LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay khi xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống của con người ngày
càng đầy đủ thì nhu cầu của con người ngày càng cao. Các quốc gia trên thế
giới đều cố gắng tạo cho dân cư nước mình một cuộc sống no đủ cả về vật
chất và tinh thần. Các quốc gia cũng quan tâm đến nhau hơn cùng nhau giải
quyết các vấn đề kinh tế và xã hội. Toàn cầu hoá trở thành một xu thế tất yếu
đối với sự phát triển của mỗi quốc gia đặc biệt là các nước đang phát triển.
Việt Nam cũng hội nhập vào nền kinh tế thế giới trong xu thế toàn cầu
hoá và không ngừng đổi mới để theo kịp sự phát triển của loài người. Từ khi
Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì vấn đề phát triển kinh tế ngày càng
được quan tâm. Hàng hoá của chúng ta đã có mặt ở rất nhiều quốc gia trên thế
giới và cũng có nhiều nước biết đến Việt Nam như một điểm đến đầy hấp
dẫn.
Trong quá trình phát triển kinh tế đất nước ngành dệt may luôn đóng một
vai trò quan trọng. Đây là một trong bảy ngành xuất khẩu chủ lực của nước ta
góp phần giải quyết công ăn việc làm cho một bộ phận lớn lao động nhàn rỗi
mang về nguồn thu ngoại tệ cho đất nước. Ngành dệt may đã thể hiện được
lợi thế cạnh tranh của nước ta với một nguồn lao động trẻ dồi dào, giá nhân
công rẻ và chi phí sản xuất tương đối thấp. Bên cạnh việc đẩy mạnh sản xuất
ngành còn đặt ra mục tiêu phải mở rộng thị trường tiêu thụ, đa dạng hoá thị
trường, giải quyết được đầu vào và đầu ra cho sản phẩm. Ngày nay khi Việt
Nam đã là thành viên của WTO sẽ đem lại cho dệt may nhiều cơ hội mới
nhưng ngành cũng phải đối mặt với nhiều thách thức mới. Toàn ngành đang
nỗ lực hết sức mình để dệt may Việt Nam có thể cất cánh bay lên một tầm cao
mới.
1
Công ty Cổ phần may Sông Hồng đã có hơn 20 năm công tác xuất khẩu
dệt may ra thị trường thế giới.Trong những năm qua Công ty đã có rất nhiều
nỗ lực và cố gắng sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may ra thế giới. Hiện nay
sản phẩm của công ty đã có mặt ở nhiều quốc gia lớn trên thế giới hàng năm
thị trường xuất khẩu, nhiều khách hàng khó tính nhất đã ký kết làm ăn lâu
dài với công ty…
Tháng 7 năm 2004 vừa qua, công ty đã chuyển thành Công ty Cổ phần
May Sông Hồng với 100% vốn là do các cổ đông đóng góp. Đây là một bước
ngoặt đánh dấu sự trưởng thành và lớn mạnh của Công ty. Rất nhiều thương
hiệu may mặc nổi tiếng thế giới đã đặt hàng sản xuất với số lượng lớn tại
Sông Hồng như: GAP, Old Navy, Timberlands, JcPenny, Diesel, Spyder,
Champion, Sag Harbor, Liz Claiborne, Reset, Cabela’s, Benetton, C&A….
Tháng 10 năm 2005 Công ty đã mở rộng quy mô sản xuất về thị trấn
Xuân Trường huyện Xuân trường với diện tích hơn 7 ha.
Tháng 11 năm 2006, Công ty đã mở một văn phòng đại diện tại Hồng
Kông với mục tiêu nhận trực tiếp đơn hàng từ khách hàng mà không qua các
3
hệ thống trung gian (trực tiếp lo từ đầu vào là nguyên vật liệu,thiết kế,… để
cuối cùng đầu ra một sản phẩm hoàn chỉnh) gọi tắt là hàng FOB, xu hướng sẽ
bỏ dần kiểu truyền thống là gia công cố hữu.
