1
1
LỜI CẢM ƠN
Thực tế luôn cho thấy sự thành công nào cũng đều gắn liền với những sự hỗ trợ,
giúp đỡ của những người xung quanh dù cho sự giúp đỡ đó là ít hay nhiều, trực tiếp
hay gián tiếp. Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu làm khóa luận đến nay, em đã nhận
được sự quan tâm , chỉ bảo giúp đỡ từ phía thầy cô trong khoa Khách sạn – du lịch,
bạn bè, gia đình, đặc biệt là thầy giáo PGS,TS Hoàng Văn Thành.
Em chân thành cảm ơn thầy giáo PGS,TS Hoàng Văn Thành, người đã hướng
dẫn cho em trong suốt thời gian làm khóa luận. Mặc dù thầy bận đi công việc nhưng
không ngần ngại chỉ dẫn em, định hướng đi cho em, để em hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Một lần nữa em chân thành cảm ơn thầy và chúc thầy dồi dào sức khoẻ.
Em cũng xin cảm ơn ban giám đốc Khách sạn Mường Thanh Xa La đã cung cấp
thông tin, dữ liệu cần thiết để em có thể hoàn thành bài khóa luận của mình.
Tuy nhiên vì kiến thức chuyên môn còn hạn chế và bản thân còn thiếu nhiều kinh
nghiệm thực tiễn nên nội dung của báo cáo không tránh khỏi những thiếu xót, em rất
mong nhận sự góp ý, chỉ bảo thêm của của thầy và các bạn để báo cáo này được hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Trần Mỹ Hạnh
2
2
MỤC LỤC
khóa luận cho mình.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
* Mục tiêu của đề tài
Đề xuất được một số giải pháp và kiến nghị cơ bản để hoàn thiện chính sách sản
phẩm dịch vụ của khách sạn Mường Thanh Xa La, chi nhánh công ty cổ phần tập đoàn
Mường Thanh, Hà Nội.
* Nhiêm vụ nghiên cứu của đề tài: Để đạt được mục tiêu nói trên, đề tài cần giải
quyết được 3 nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa các nội dung cơ sở lí luận để xây dựng chính sách sản phẩm và
đặc thù của chính sách sản phẩm
4
- Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng quá trình hoạt động và thực hiện chính
sách sản phẩm tại khách sạn Mường Thanh Xa La, chỉ ra được những ưu nhược điểm
để làm cơ sở cho việc hoàn thiên chính sách sản phẩm của khách sạn trong thời gian
tới.
- Đưa ra một số giải pháp hoàn thiện chính sách sản phẩm nhằm góp phần nâng
cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh khách sạn.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Về nội dung: Khóa luận tập trung nghiên cứu các vấn đề lí luận và thực tế chính
sách sản phẩm tại khách sạn Mường Thanh Xa La
Về thời gian: Khóa luận sử dụng các tài liệu, số liệu về thực trạng, chính sách sản
phẩm tại khách sạn Mường Thanh Xa La trong năm 2017 và 2018, các giải pháp kiến
nghị đến năng 2019 và những năm tiếp theo.
Về không gian: Các vấn đề liên quan chính sách sản phẩm được nghiên cứu
trong phạm vi khách sạn Mường Thanh Xa La.
4. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách
Các dữ liệu sơ cấp được thu thập từ các câu trả lời của nhân viên, nhà quản trị
trong khách san và những câu trả lời của khách hàng thông qua phiếu điều tra trắc
nghiệm. Phương pháp điều tra trắc nghiệm được tiến hành qua các bước:
Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu
Đây là bước đầu tiên rất quan trọng khi định hướng vấn đề sao cho phù hợp với
tình hình thực tế và cũng mag tính khả thi. Vấn đề nghiên cứu ở đây chính là việc tìm
hiểu thực trạng về chính sách sản phẩm tại khách sạn Mường Thanh Xa La. Tìm hiểu
về các danh mục sản phẩm, kế hoạch phát triển các sản phẩm mới trong ngắn hạn, dài
hạn, đánh giá của nhân viên và khách hàng về chất lượng của sản phẩm dịch vụ đó, thu
thập các ý kiến đóng góp về khách sạn. Việc xác định vấn đề nghiên cứu giúp cho việc
thiết kế mẫu phiếu điều tra, đối tượng được chính xác hơn, từ đó đưa ra các giải pháp
nhằm hoàn thiện chính sách sản phẩm cũng hiệu quả hơn.
