luận văn thạc sĩ hoạt động truyền thông marketing cho công tác tuyển sinh của trường đại học hòa bình - Pdf 59

1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi. Các nội dung
và kết quả nghiên cứu trong luận văn thạc sỹ này hoàn toàn do cá nhân tôi tự thực
hiện, đánh giá và trình bày một cách trung thực, hợp lý.
Tôi xin chịu toàn bộ trách nhiệm đối với luận văn của mình.

Học viên

Nguyễn Thị Linh Phương


2

LỜI CẢM ƠN
Luận văn cao học này được hoàn thành tại Trường Đại học Thương Mại. Để
có được bản luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin trân trọng cảm ơn và bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc đến Trường Đại học Thương Mại, Khoa Sau đại học, các thầy cô
giáo - các nhà khoa học đã truyền dạy những kiến thức khoa học chuyên ngành
quản trị kinh doanh cho bản thân tác giả trong những năm học qua.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo
PGS.TS. Đàm Gia Mạnh đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tác giả với những
chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình nghiên cứu, triển khai và hoàn thành
đề tài “ Hoạt động truyền thông marketing cho công tác tuyển sinh của Trường Đại
học Hoà Bình”.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn tới Hiệu trưởng, các Phó Hiệu trưởng, cùng toàn
bộ các cán bộ, giảng viên và nhân viên trong toàn Trường Đại học Hoà Bình đã tạo
điều kiện thuận lợi cho tác giả thu thập tài liệu về hoạt động truyền thông marketing
cho công tác tuyển sinh. Các cán bộ, giảng viên đã nhiệt tình tham gia góp ý kiến,

5

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, để có thể đạt được mục tiêu kinh doanh
trên thị trường, có một sản phẩm tốt không thôi chưa đủ, bất kể đơn vị kinh doanh
nào cũng cần phải xây dựng thương hiệu của mình thành một thương hiệu được
khách hàng ưa chuộng. Muốn làm được điều đó doanh nghiệp cần phải truyền thông
với thị trường để khách hàng biết những tính năng ứng dụng, tính ưu việt và lợi ích
của sản phẩm mình. Ngoài ra, doanh nghiệp còn cần phải xây dựng mối quan hệ với
khách hàng và duy trì củng cố mối quan hệ này. Vì những yêu cầu trên, doanh
nghiệp cần có một chiến lược truyền thông marketing thật tốt và hiệu quả.
Ở Việt Nam hiện nay, dịch vụ giáo dục ngày càng phát triển và được Đảng,
Nhà nước quan tâm. Với việc mở cửa nền giáo dục và gia tăng thêm các trường
ngoài công lập, gia tăng thêm các chương trình đào tạo quốc tế làm cho thị trường
giáo dục ngày càng đa dạng và phong phú. Điều này làm thúc đẩy thị trường giáo
dục Việt Nam nói chung và giáo dục đại học ở Việt Nam nói riêng phát triển mạnh
mẽ. Chính vì vậy các trường đại học hiện nay phải cạnh tranh gay gắt với nhau
trong vấn đề tuyển sinh cho các năm học mới. Các trường đại học muốn tồn tại
được bắt buộc phải quan tâm hơn đến học sinh phổ thông (khách hàng tiềm năng
của mình) cần biết họ muốn gì, biết gì và hiểu gì về vấn đề đào tạo, ngành nghề đào
tạo, chất lượng đào tạo để đưa ra quyết định về hoạt động truyền thông marketing
cho phù hợp với nhu cầu khách hàng. Bản thân học sinh phổ thông trung học cũng
muốn được cung cấp nhiều thông tin hơn về ngôi trường mà mình sắp lựa chọn để
học tập như về chuẩn đầu ra, cơ hội việc làm sau khi ra trường và trên hết muốn qua
một số kênh nào đó để phản ảnh sự hài lòng, không hài lòng với các quyết định
quản trị hiện tại của trường đại học về vấn đề giảng dạy, cung cấp thông tin v.v…
Trường Đại học Hòa Bình được thành lập theo Quyết định số 244/QĐ -TTg
ngày 28 tháng 02 năm 2008 của Thủ tướng Chính Phủ. Ngay từ khi được thành lập