Chức năng chính của công ty là gia công may mặc các loại áo jacket, quần
Short và sản xuất chăn ga gối đệm cao cấp, siêu cao cấp đáp ứng nhu cầu theo
đơn đặt hàng xuất khẩu trong và ngoài nước
2. Chứ năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức:
Công ty cổ phần may Sông Hông được thành lập vào năm 1988.Tổng
giám đốc của công ty là ông Bùi Đức Thịnh.Diện tích của công ty (theo năm
2007) là160.000m2.Trong đó đến 90.000m2 là diện tích nhà xưởng.Công ty
có 10 xưởng may,trên 6.200 thiết bị may và các thiết bị chuyên dùng cho sản
xuất bông,chăn,giặt thuộc các thế hệ thiết bị mới nhâtSố công nhân của công
ty theo năm 2007 là 5.700 người.Công ty có các loại sản phẩm may mặc
chính : áo jacket, gilê, lông vũ các loại, quần, quần short nam nữ, trẻ em, áo
vest nữ, váy.Các sản phẩm của công ty chủ yếu để xuất khẩu sang nước ngoài
và các thị trường xuất khẩu chính là : Mỹ, EU, Canada, Nhật Bản, Hàn
Quốc,Colombia.
Giám đốc
Điều hành
Quản trị
NNL &
Hành Chính
Phòng Kế
hoạch thị
trường
Phòng Kỹ
thuật Đầu
Tư
Phòng Kế
toán tài chính
Phòng
xuất nhập
khẩu
Phòng Tổ
chức hành
chính
Đại diện lãnh
đạo về sức
khoẻ và an
toàn
Phòng
Thương Mại
Nhà máy
Sợi
TTTN &
KTCLSP
Nhà máy
xuất ở trong nước trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiên thanh toán, với mục
tiêu là lợi nhuận. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc
với cả hai quốc gia. Mục đích của hoạt động này là khai thác được lợi thế của
từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Khi việc trao đổi hàng hoá
giữa các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng
hoạt động này.
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động xuất khẩu là hoạt động cơ bản của
hoạt động ngoại thương . Nó đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển
của xã hội và ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu.
Hình thức sơ khai của chúng chỉ là hoạt động trao đổi hàng hoá nhưng cho
đến nay nó đã phát triển rất mạnh và được biểu hiện dưới nhiều hình thức.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện của
nền kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc
hàng hoá thiết bị công nghệ cao. Tất cả các hoạt động này đều nhằm mục tiêu
đem lại lợi ích cho quốc gia nói chung và các doanh nghiệp tham gia nói
riêng.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra rất rộng về không gian và thời gian. Nó có
thể diễn ra trong thời gian rất ngắn song cũng có thể kéo dài hàng năm, có thể
được diễn ra trên phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau. Mục
6
tiêu của xuất khẩu khai thác lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao
động quốc tế, và thực hiện mục tiêu chủ yếu quan trọng là xuất khẩu thu
ngoại tệ để nhập khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu của kinh tế nước nhà bao gồm:
nhu cầu phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá cho tiêu dùng và tạo thêm
nhiều công ăn việc làm.
1.2. Vai trò
Trong xu thế hội nhập và quốc tế hoá hiện nay xuất khẩu là điều kiện tồn
tại, tăng trưởng và phát triển của mỗi quốc gia trong một trật tự chung của thế
giới. Mỗi quốc gia không thể nào có đủ các nguồn lực, các yếu tố đầu vào để
đáp ứng cho sản xuất của nền kinh tế quốc dân. Đồng thời một quốc gia cũng
dùng của nước này với nước khác. Có thể nói sự phát triển của của xuất khẩu
sẽ là một trong những động lực chính để thúc đẩy sản xuất.
Trước hết, xuất khẩu bắt nguồn từ sự đa dạng về điều kiện tự nhiện của
sản xuất giữa các nước, nên chuyên môn hoá một số mặt hàng có lợi thế và
nhập khẩu các mặt hàng khác từ nước ngoài mà sản xuất trong nước kém lợi
thế hơn thì chắc chắn sẽ đem lại lợi nhuần lớn hơn.
1.2.2 Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia
Xuất khẩu là một trong những tố tạo đà, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát
triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Theo như hầu hết các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế đều
khẳng định và chỉ rõ để tăng trưởng và phát triển kinh tế mỗi quốc gia cần có
bốn điều kiện là nguồn nhân lực, tài nguyên, vốn, kỹ thuật, công nghệ. Nhưng
8
hầu hết các quốc gia đang phát triển (như Việt Nam ) đều thiếu vốn, kỹ thuật
công nghệ. Do vậy câu hỏi đặt ra làm thế nào để có vốn và công nghệ
1.2.2.1 Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước
Đối với nước ta hiện nay để thực hiện để thực hiện đường lối của Đảng
và nhà nước đến năm 2020 thực hiện xong công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải
cần một nguồn vốn ngoại tệ lớn để nhập các trang thiết bị kỹ thuật công nghệ
hiện đại. Ngoài những nguồn vốn viện trợ chúng ta cần phải tăng cường xuất
khẩu để đảm bảo cho khả năng thanh toán, cân bằng cán cân thanh toán quốc
tế, tạo được một khối lượng vốn cần thiết để đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh
tế của nước ta trong thời kỳ mới này.