Bước 2: Thiết kế phiếu điều tra trắc nghiêm
Đối tượng nhận phiếu điều tra là khách du lịch, nhân viên và nhà quản trị.
Phiếu điều tra trác nghiệm được thiết kế dưới dạng câu hỏi trắng nghiệm và một
vài câu hỏi mở. Yêu cầu của các câu hỏi là phải ngắn gọn, dễ hiểu, đúng trọng tâm
nhưng vẫn đầy đủ nội dung cần thiết để sau khi điều tra vẫn nhận được kết quả như
mong muốn và không gây khó chịu cho khách hàng.
Bước 3: Tiến hành điều tra
Phiếu thăm dò được phát cho 100 khách hàng, 50 nhân viên của khách sạn thuộc
các bộ phân, phòng ban khác nhau và thu lại phiếu sau 1 tuần phát. Thời gian phát
phiếu từ 12/3/2019 đến 18/3/2019. Trong thời gian phát phiếu điều tra các đối tượng
khách hàng, nhân viên, nếu người nhận phiếu có thắc mắc thì phải giải thích rõ ràng,
cụ thể các nội dung. Bên cạnh việc thu thập thông tin sơ cấp qua phiếu điều tra, người
điều tra còn có thể tìm hiểu, khai thác các thông tin về sản phẩm, chính sách sản phẩm
thông qua các nhân viên hay khách hàng được điều tra.
Đây cũng được coi là một bước khá nhạy cảm bởi không phải đối tượng khách
hàng hay nhân viên nào cũng sẵn sàng điền vào phiếu điều tra, đặc biệt là với khách
hàng khó tính. Vì thế việc tiến hành điều tra cùng đòi hỏi sự cẩn thận tinh tế và khéo
léo.
7
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM
TRONG KINH DOANH KHÁCH SẠN
1.1.
Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm khách sạn, kinh doanh khách sạn
1.1.1.1.
Khái niệm khách sạn
Khách sạn là cơ sở kinh doanh dịch vụ khách du lịch Quốc tế và trong nước đáp
ứng nhu cầu về các mặt ăn, nghỉ, vui chơi giải trí và các dịch vụ cần thiết khác trong
phạm vi của khách sạn.
1.1.1.2. Khái niệm kinh doanh khách sạn và đặc điểm của kinh doanh khách sạn
* Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp các dịch vụ
lưu trú, ăn uống, và các dịch vụ bổ sung cho khách nhằm đáp ứng các nhu cầu ăn, nghỉ
và giải trí của họ tại các điểm du lịch nhằm mục đích kinh doanh có lãi.
* Đặc điểm của kinh doanh khách sạn
Sản phẩm của ngành khách sạn không thể lưu kho, không thể đem đến nơi khác
quảng cáo và tiêu thụ, chỉ có thể “ sản xuất và tiêu dùng ngay tại chỗ.”
Vị trí xây dựng và tổ chức kinh doanh khách sạn quyết định quan trọng đến kinh
doanh khách sạn. Vị trí này phải đảm bảo tính thuận tiện cho khách và công việc kinh
doanh khách sạn.
Trong khách sạn dung lượng lao động lớn, các khâu trong quá trình phục vụ
không được cơ giới hóa, tự động hóa.
Đối tượng kinh doanh và phục vụ của ngành khách sạn đa dạng về thành phần,
nghề nghiệp, giới tính, tuổi tác, sở thích, nếp sống, phong tục tập quán.
Tính chất phục vụ của khách sạn là liên tục, khi khách có nhu cầu thì phải đáp
ứng ngay.
Tính tổng hợp và phức tạp trong quá trình hoạt động.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của sản phẩm trong kinh doanh khách sạn
khách hàng trả tiền đối với những sản phẩm dịch vụ mà họ sử dụng.