marketing như:
-

Luận văn “Hoàn thiện truyền thông marketing nhà hát nghệ thuật đương đại Việt
Nam”, Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh, trường Đại học Thương Mại [12]. Tác
giả luận văn đã hệ thống hóa các lý luận cơ sở lên quan đến hoạt động truyền
thông marketing trong donah nghiệp. Phân tích thực trạng truyền thông
marketing của Nhà hát nghệ thuật đương đại Việt Nam, chỉ ra những đặc thù của
chương trình truyền thông marketing của các đơn vị sự nghiệp Nhà nước. Từ đó
đề xuất các giải pháp phù hợp cho chương trình truyền thông marketing của nhà

-

hát trong thời gian tới.
Luận văn “Hoàn thiện chính sách truyền thông marketing nhằm thu hút khác hàng
của khách sạn ở khu phố cổ Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, trường
Đại học Thương Mại [13]. Luận văn đã trình bày một số lý luận về các chính sách
marketing nói chung và chính sách truyền thông marketing nói riêng; phân tích các


8

chính sách truyền thông marketing hiện tại của một số khách sạn ở khu phố cổ Hà
Nội nhằm đánh giá hiệu quả của các chính sách này trong việc thu hút khách hàng
trong thời gian qua. Từ đó tìm ra những thành công, hạn chế và đề xuất các giải
pháp hiệu quả nhằm hoàn thiện các chính sách truyền thông marketing của khách
-

sạn này trong thời gian tới.
Luận văn “Phát triển truyền thông marketing của quỹ tín dụng nhân dân Dương


3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

a, Mục tiêu của luận văn là đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động
truyền thông marketing đẩy mạnh công tác tuyển sinh của Trường Đại học Hòa
Bình trong giai đoạn cạnh tranh hiện nay.
b, Để đạt được mục tiêu tổng quát nêu trên, các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể
của luận văn là:
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về truyền thông marketing và ứng dụng
trong lĩnh vực giáo dục đào tạo.
- Tìm hiểu đặc điểm, tình hình hoạt động truyền thông marketing cho công tác
tuyển sinh của Trường Đại học Hòa Bình, đánh giá những ưu điểm, hạn chế còn tồn
tại và chỉ ra các nguyên nhân chính của những hạn chế, tồn tại.
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoat động truyền thông marketing
cho công tác tuyển sinh của Trường Đại học Hòa Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động truyền thông marketing phục vụ công tác tuyển sinh của Trường
Đại học Hòa Bình.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung:
Trường Đại học Hòa Bình là trường có nhiều chương trình đào tạo. Các
chương trình đào tạo hiện nay của trường bao gồm: Đào tạo thạc sỹ, đào tạo theo
đơn đặt hàng của DN, đào tạo đại học cao đẳng chính quy, đào tạo chương trình liên
thông, đào tạo ngắn hạn, đào tạo theo chương trình hợp tác quốc tế.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn cao học, với nguồn lực có hạn tác giả
chọn chỉ nghiên cứu hoạt động truyền thông marketing phục vụ cho công tác tuyển
sinh của chương trình đào tạo đại học chính quy của Trường Đại học Hòa Bình.


-

Điều tra thông qua bảng hỏi đối với 70 sinh viên đang học tại trường và 30 học sinh
THPT tại địa bàn Hà Nội.

5.2.

Phương pháp phân tích dữ liệu
Các dữ liệu đã thu thập được sẽ được tổng hợp lại để chọn lọc số liệu một cách
hợp lý, lấy những số liệu hợp lý nhất liên quan đến hoạt động truyền thông
marketing trong công tác tuyển sinh của Trường Đại học Hòa Bình. Các dữ liệu thu
thập được sẽ được phân loại, chọn lọc, mã hoá riêng nhập vào máy tính thông qua
các bảng kê cụ thể trên phần mềm excel.