Đối với mọi quốc gia đang phát triển thì bước đi thích hợp nhất là phải
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để khắc phục tình trạng nghèo làn lạc
hậu chận phát triển. Tuy nhiên quá trình công nghiệp hoá phải có một lượng
vốn lớn để nhập khẩu công nghệ thiết bị tiên tiến.
Thực tế cho thấy, để có nguồn vốn nhập khẩu một nước có thể sử dụng
nguồn vốn huy động chính như sau:
khẩu. Nó thể hiện:
+ Xuất khẩu tạo tiền đề cho các ngành cùng có cơ hội phát triển. Điều
này có thể thông qua ví dụ như khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu, các
ngành khác như bông, kéo sợi, nhuộm, tẩy…sẽ có điều kiện phát triển.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm, góp phầnổn
10
định sản xuất, tạo lợi thế nhờ quy mô.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất, mở rộng thị trường tiêu dùng của một quốc gia. Nó cho phép một quốc
gia có rthể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lương lớn hơn nhiều lần giới
hạn khả năng sản xuất của quốc gia đó thậm chí cả những mặt hàng mà họ
không có khả năng sản xuất được.
+ Xuất khẩu góp phần thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cường hiệu quả
sản xuất của từng quốc gia. Nó cho phép chuyên môn hoá sản xuất phát triển
cả về chiều rộng và chiều sâu. Trong nền kinh tế hiện đại mang tính toàn cầu
hoá như ngày nay, mỗi loại sản phẩm người ta nghiên cứu thử nghiệm ở nước
thứ nhất, chế tạo ở nước thứ hai, lắp ráp ở nước thứ ba, tiêu thụ ở nước thứ tư
và thanh toán thực hiện ở nước thứ 5. Như vậy, hàng hoá sản xuất ra ở mỗi
quốc gia và tiêu thụ ở một quốc gia cho thấy sự tác động ngược trở lại của
chuyên môn hoá tới xuất khẩu.
Với đặc điêm quan trọng là tiền tệ sản xuất sử dụng làm phương tiện
thanh toán, xuất khẩu góp phần làm tăng dự trữ ngoại tệ một quốc gia. Đặc
biệt với các nước đang phát triển đồng tiền không có khả năng chuyển đổi thì
ngoại tệ có được nhờ xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà về
cung cấp ngoại tệ, ổn định sản xuất, qua đó góp phần vào tăng trưởng và phát
triển kinh tế.
1.2.2.3 Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm,
cải thiện đời sống nhân dân
Đối với công ăn việc làm, xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động thông
qua việc sản xuất hàng xuất khẩu. Mặt khác, xuất khẩu tạo ra ngoại tệ để nhập
Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp, tăng dự trữ qua đó
nâng cao khả năng nhập khẩu, thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết bị,
nguyên vật liệu… phục vụ cho quá trình phát triển.
Xuất khẩu phát huy cao độ tính năng động sáng tạo của cán bộ XNK
cũng như các đơn vị tham gia như: tích cực tìm tòi và phát triển các mặt trong
khả năng xuất khẩu các thị trường mà doanh nghiệp có khả năng thâm nhập.
Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện
công tác quản trị kinh doanh. Đồng thời giúp các doanh nghiệp kéo dài tuổi
thọ của chu kỳ sống của một sản phẩm.
Xuất khẩu tất yếu dẫn đến cạnh tranh, theo dõi lần nhau giữa các đơn vị
tham gia xuất khẩu trong và ngoài nước. Đây là một trong những nguyên
nhân buộc các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu phải nâng cao chất lượng
hàng hoá xuất khẩu, các doanh nghiệp phải chú ý hơn nữa trong việc hạ giá
thành của sản phẩm, từ đó tiết kiệm các yếu tố đầu vào, hay nói cách khác tiết
kiệm các nguồn lực.
Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được thu hút được
nhiều lao động bán ra thu nhập ổn định cho đời sống cán bộ của công nhân
viên và tăng thêm thu nhập ổn định cho đời sống cán bộ của công nhân viên
và tăng thêm lợi nhuận.