1.1.3. Khái niệm, vai trò của chính sách sản phẩm trong kinh doanh khách sạn
1.1.3.1.
Khái niệm chính sách sản phẩm
Chính sách sản phẩm được hiểu là tổng thể những quy tắc chỉ huy việc tạo ra và
tung sản phẩm vào thị trường để thỏa mãn nhu cầu của từng thị trường và thị hiếu của
khách hàng trong từng thời kì kinh doanh của doanh nghiệp, đảm bảo việc kinh doanh
có hiệu quả.
1.1.3.2.
Vai trò của chính sách sản phẩm
Chính sách sản phẩm là nền tảng, là xương sống của chiến lược kinh doanh của
doanh nghiệp. Ngày nay trong kinh doansh khách sạn đang gặp nhiều khó khăn, các
doanh nghiệp cạnh tranh quyết liệt để tồn tại thì chính sách sản phẩm lại được nhấn
mạnh.
9
Chính sách sản phẩm là một trong những yếu tố của Marketing mix, do vậy chính
sách sản phẩm có mối quan hệ mật thiết với chính sách giá, chính sách phân
phối,chính sách xúc tiến và quảng cáo. Nếu không có chính sách sản phẩm thì các
chính sách khác hoạt động cũng không có hiệu quả. Nếu doanh nghiệp đưa ra các
chính sách không phù hợp với thị trường, không được khách hàng chấp thuận thì dù
cho để mức giá thấp hay chính sách quảng cáo hấp dẫn cũng không có ý nghĩa gì.
Chính sách sản phẩm đảm bảo cho hoạt động của khách sạn đi đúng hướng.
Chính sách sản phẩm giúp khách sạn trả lời các câu hỏi: Khách sạn sẽ sản xuất bao
nhiêu loại, chủng loại sản phẩm? Số lượng sản phẩm là bao nhiêu? Chất lượng sản
1.2.
-
Nội dung chính sách sản phẩm của khách sạn
1.2.1. Xác định kích thước cơ bản của danh mục sản phẩm
10
Danh mục sản phẩm là tâp hợp tất cả các chủng loại sản phẩm và các đơn vị sản
phẩm do một người bán cụ thể đem chào bán cho người mua. Để thỏa mãn nhu cầu
khác nhau của khách hàng thì khách sạn phải xây dựng một danh mục sản phẩm có
kích thước hợp lý. Danh mục sản phẩm của khách sạn được phản ánh qua bốn thông số
đặc trưng cơ bản sau đây:
-
Chiều dài: hay còn gọi là mức độ phong phú của sản phẩm thể hiện là tất cả các chủng
loại và số sản phẩm trong các chủng loại đó mà các khách sạn sẽ cung ứng cho thị
trường, phản ánh sự đa dạng của hàng hóa. Các khách sạn thường không bao giờ đầu
tư vào môt lĩnh vực kinh doanh mà sẽ luôn hướng tới kinh doanh đa dạng. Đối với các
doanh nghiệp mạo hiểm thì chiều dài của danh mục sản phẩm là nhỏ. Tuy nhiên, khi
này khách sạn sẽ có điều kiện chuyên môn hóa cao và nâng cao chất lượng sản phẩm.
-
Chiều rộng: Chiều rộng kích thước tập sản phẩm chính là tổng số nhóm chủng loại do
các khách sạn cung ứng ra thị trường. Một khách sạn càng có nhiều sản phẩm đôc đáo
càng tạo ra được sự khác biệt hóa, điều này sẽ tạo ra sự cạnh tranh lớn, đồng thời cũng
1.2.2. Nghiên cứ phát triển sản phẩm mới
Lý do phải nghiên cứu phát triển sản phẩm mới
1.2.2.1.
* Khái niệm sản phẩm mới : Sản phẩm mới có thể là sản phẩm mới về nguyên
tắc, sản phẩm mới cải tiến từ các sản phẩm hiện có hoặc những nhãn hiệu mới do kết
quả của nghiên cứu, thử nghiệm của công ty, nhưng dấu hiệu quan trọng nhất để đánh
giá sản phẩm mới hay không là sự phản hồi cuả khách hàng.
