự thành công của công
ty phụ thuộc phần lớn ở bước này.
– Kiểm tra: Toàn bộ hoạt động Marketing từ khâu thu thập thông tin cho đến
bước lập kế hoạch, triển khai thực hiện đều phải được kiểm tra. Trong đó kiểm tra
hiệu quả hoạt động kinh doanh là quan trọng nhất.
- Marketing không bỏ qua khâu tiêu thụ
Cách mạng khoa học kỹ thuật làm năng suất lao động tăng, làm cung tăng
nhanh hơn cầu, người mua có nhiều điều kiện lựa chọn sản phẩm hơn. Cung vượt
cầu thì vấn đề đặt ra là làm sao để tiêu thụ được sản phẩm. Sản xuất không còn là
vấn đề khó khăn nhất, mà vấn đề là làm sao đảm bảo sản phẩm, dịch vụ sẽ được tiêu
thụ. Trước đây, khi khoa học kỹ thuật còn hạn chế thì các kỹ sư chế tạo là quan
trọng; nhưng ngày nay, trong điều kiện cung thường có xu hướng vượt cầu, cạnh
tranh diễn ra gay gắt giữa những người bán và thị trường thuộc về người mua thì
các chuyên gia nghiên cứu Marketing, với trách nhiệm nghiên cứu thị trường đảm
bảo tiêu thụ được sản phẩm từ trước khi tiến hành đầu tư sản xuất, đã nắm vai trò
quan trọng hơn.
1.1.1.2. Các hoạt động chủ yếu của Marketing
Marketing lấy khách hàng làm trung tâm, bản chất của Marketing là thỏa mãn
tối đa nhu cầu khách hàng. Theo Philip Kotler, muốn thực hiện điều này quá trình
nhãn hiệu, các đặc tính kỹ thuật, bao gói, kích cỡ và các dịch vụ sau bán hàng.
(2) Chiến lược giá (Price strategy): Là công tác định giá bán sản phẩm-số tiền
mà khách hàng phải trả để có được sản phẩm. Bao gồm: xác định mục tiêu của
chính sách giá, lựa chọn các phương pháp xác định giá, các chính sách giá của
doanh nghiệp.
(3) Chiến lược phân phối (Place strategy): Là các hoạt động của doanh nghiệp
nhằm đưa sản phẩm đến nơi thuận tiện nhất cho khách hàng mục tiêu. Bao gồm các
vấn đề như thiết lập các kiểu phân phối, lựa chọn trung gian, thiết lập mối quan hệ
trong mạng lưới phân phối, các vấn đề về dự trữ, kho bãi, phương tiện vận chuyển.
17
(4) Chiến lược chiêu thị (Promotion strategy): Là mọi hoạt động của doanh
nghiệp nhằm truyền bá những thông tin về các lợi thế của sản phẩm và dịch vụ của
doanh nghiệp và thuyết phục khách hàng mục tiêu mua sản phẩm đó. Bao gồm các
hoạt động như: quảng cáo, quan hệ công chúng, kích thích tiêu thụ, Marketing trực
tiếp và các hoạt động chiêu thị khác.
Ngày nay, một số người tiên phong đã cố gắng phát triển Marketing-Mix bằng
việc bổ sung những công cụ như Packaging (bao bì), People (con người), Process
(quy trình)… Dù vậy, kết cấu cơ bản chiến lược Marketing-Mix chủ yếu vẫn dựa
trên 4P.
d) I (Implementation): Thực hiện
Bước này sẽ triển khai những chiến lược, kế hoạch Marketing thành hành
động. Để chiến lược Marketing đi vào thực tế các doanh nghiệp sẽ tổ chức, thực
hiện chiến lược thông qua việc xây dựng các chương trình hành động cụ thể, tổ
chức nguồn nhân lực thực hiện nó.
e) C (Control): Kiểm soát đánh giá kết quả, xét lại và cải thiện STP và MM
Bước cuối cùng trong hoạt động Marketing là kiểm soát. Một doanh nghiệp
thành công không ngừng học hỏi, rút kinh nghiệm. Họ phải thu thập thông tin phản
Tóm lại, các tác giả khi nói đến hoạt động marketing quốc tế đều đề cập đến
các hoạt động marketing nhằm thâm nhập thị trường nước ngoài, các kế hoạch,
chiến lược marketing nhằm đưa sản phẩm vào và tiêu thụ ở thị trường nước ngoài.
Có thể nói hoạt động marketing xuất khẩu là hoạt động chủ yếu trong marketing
quốc tế. Gerald Albaum cũng đã viết trong cuốn “Marketing quốc tế và Quản trị
xuất khẩu” rằng: “Mặc dù cuốn sách này bàn luận đến mọi lĩnh vực hoạt động của
marketing quốc tế song chủ yếu vẫn tập trung vào marketing xuất khẩu. Đây không
phải mặt hạn chế của cuốn sách mà chính là vì xuất khẩu là bộ phận chính của
marketing quốc tế, cụ thể là các hoạt động, các cách thức nhằm thâm nhập thị
trường nước ngoài” [Gerald Albaum, Jesper Strandskov, Edwin Duerr Laurence
Dowd, International Marketing and Export Management, Addition Wesley
Publishing Company, 1995].