Doanh nghiệp tiến hành hoạt động xuất khẩu có cơ hội mở rộng quan hệ
buôn bán kinh doanh với nhiều đối tác nước ngoài dựa trên cơ sở đôi bên
cùng có lợi.
2. Những nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu
2.1. Các nhân tố vĩ mô
Thực chất của chính sách thương mại quốc tế của Nhà nước bao gồm
một hệ thống các nguyên tắc và biện pháp thích hợp được áp dụng để điều
13
chỉnh các hoạt động ngoại thương cho phù hợp với lợi ích chung của Nhà
nước trong từng giai đoạn.
Chính sách thương mại quốc tế là một hệ thống chính sách của Nhà nước
nhỏ so với dung lượng của thị trường thế giới cho nên thuế xuất khẩu sẽ làm
hạ thấp tương đối mức giá cả trong nước của hàng hoá có thể xuất khẩu
xuống so với mức giá cả quốc tế. Điều đó sẽ làm sản lượng trong nước của
mặt hàng có thể xuất khẩu sẽ giảm đi và sản xuất trong nước sẽ thay đổi bất
lợi cho những mặt hàng này. Trong một số trường hợp, việc đánh thuế xuất
khẩu làm cho khối lượng xuất khẩu giảm đi nhiều mà vẫn có lợi cho nước
xuất khẩu, nếu như họ có tác động đáng kể đến giá quốc tế. Ví dụ: có sự độc
quyền việc xuất khẩu sâm của Triều Tiên.
Như vậy, thuế xuất khẩu sẽ làm giảm lượng cung quá mức trong nước
đối với hàng có thể xuất khẩu, đồng thời chúng sẽ tác động đến hoạt đông
thương mại khác cũng như phân phối lại lợi ích. Vì vậy Nhà nước tuỳ theo
những mặt hàng được khuyến khích xuất khẩu hay không khuyến khích xuất
khẩu mà có biểu thuế khác nhau do đó nó tác động rất lớn đến các mặt hàng
xuất khẩu của doanh nghiệp xuất khẩu.
2.1.2 Hạn ngạch
Các nước thường áp dụng hạn ngạch để bảo hộ sản xuất trong nước. Ví
dụ: hạn ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Mỹ, EU nó ảnh
hưởng đến lượng hàng xuất khẩu của nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu.
Để đảm bảo cho mục tiêu phát triển của các ngành xuất khẩu mũi nhọn Nhà
nước thường phải đàm phán để nâng cao số lượng hàng hoá trong hạn ngạch
15
hoặc xoá bỏ hạn ngạch. Hạn ngạch được hiểu là quy định của Nhà nước về số
lượng còn giá trị của một mặt hàng hoặc một nhóm mặt hàng được phép xuất
khẩu sang hoặc nhập khẩu từ một thị trường nhất định. Ví dụ như Nhà nước
có thể hạn chế mức nhập khẩu xe hơi Nhật ở mức tối đa 100.000 xe trong
một năm. Như vậy hạn ngạch nó hạn chế số lượng nhập khẩu đồng thời nó
cũng ảnh hưởng đến giá nội địa của hàng hoá. Do mức cung thấp giá cân bằng
sẽ cao hơn trong điều kiện thương mại tự do. Như vậy hạn ngạch tương đối
giống với thuế nhập khẩu. Giá hàng nhập nội địa đối với người tiêu dùng tăng
lên và chính giá cao này cho phép các nhà sản xuất nội địa kém hiệu quả sản
hàng gạo.
2.1.3 Trợ cấp xuất khẩu
Bên cạnh các công cụ nhằm hạn chế nhập khẩu còn có những công cụ
dùng để nâng đỡ hoạt động xuất khẩu. Chính phủ có thể áp dụng các biện
pháp trợ cấp trực tiếp hoặc cho vay với lãi suất thấp đối với các nhà xuất khẩu
trong nước. Bên cạnh đó Chính phủ còn có thể thực hiện một khoản cho vay
ưu đãi đối với các bạn hàng nước ngoài để họ có điều kiện mua các sản phẩm
do nước mình sản xuất ra, và để xuất khẩu ra bên ngoài. Đây chính là các
khoản tín dụng "viện trợ" mà Chính phủ các nước công nghiệp phát triển áp
dụng, khi cho các nước đang phát triển vay (thường có kèm theo các điều kiện
chính trị).
Giả sử để nâng đỡ một ngành sản xuất nào đó, Chính phủ sẽ trợ cấp trực
tiếp một khoản tiền nhất định cho bộ phận sản phẩm được đem vào xuất khẩu.