11

Để có thể đánh giá dữ liệu một cách chính xác nhất, tác giả đã dùng các công
cụ đó là các mô hình, biểu đồ thể hiện các dữ liệu. Với việc sử dụng biểu đồ sẽ dễ
dàng nhận thấy sự thay đổi của các sữ liệu qua các năm, tăng hoặc giảm để đánh giá
thực trạng hiện tại của hoạt động truyền thông marketing của Trường Đại học Hòa
Bình. Sau khi thấy được sự chênh lệch đó thì dùng phương pháp phân tích và đánh
giá về các dữ liệu để tìm ra được nguyên nhân, mấu chốt vấn đề để đưa ra được giải
pháp cho các hạn chế trong vấn đề nghiên cứu.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được kết cấu
thành 3 chương:
-

Chương 1: Một số vấn đề chung về truyền thông marketing và ứng dụng trong lĩnh

truyền thông tin một cách gián tiếp hay trực tiếp về sản phẩm và bản thân doanh
nghiệp tới khách hàng nhằm thuyết phục họ tin tưởng vào doanh nghiệp cũng như
sản phẩm, và mua sản phẩm”.
Như vậy có rất nhiều ý kiến khác nhau về truyền thông marketing, tuy nhiên
trong phạm vi đề tài luận văn, khái niệm truyền thông marketing theo Philip Kotler
là khái niệm phù hợp và sẽ xuyên suốt nội dung của luận văn.
1.1.2. Bản chất của truyền thông marketing
Bản chất của truyền thông marketing là quá trình truyền đạt thông tin, trao đổi
ý tưởng, nhằm hình thành tính cộng đồng hay cá nhân giữa các bên tham gia. Hay,
là quá trình thông tin nhằm tạo ra tác động qua lại giữa các bên tham gia
Trong kinh doanh, quá trình truyền thông marketing được coi là nền tảng chủ
yếu của chiến lược truyền thông, tham gia vào quá trình này là các cá nhân hay tổ
chức với các mối quan hệ và cách thức trao đổi thông tin khác nhau giữa các tác


13

nhân tham gia. Trong đó, mối quan hệ giữa các chủ thể gửi tin (doanh nghiệp) với
các chủ thể nhận tin là đối tượng nòng cốt. Trong quá trình thực hiện hoạt động
truyền thông marketing, khởi đầu thường là giai đoạn doanh nghiệp nghiên cứu,
khám phá đặc điểm của từng thị trường, tìm hiểu đối tượng nhận tin mục tiêu để
thiết lập mục tiêu, tiếp đến là phân tích đánh giá thông tin và cuối cùng là lựa chọn
hệ thống/kênh truyền thông, triển khai và đánh giá hiệu quả. Trong đó, hiểu biết về
quá trình truyền thông và mối quan hệ giữa các yếu tố trong quá trình này là cơ sở
quan trọng để xây dựng và thực hiện các chương trình truyền thông marketing.
Bản chất của truyền thông marketing chính là những hoạt động liên quan đến
việc truyền đi những thông tin về doanh nghiệp và sản phẩm tới khách hàng mục
tiêu để thuyết phục họ mua và thiết lập, duy trì mối quan hệ bền vững với họ.
Để đạt được điều đó, doanh nghiệp, tổ chức phải sử dụng rất nhiều công cụ
khác nhau và phân phối hợp chúng một cách hiệu quả. Chính vì vậy người ta còn

khách hàng qua quá trình truyền thông là nguồn thông tin tốt để các doanh nghiệp
có điều kiện để nhìn nhận về ưu nhược điểm của hàng hóa, dịchvụ của doanh
nghiệp mình. Từ đó doanh nghiệp đưa ra các quyết định để khắc phục các nhược
điểm của hàng hóa hoặc dịch vụ. Đồng thời đưa thêm các hình ảnh đẹp để xây dựng
thêm lòng tin của khách hàng đối với doanh nghiệp. Truyền thông marketing làm
cho bán hàng trở nên dễ dàng hơn, ngay cả khi hàng hóa hoặc dịch vụ đang trong
quá trình nghiên cứu, sản xuất thử cũng tạo ra nhu cầu cho khách hàng kích thích
người tiêu dùng muốn mua sản phẩm mà doanh nghiệp sẽ bán trong tương lai.
1.1.3.2.