Marketing xuất khẩu mang đầy đủ các đặc trưng cơ bản của marketing nói
chung song theo Gerald Albaum “Sự thành thạo những nguyên tắc marketing
chung là rất cần thiết nhưng chưa đủ để đạt được thành công trong marketing xuất
khẩu”[ Gerald Albaum, Jesper Strandskov, Edwin Duerr Laurence Dowd,
International Marketing and Export Management, Addition Wesley Publishing
19
Company, 1995]. Bởi hoạt động trong môi trường quốc tế khác nhiều so với môi
trường quốc gia. Sự khác biệt về kinh tế, pháp luật, văn hoá, chính trị... đòi hỏi các
nhà hoạt động marketing xuất khẩu phải có cái nhìn toàn cầu, phải đánh giá đúng
đắn thị trường mục tiêu và lùa chọn đúng thị trường, phải nắm bắt được các yếu tố
môi trường có liên quan và xây dựng được kế hoạch marketing thích hợp.
1.1.3. Vai trò của Marketing xuất khẩu
a) Đối với góc độ kinh tế
Là một bộ phận của Marketing, Marketing xuất khẩu cũng có những vai trò
của hoạt động Marketing đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, đặc trưng của hoạt động
động sản xuất và khoa học kỹ thuật công nghệ. Đồng thời, tạo nguồn vốn mở rộng
sản xuất, đáp ứng nhu cầu ngày càng phát triển ở trong nước, tạo thêm công văn
việc làm, góp phần nâng cao thu nhập của nhân dân.
b) Đối với doanh nghiệp
Trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa, hoạt động xuất nhập khẩu có ý
nghĩa cực kỳ quan trọng. Trong đó sự đóng góp của Marketing xuất khẩu là rất cần
thiết. Bởi vì bản thân hoạt động xuất nhập khẩu là một hoạt động vô cùng phức tạp
và chứa đựng nhiều rủi ro khó có thể lường trước được như : những biến động về
kinh tế-chính trị , xã hội, văn hóa, hệ thống pháp luật… của nước nhập khẩu. Qua
đó, hoạt động Marketing xuất khẩu có thể đem lại những lợi ích to lớn cho mỗi
doanh nghiệp.
Thứ nhất, các công ty hoạt động trên phạm vi quốc tế có thể đạt mức doanh số
lớn hơn nhờ thực hiện chuyển giao các khả năng riêng biệt của mình. Các khả năng
riêng biệt này được hiểu là những điểm mạnh duy nhất cho phép công ty đạt được
hiệu quả, chất lượng, đổi mới hoặc sự nhạy cảm với khách hàng cao hơn.
Thứ hai, việc tham gia các hoạt động quốc tế cho phép doanh nghiệp có thể hạ
thấp chi phí nhờ có được lợi thế quy mô và hiệu ứng "đường cong kinh nghiệm"; lợi
thế quy mô cho phép giảm chi phí cố định của một sản phẩm do chia chi phí cố định
theo mức sản lượng lớn. Tác động của đường cong kinh nghiệm sẽ làm giảm chi phí
khả biến đơn vị sản phẩm do nâng cao kỹ năng, kỹ xảo của người lao động.
Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế theo quy mô có thể không có được nếu thị hiếu
của khách hàng trong nước và những đặc điểm khác ở các nước khác nhau đòi hỏi
một số các điều chỉnh sản phẩm – phụ thuộc vào các sản phẩm liên quan và phương
pháp sản xuất ra sản phẩm đó.
21
Ngoài ra, kinh doanh ở thị trường nước ngoài sẽ giúp các nhà quản trị doanh
nghiệp có những ý tưởng mới mẻ hay những phương pháp khác nhau để giải quyết
và mang lại hiệu quả nhất. Hãng ô tô Ferrari chuyên cung cấp các siêu xe tuyệt hảo
làm vừa lòng những quý khách hàng thượng lưu và sành điệu.
Ba là, về chiến lược sản phẩm, đặc thù của marketing xuất khẩu là phải thích
ứng sản phẩm với nhu cầu của thị trường nước ngoài. Vậy doanh nghiệp phải xây
dựng được cơ cấu chủng loại sản phẩm xuất khẩu phù hợp về số lượng, đặc biệt là
chất lượng mà thị trường nước ngoài mong đợi theo từng nền văn hóa đặc thù.