Theo Booz, Allen, Hamilton thì có các loại sản phẩm mới đối với doanh nghiệp
và thị trường:
-
Sản phẩm mới đối với thế giới: Đó là những sản phẩm mới tạo ra một thị trường hoàn
toàn mới đối với doanh nghiệp và thị trường.
-
Sản phẩm mới: Đối với khách sạn là những sản phẩm lần đầu được kinh doanh tại
khách sạn.
-
Bổ sung dịch vụ mới cho sản phẩm hiện có: là những dịch vụ ngoại vi mới bổ sung
thêm vào danh mục sản phẩm hiện có của doanh nghiệp.
-
Cải tiến sản phẩm hiện có: nhằm làm cho nó có lợi ích mới hấp dẫn khách hàng hơn.
Việc phát triển sản phẩm mới trong doanh nghiệp khách sạn gồm các bước sau
Bước1: Hình thành ý tưởng
Đây là bước đầu tiên vô cùng quan trọng trong chiến lược kinh doanh. Những ý
tưởng sản phẩm mới có thể nảy sinh từ nhiều nguồn khác nhau như:
Từ phía khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp. Qua các cuộc
thăm dò, phỏng vấn và trắc nghiệm cá nhân, doanh nghiệp có thể tìm hiểu những yêu
cầu cải tiến sản phẩm mà họ đặt ra cho nhà sản xuất và nhà nghiên cứu phát triển sản
phẩm có thể phát hiện những ý tưởng hay cho nguồn cảm ứng sáng tạo sản phẩm mới.
Từ những chuyên gia đầu ngành, các kỹ sư, nhà thiết kế giỏi trong và ngoài doanh
nghiệp để hình thành ý tưởng sản phẩm mới.
Từ những nhà cung ứng, phân phối sản phẩm là nguồn cung cấp thông tin quan trọng
giúp cho việc hình thành ý tưởng có tính khả thi cao.
Từ đối thủ cạnh tranh qua việc tìm hiểu ý định của đối thủ cũng như sản phẩm của họ
để tìm ra lý do khách hàng chọn dùng sản phẩm để đưa ra sản phẩm cải tiến hơn hẳn
đối thủ cạnh tranh.
Việc hình thành ý tưởng phải được thực hiện có hệ thống trên cơ sở mục tiêu của
việc phát triển sản phẩm mới và thị trường mà doanh nghiệp đã xác định. Một ý tưởng
mới lạ, có sự khác biệt với các đối thủ cạnh tranh sẽ hình thành những chiến lược kinh
doanh hiệu quả.
Bước 2: Lựa chọn ý tưởng
Sau khi hàng loạt ý tưởng được hình thành dựa trên nhiều nguồn khác nhau, các
nhà quản trị sẵn sàng sàng lọc ý tưởng có sức sáng tạo và có khả năng thực thi thì sẽ
đưa vào chiến lược kinh doanh. Để làm tốt điều này cần phải đưa ra những tiêu chuẩn
làm cơ sở cho việc so sánh chúng. Các tiêu chuẩn đó là:
Có tính khả thi.
Có hiệu quả về kinh tế.
Phải đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.
Mức độ tính năng của sản phẩm cho phép định giá cạnh tranh.
Phải có khả năng khuếch chương những đặc điểm khác biệt.
Bước 3: Soạn thảo và thẩm định dự án sản phẩm mới
Đây là bước khá quan trọng để mỗi khách sạn có thể cho khách hàng cảm nhận
về sản phẩm của mình. Thử nghiệm sản phẩm trên thị trường nhằm mục đích xem
khách hàng phản ứng thế nào với sản phẩm và xem độ lớn của thị trường. Đối tượng
thử nghiệm có thể vừa là khách hàng, vừa là nhà kinh doanh và chuyên gia có kinh
nghiệm. Số lượng lần thử nghiệm cũng cần tính toán , cân đối với chi phí thử ngiệm và
thời gian tiến hành để đảm bảo có kết quả chắc chắn nhất.
Bước 7: Triển khai sản xuất và quyết định tung sản phẩm mới ra thị trường.