Khi ấy các nhà sản xuất trong nước sẽ thu lợi về chính khoản tiền trợ cấp đó.
Nhưng tác động của việc trợ cấp sẽ lan tràn sang các khâu khác. Cụ thể là:
- Mức cung thị trường nội địa bị giảm do giảm quy mô xuất khẩu, giá cả thị
17
trường tăng lên, người tiêu dùng trong nước sẽ bị thiệt một khoản tiền nhất định.
- Chi phí ròng của xã hội phải bỏ ra để bảo hộ việc khuyến khích xuất
khẩu gây thiệt hại cho xã hội gồm có chi phí nội địa do sản xuất thêm nhiều
sản phẩm để xuất khẩu (chi phí cận biên nội địa tăng lên), đồng thời gồm cả
chi phí do giảm mức tiêu dùng trong nước. Lưu ý là lợi ích mà nhà sản xuất
thu được nhỏ hơn chi phí mà xã hội phải bỏ thêm. Như vậy là trợ cấp xuất
khẩu đưa đến cái hại nhiều hơn là cái lợi. Nhưng trong thực tế nó vẫn được sử
dụng để phục vụ cho một mục đích cụ thể nào đó. Bởi vậy cần phải cân nhắc
thận trọng khi áp dụng các công cụ này.
2.1.4 Tỷ giá hối đoái và các chính sách đòn bẩy có liên quan nhằm đẩy
mạnh xuất khẩu
Đẩy mạnh xuất khẩu là một chương trình kinh tế quan trọng của mỗi
nước. Muốn đẩy mạnh xuất khẩu đòi hỏi phải có những chính sách và biện
2.2. Các nhân tố vi mô
2.2.1 Tiềm lực tài chính
Là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua
khối lượng (nguồn) vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh,
khả năng phân phối (đầu tư) có hiệu quả các nguồn vốn. Khả năng quản lý có
hiệu quả các nguồn vốn trong kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện qua các
chỉ tiêu:
- Vốn chủ sở hữu (vốn tự có)
- Vốn huy động
- Tỷ lệ tái đầu tư về lợi nhuận
19
- Khả năng trả nợ ngắn hạn và dài hạn
- Các tỷ lệ về khả năng sinh lời
2.2.2 Tiềm năng con người
Trong kinh doanh (đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ, hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu) con người là yếu tố quan trọng hàng đầu để
bảo đảm thành công. Chính con người với năng lực thật của họ mới lựa chọn
đúng cơ hội và sử dụng sức mạnh khác mà họ đã và sẽ có: vốn, tài sản, kỹ
thuật công nghệ… một cách có hiệu quả để khai thác và vượt qua cơ hội.
2.2.3 Trình độ tổ chức quản lý
Mỗi một doanh nghiệp là một hệ thống với những liên kết chặt chẽ với
nhau hướng tới mục tiêu. Một doanh nghiệp muốn đạt được mục tiêu của
mình thì đồng thời phải đồng thời phải đạt tới một trình độ tổ chức, quản lý
tương ứng. Khả năng tổ chức, quản lý doanh nghiệp dựa trên quan điểm tổng
hợp, bao quát, tập trung vào những mối liên hệ tương tác của tất cả các bộ
phận tạo thành tổng thể tạo nên sức mạnh thật sự cho doanh nghiệp.
2.2.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật phản ánh nguồn tài sản cố định doanh nghiệp có
thể huy động vào kinh doanh: thiết bị, nhà xưởng… Nếu doanh nghiệp có cơ
sở vật chất kỹ thuật càng đầy đủ và hiện đại thì khả năng nắm bắt thông tin
đổi. Sự thay đổi đó là một trong những rủi ro lớn đối với nhà làm kinh doanh
xuất khẩu. Vì vậy, họ phải nắm được chiến lược phát triển kinh tế của đất
21
nước để nắm được xu hướng vận động của nền kinh tế và sự can thiệp của
Nhà nước.
Yếu tố hạ tầng phục vụ cho hoạt động xuất khẩu: các yếu tố hạ tầngphục
vụ cho hoạt động xuất khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt đông xuất khẩu,
chẳng hạn như:
- Hệ thống giao thông đặc biệt là hệ thống cảng biển: mức độ trang bị, hệ
thống xếp dỡ, thủ tục giao nhận cũng như đảm bảo an toàn cho hàng hoá xuất khẩu.