Đối với khách hàng
Khi các doanh nghiệp đồng loạt đưa ra các thông tin về sản phẩm của mình,
khách hàng có nhiều cơ hội để lựa chọn sản phẩm, so sánh về chất lượng, giá cả,
dịch vụ sau khi bán hàng của nhiều loại hàng hóa và dịch vụ. Mua được các sản phẩm
thỏa mãn tối đa lợi ích của họ với chi phí hợp lý, tránh được các trường hợp mua phải
các sản phẩm chất lượng kém, không có nhãn hiệu hàng hóa. Như vậy thông qua
truyền thông marketing thì doanh nghiệp có thể tối đa hóa lợi nhuận còn khách hàng thì
có điều kiện để tối đa hóa lợi ích của mình khi mua hàng.
1.1.4. Mô hình truyền thông marketing
Mô hình truyền thông thể hiện rõ cách thức hoạt động của hệ thống truyền
thông, cách mà hệ thống đó truyền tải và phân tích thông tin. Để có thể thành công
trong việc đưa ra các quyết định truyền thông marketing thì những người làm
marketing cần phải hiểu rõ mô hình này.


15

Sau đây là mô hình truyền thông marketing được Kotler đưa ra [7].
Thông điệp


truyền từ người gửi đến người nhận, nhà sản xuất có thể dùng rất nhiêu kênh thông
tin như các kênh trực tiếp và các kênh gián tiếp.


16

Giải mã: Là quá trình người nhận gắn ý nghĩa cho những ký hiệu mà người
gửi truyền đi, người nhận có thể giải mã đúng thông điệp có trường hợp hiểu sai
thông điệp của người gửi.
Thông tin phản hồi: Thông điệp từ người nhận tác động trở lại người gửi tin.
Qua thông tin phản hồi người gửi tin. Qua thông tin phản hồi, người gửi tin biết
được hiệu quả của chương trình truyền thông.
Phản ứng đáp lại: Là những phản ứng của người nhận tin sau khi được lĩnh
hội thông điệp. Người truyền tin cần nắm bắt được những phản ứng của người nhận
tin để điều chỉnh chiến lược, chiến thuật truyền thông.
Nhiễu: Sự xuất hiện trong quá trình truyền thông những ảnh hưởng ngoài dự
kiến của môi trường hay những méo mó làm cho thông tin đến người nhận khác với
thông tin do người gửi truyền đi như âm thanh quá ồn, thời gian quá ngắn hoặc quá
dài, thông điệp khó hiểu v.v…
Tìm hiểu mô hình này cho doanh nghiệp định hướng đúng đắn trong quá trình
truyền tin. Đó là xác định rõ đối tượng nhận tin, xác định các phản ứng của người
nhận tin, xác định thông điệp gửi đi, lựa chọn kênh truyền tin, thu thập thông tin
phản hồi. Đây chính là các quyết định trong truyền thông marketing.
1.2. Các công cụ, phương tiện truyền thông marketing điển hình
Hiện nay có rất nhiều công cụ, phương tiện truyền thông trong hoạt động
truyền thông marketing của các doanh nghiệp. Mỗi công cụ và phương tiện có ưu
điểm nhưng cũng có những hạn chế nhất định. Chính vì vậy để có hoạt động truyền
thông marketing hiệu quả thì doanh nghiệp cần có sự kết hợp đúng đắn giữa các
công cụ. Một số công cụ, phương tiện truyền thông tiêu biểu như sau:
1.2.1. Quảng cáo

một tổ chức, sản phẩm, dịch vụ hay ý tưởng mà chủ thể quảng cáo phải trả tiền.
Các loại hình quảng cáo
Trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại hình quảng cáo, mỗi loại hình này sẽ
phù hợp với các mục tiêu và các thị trường khác nhau của các đối tượng truyền tin.
Khi lựa chọn công cụ quảng cáo các doanh nghiệp cần phải tìm hiểu kỹ lưỡng về
đối tượng nhận tin các nhu cầu và mong muốn của họ để lựa chọn các loại hình


18

quảng cáo phù hợp. Dưới đây là một số loại hình quảng cáo tiêu biểu.