Về chiến lược phân phối và giá cả, nét đặc thù cơ bản của marketing xuất khẩu
là việc tính toán kênh phân phối và ấn định mức giá bán hàng ra nước ngoài. Đây
cũng là một trong những nội dung phức tạp điển hình của marketing xuất khẩu. Về
chiến lược yểm trợ, nét đặc thù nổi bật của Marketing xuất khẩu là việc tôn tạo hình
ảnh thương hiệu ra thị trường nước ngoài. Muốn tạo dựng được hình ảnh thương
hiệu mạnh, doanh nghiệp phải đảm bảo sản phẩm có chất lượng cao, kết hợp với
quảng cáo quốc tế, hội chợ triển lãm thương mại quốc tế, các chương trình khuyến
mãi hiệu quả
1.2. Nội dung cơ bản hoạt động Marketing xuất khẩu của doanh nghiệp
1.2.1. Nghiên cứu thị trường xuất khẩu
Đây là bước khởi đầu nhưng là bước quan trọng nhất trong hoạt động
Marketing xuất khẩu của DN, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định sau này
về thị trường và cách thức thâm nhập thị trường xuất khẩu. Vì vậy, trước khi thâm
nhập thị trường xuất khẩu, DN cần tiến hành nghiên cứu thị trường, phân tính tình
hình thị trường, đánh giá kỹ môi trường markeing của nước xuất khẩu: tiêu chí văn
hóa, hành vi tiêu dùng, môi trường luật phát và chính trị, môi trường kinh tế và môi
trường xã hội và đạo đức. Từ đó, DN xuất khẩu phân tích SWOT, phân đoạn thị
trường.
Sự khác biệt của nghiên cứu thị trường xuất khẩu so với nghiên cứu thị trường
trong nước thể hiện ba giai đoạn:
Thứ nhất, tìm hiểu thông tin chung về đất nước, về khu vực và thị trường bao
gồm thông tin về kinh tế (dân số, thu nhập, sản xuất...); về yếu tố văn hóa và xã hội
(vai trò của gia đình, giáo dục, ngôn ngữ, tín ngưỡng, thái độ đối với công việc, thái
cần đầu tư thích đáng vào việc nghiên cứu, phân tích các yếu tố môi trường
marketing xuất khẩu và ảnh hưởng của nó để đề ra chiến lược đúng đắn cho khâu
sản phẩm và thị trường.
- Môi trường văn hóa
24
Văn hóa là các tiêu chuẩn, giá trị và tập quán được xã hội công nhận rộng rãi,
từ đó dẫn đến các mẫu hình hành vi xử sự thông thường. Văn hóa ảnh hưởng đến
cách thức phản hồi của người tiêu dùng đối với sản phẩm và những sản phẩm họ
mua. Thực tế kinh doanh trên thị trường xuất khẩu cho thấy, nhiều công ty không
chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa – cội nguồn của hành vi tiêu dùng như tập quán
tiêu dùng, mối quan hệ trong kinh doanh hoặc thiếu kiến thức về ngôn ngữ địa
phương. Kết quả là họ đã gặp nhiều khó khăn, thậm chí thất bại khi đưa sản phẩm ra
thị trường. Ngược lại, khi công ty nghiên cứu kỹ càng các tiêu chuẩn và giá trị của
người tiêu dùng nước ngoài, họ sẽ kinh doanh hiệu quả hơn ở thị trường xuất khẩu.
Thông qua nghiên cứu, công ty nắm được thông tin cụ thể và chính xác về hành vi
tiêu dùng và đưa ra những quyết định marketing phù hợp. Tóm lại, nghiên cứu đầy
đủ các tiêu chuẩn, thị hiếu, sự ưu thích và ngôn ngữ của người tiêu dùng là vô cùng
quan trọng của công ty khi thâm nhập thị trường xuất khẩu.
- Môi trường pháp luật – chính trị
Trước khi đưa ra quyết định thâm nhập thị trường nước ngoài, điều tối cần
thiết mà một công ty cần nghiên cứu là hệ thống luật pháp, đặc biệt là các quy định
thương mại của nước sở tại. Một điều rõ ràng là, hệ thống pháp luật ở các nước
khác nhau thì khác nhau. Môi trường pháp luật ở thị trường xuất khẩu có những đặc
điểm riêng, những phức tạp riêng mà các nhà hoạt động marketing phải xem xét để
đảm bảo hoạt động kinh doanh của họ không vi phạm luật pháp của nước đó, tránh
những tổn thất to lớn có thể xảy ra.
Song song với môi trường luật pháp, môi trường chính trị cũng đóng vai trò
đề đê quyết định xuât khâu hàng hóa vào thị trường đó.
+ Tình trạng phát triển kinh tế:
Nhóm nước có nền kinh tế hiện vật. Ở những nước này, đại bộ phận dân cư
làm nghề nông. Phần lớn sản phẩm làm ra do chính họ tự tiêu dùng, một bộ phận rất
nhỏ được đem ra trao đổi lấy các hàng hoá và dịch vụ giản đơn. Nền kinh tế có mức
sống rất thấp, trong điều kiện như vậy nhà xuất khẩu có rất có khả năng.
Nhóm nước xuất khẩu nguyên liệu thô. Là những nước giàu về một hay nhiều
tài nguyên thiên nhiên song lại nghèo các thứ khác. Đây là thị trường tốt để tiêu thụ
các thiết bị khai khoáng, dụng cụ và vật tư phụ trợ, thiết bị bốc dỡ, xe ô tô tải cũng
như các mặt hàng tiêu dùng kiểu phương Tây và những đồ xa xỉ.