- Hệ thống ngân hàng: sự phát triển của hệ thống ngân hàng cho phép
các nhà kinh doanh xuất khẩu thuận lợi trong việc thanh toán, huy động vốn.
Ngoài ra ngân hàng là một nhân tố đảm bảo lợi ích cho nhà kinh doanh bằng
các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng.
- Hệ thống bảo hiểm, kiểm tra chất lượng hàng hoá cho phép các hoạt
động xuất khẩu được thực hiện một cách an toàn hơn, đồng thời giảm bớt
mức độ thiệt hại khi có rủi ro xảy ra…
Nhu cầu của thị trường nước ngoài: do khả năng của nước nhập khẩu
không đủ để đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, hoặc do các mặt
hàng trong nước sản xuất không đa dạng nên không thoả mãn được nhu cầu
của người tiêu dùng, nên đòi hỏi các nước phải nhập khẩu hàng hoá của các
nước khác. Chính điều này cũng là một trong các nhân tố để thúc đẩy xuất
khẩu của các nước có khả năng đáp ứng được nhu cầu trong nước và cả nhu
cầu của nước ngoài.
Mỹ là thị trường nhập khẩu hàng dệt may không hạn ngạch có tiềm năng
lớn thứ hai của Việt Nam. Chỉ bằng 2/3 dân số EU nhưng mức tiêu thụ vải
của người Mỹ lại gấp 1,5 lần EU. Đây là thị trường không chỉ hấp dẫn đối với
ngành dệt may Việt Nam mà hầu hết các doanh nghiệp dệt may trên thế giới
đều có mong muốn trở thành bạn hàng với Mỹ. Hiện nay, Mỹ chưa cho Việt
22
thập kỷ tới Mỹ vẫn tiếp tục là nền kinh tế mạnh nhất, có ảnh hưởng lớn đến
nền kinh tế toàn cầu.
Hệ thống chính trị của Mỹ hoạt động theo nguyên tắc tam quyền phân
lập, quyền lập pháp tối cao được quốc hội thực hiện thông qua Thượng nghị
viện và Hạ nghị viện. Hệ thống luật pháp của Mỹ được phân thành hai cấp đó
là các bang và trung ương. Mỗi bang lại là một đơn vị độc lập có quyền tự
quyết và hệ thống luật pháp riêng. Một đặc điểm lớn trong chính sách đối
ngoại của Mỹ là thường hay sử dụng chính sách cấm vận và trừng phạt kinh tế
để đạt được mục đích của mình, điều này khiến cho nhiều người dân vô tội
phải chịu cảnh bần hàn.
Hệ thống luật pháp của Mỹ là khá chặt chẽ, chi tiết và phức tạp. Đây
được coi là vũ khí thương mại lợi hại của Mỹ. Muốn đặt chân vào thị trường
Mỹ trước hết phải hiểu biết về luật pháp Mỹ. Một vấn đề cần lưu ý mà các
doanh nghiệp Việt Nam hay mắc phải về luật pháp của Mỹ đó là Luật thuế bù
giá và Luật thuế chống bán phá giá. Đây được coi là hai đạo luật phổ biến
nhất bảo hộ các ngành công nghiệp của Mỹ chống lại hàng nhập khẩu. Điều
lợi hại của hai đạo luật này là nó quy định phần thuế bổ sung sẽ được ấn định
đối với hàng nhập khẩu nếu chúng bị phát hiện là được trao đổi không công
bằng.
Hoa Kỳ cũng là một nước có nền văn hoá đa dạng gồm nhiều cộng đồng
người. Các cộng đồng người này đã đem vào Hoa Kỳ những phong tục tập
quán, ngôn ngữ và đức tin riêng của họ. Do đó nền văn hoá Mỹ phong phú, đa
dạng và phức tạp. Từ bao đời nay chủ nghĩa thực dụng vẫn là nét tiêu biểu của
văn hoá Mỹ và lối sống Mỹ. Người Mỹ coi trọng sự chính xác, cách làm việc
cẩn thận, tỉ mỉ và khoa học vì vậy họ đánh giá đối tác dựa vào hiệu quả và
24
năng suất làm việc, coi trọng trình độ chuyên môn và khả năng cá nhân. Tôn
giáo chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn hoá tinh thần của người Mỹ
bởi Mỹ có 219 tôn giáo lớn nhỏ nhưng chỉ có 3 tôn giáo chính là Kito giáo
chiếm 40%, Thiên chúa giáo chiếm 30%, Do thái giáo 3,2%. Tuy đa số dân số