19

* Quảng cáo cho thị trường bán lẻ
Thứ nhất, quảng cáo phạm vi quốc gia hay quảng cáo địa phương
Quảng cáo phạm vi quốc gia là quảng cáo được thực hiện bởi những công ty
lớn trên những khu vực thị trường của một quốc gia. Một ví dụ của quảng cáo phạm
vi quốc gia đó là quảng cáo của những công ty và thương hiệu nổi tiếng vào giờ
vàng trên các phương tiện truyền thông khu vực hoặc quốc gia. Mục đích của các
quảng cáo phạm vi quốc gia đó là giới thiệu, thông báo hoặc nhắc nhở khách hàng
về công ty hoặc thương hiệu với đặc điểm, lợiích, ưu thế hay tạo ra/củng cố hìnhảnh
của công ty hoặc thương hiệu.
Quảng cáo địa phương được thực hiện bởi các nhà bán lẻ hoặc bán buôn địa
phương để khuyến khích khách hàng đến một cửa hàng, sử dụng một dịch vụ địa
phương hoặc trở thành khách hàng thường xuyên của một nhà hàng nào đó. Quảng
cáo địa phương có xu hướng nhấn mạnh vào những động cơ khiến khách hàng sẵn
sàng chi tiêu tiền: giá, giờ phục vụ, dịch vụ, không khí, hình ảnh hoặc sự phân loại
hàng hoá. Các nhà bán lẻ thường quan tâm tới lượng khách hàng ra vào cửa hàng,

phương thức quảng cáo như sau:
Thứ nhất, Quảng cáo chuyên gia
Quảng cáo này định hướng vào các đối tượng là các chuyên gia trong lĩnh vực
nhất định như bác sỹ, luật sư, nha khoa, kỹ sư hoặc giáo sưđể khuyến khích họ sử
dụng sản phẩm của công ty trong quá trình thực hiện công việc của họ. Nó có thể sử
dụngđể khuyến khích chuyên gia giới thiệu hoặc hướng dẫn cách sử dụng sản phẩm
của công ty tới người tiêu dùng cuối cùng.
Thứ hai, Quảng cáo thương mại
Quảng cáo tập trung vào các thành viên thuộc kênh phân phối như người bán
buôn, nhà phân phối, đại lý bán lẻ. Mục đích là để khuyến khích các thành viên
kênh cung ứng, xúc tiến và bán lại các sản phẩm mang thương hiệu của nhà sản
xuất tới khách hàng là những người tiêu dùng cuối cùng.
1.2.2. Kích thích tiêu dùng
Kích thích tiêu dùng (xúc tiến bán hàng, khuyến mãi) là một giải pháp ngắn
hạn để khuyến khích người mua để mua một sản phẩm sử dụng một dịch vụ. Khi sử
dụng xúc tiến bán hàng bao gồm một số hoạt động truyền thông, những hoạt động
này được sử dụng để cung cấp thêm cho khách hàng và để kích thích họ mua thêm


21

hàng hóa hay dịch vụ. Công cụ kích thích tiêu thụ là rất đa dạng nhưng chúng đều
mang những đặc điểm sau:
Truyền thông: thu hút sự chú ý của khách hàng và thường cung cấp thông tin
có thể đưa người tiêu dùng đến với sản phẩm
Khuyến khích: kích thích tiêu thụ nhằm kết hợp việc nhân nhượng, khích lệ
hay hỗ trợ nào đó có giá trị đối với người tiêu dùng
Mời chào: công cụ này chứa đựng những lời mời chào thực hiện ngay việc
mua bán
1.2.3. Quan hệ công chúng

như: hỏi đáp trực tiếp, thư chào hàng, catalog, telemarketing, teleshoping, chào
hàng bán hàng trực tiếp với khách hàng, sử dụng các máy đặt hàng, thông tin đặt
hàng tại các cửa hàng, nhà ga), marketing trực tuyến...
Marketing trực tiếp có các đặc trưng cơ bản sau đây [6]:
Thứ nhất, không công khai thể hiên qua việc thông điệp được truyền đến một
người nhận tin cụ thể và không đến những người khác không thuộc đối tượng nhận tin.
Thứ hai, theo ý khách hàng: thông điệp có thể được soạn thảo theo ý khách
hàng để hấp hẫn cá nhân người nhận, thông điệp.
Thứ ba, tính cập nhật: có thể soạn thảo thông điệp rất nhanh rồi gửi cho người
nào đó nếu thông tin chậm thì lỡ mất thời cơ.
Một số hình thức của marketing trực tiếp
Marketing trực tiếp là một công cụ truyền thông marketing rất phổ thông mà
hầu hết các doanh nghiệp đều sử dụng bởi tính hiệu quả của công cụ này rất cao.
Bên cạnh đó việc tiếp xúc trực tiếp với khách hàng cũng giúp doanh nghiệp nắm bắt
tốt hơn các mong muốn của khách hàng. Hiện tại một số hình thức marketing trực
tiếp thông dụng như:
Thứ nhất, marketing qua catalog. Với hình thức này doanh nghiệp sẽ phát
hành catalog có đầy đủ thông tin của sản phẩm và của doanh nghiệp gửi đến tay
khách hàng.
Thứ hai, marketing qua thư trực tiếp trong đó có thư, mẫu quảng cáo nhỏ,
phim, số điện thoại miễn phí…
Thứ ba, marketing từ xa qua điện thoại. Doanh nghiệp tìm kiếm thông tin khách
hàng theo số điện thoại, sau đó chủ động gọi điện cho khách để chào bán sản phẩm.


23

Thứ tư, marketing trực tiếp trên các kênh truyền hình, truyền thanh, báo chí và
tạp chí.
Thứ năm, marketing tận nhà. Bằng cách chủ động tìm đến nhà khách hàng

1.2.6. Xúc tiến bán
Xúc tiến bán được xác định như là những hoạt động truyền thông marketing
cung cấp giá trị tăng thêm hoặc khuyến khích lực lượng bán hàng, nhà phân phối
hoặc các khách hàng cuối cùng nhằm khuyến khích tăng doanh số bán ngay lập tức.
Xúc tiến bán đưược chia thành hai loại chính: xúc tiến tới khách hàng tiêu dùng
cuối cùng và xúc tiến tới các trung gian thương mại.
Xúc tiến hướng tới khách hàng là người tiêu dùng cuối cùng của một sản
phẩm hay dịch vụ bao gồm: phiếu thưởng, hàng mẫu, quà tặng miễn phí cho khách
hàng tiềm năng, giảm giá khi mua nhiều, cuộc thi trúng thưởng, xúc tiến bán qua
hình thức cá cược như quay số may mắn, cung cấp tài liệu thông tin liên quan tới
việc mua bán tại điểm bán. Các công cụ xúc tiến khuyến khích người tiêu dùng thực
hiện mua bán ngay lập tức và vì vạy có thể tăng được lượng bán trong một thời gian
ngắn. Xúc tiến bán định hướng vào các kênh phân phối chú trọng vào các nhà bán
buôn, nhà phân phối và các nhà bán lẻ. Chiết khấu thương mại, giảm giá, khuyến
khích người bán hàng có doanh số bán tốt nhất, và các hội chợ thương mại…là các
công cụ xúc tiến thương mại được sử dụng để khuyến khích các trung gian thương
mại bán hàng và xúc tiến cho sản phẩm của công ty.
1.3. Nội dung hoạt động truyền thông marketing
1.3.1. Xác định mục tiêu truyền thông
Mục tiêu cuối cùng của hoạt động truyền thông marketing đó chính là gây ảnh
hưởng đến khách hàng mua sắm để đem lại nhiều doanh thu cho doanh nghiệp. Tuy
nhiên, để có doanh thu nhiều phụ thuộc vào khách hàng và các cung bậc cảm xúc,
nhu cầu, mong muốn của khách hàng đối với sản phẩm.
Những yêu cầu để thiết lập các mục tiêu truyền thông marketing
Mục tiêu truyền thông được xác định dựa trên kiến thức về giai đoạn của quá
trình nhận thức của công chúng mục tiêu, nhận thức hiện tại, tình trạng cạnh tranh,
những cơ hội và thách thức của thương hiệu.
Nội dung cụ thể của mục tiêu truyền thông marketing phụ thuộc vào tình trạng
cụ thể của doanh nghiệp về sự biết đến, nhận diện của khách hàng. Do đó các mục


một thương hiệu mới chỉ đạt được 15% nhận thức của người tiêu dùng trong suốt
năm đầu tiên có mặt trên thị trường sẽ không thực tế với ngân sách truyền thông



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status