Sau khi thử nghiệm, doanh nghiệp sẽ đi đến quyết định có đưa sản phẩm ra kinh
doanh và bán đại trà không. Nếu đưa sản phẩm vào kinh doanh thì doanh nghiệp phải
ký hàng loạt hợp đồng với các đối tác để cùng cung cấp dịch vụ. Giai đoạn này doanh
nghiệp phải thông qua 4 quyết định là: Thời điểm nào tung sản phẩm ra thị trường?
Tung sản phẩm mới ra thị trường ở đâu? Bán cho đối tượng khách nào? Sản phẩm
được bán như thế nào?
1.2.3. Các quyết định liên quan đến chính sách sản phẩm
1.2.3.1.
Quyết định về dịch vụ cơ bản và dịch vụ bao quanh
* Dịch vụ cơ bản:
14
-
1.2.3.2.
Đây là quyết định đầu tiên và quan trọng nhất. Quyết định này liên quan đến
ngành dịch vụ mà doanh nghiệp sẽ kinh doanh, đồng thời là cơ sở để thiết kế các dịch
vụ bổ sung khác thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.
Khách hàng trên thị trường không đồng nhất về nhu cầu đối với sản phẩm cốt lõi,
mỗi nhóm khách hàng có yêu cầu về quy cách, lợi ích, chất lượng sản phẩm cốt lõi. Vì
+ Có nên đa dạng hóa sản phẩm hay không?
+ Đa dạng hóa ở mức nào thì phù hợp?
15
Mức độ đa dạng hóa sản phẩm dich vụ được cân nhắc số đoạn thị trường mục
tiêu lựa chọn, mối quan hệ gần gũi giữa các đoạn thị trường đó. Trong thực tế, các
khách sạn lựa chọn một đoạn thị trường trọng điểm để dành sự ưu tiên nhất cho việc
thỏa mãn nhu cầu của đoạn thị trường đó bằng chính sách sản phẩm. Tức là tập trung
một hệ thống dịch vụ thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng. Trong khách sạn lựa chọn
hai thị trường mục tiêu: Khách lưu trú đây là đoạn thị trường trọng điểm và khách ăn
uống nghỉ tại khách sạn đây là thị trường mục tiêu nhưng không trọng điểm.
Đa dạng hóa sản phẩm tạo điều kiện cho khách sạn cung cấp cho khách hàng
những sản phẩm trọn gói. Do khách sạn muốn phục vụ cả thị trường khách thăm quan
du lịch và khách du lịch công vụ nên đòi hỏi các sản phẩm phải có mức độ đa dạng
hóa cao. Mức độ đa dạng hóa là nhiều loại sản phẩm với mức chất lượng, mức giá
khác nhau, phục vụ được nhiều đối tượng khác nhau. Xu hướng tiêu dùng là yêu cầu
ngày càng cao và mục tieu của khách sạn trong thời gian tới là thu hút thêm khách có
khả năng chi trả cao, do đó đòi hỏi chính sách sản phẩm của khách sạn cần có mức độ
đa dạng hóa cao.
1.2.3.3. Quyết đinh hướng tăng trưởng
- Thâm nhập thị trường: Dựa trên việc cung cấp các sản phẩm hiện tại ở thị
trường hiện tại các nhà quản trị không cần thay đổi bản thân sản phẩm dịch vụ mà suqr
dụng một số chính sách như đại hạ giá sản phẩm, thay đổi nội dung quảng cáo,.. để thu
hút khách hàng quen dùng sản phẩm dịch vụ của khách sạn khác. Đồng thời, để giữ
chân khách hàng hiện tại và khách hàng cũ của khách sạn.
- Phát triển thị trường: Mở rộng thị trường mới cho sản phẩm hiện tại. Họ nghiên
cứu thị trường mới, kích thích nhóm khách hàng tiêu dùng sản phẩm vốn có của khách
sạn mình hay không.
dụng dịch vụ. Vì vậy, một đất nước có một nền chính trị ổn định sẽ tạo niềm tin cho
người dân. Đây được xem như một điều kiện thuận lợi để các khách sạn
thực hiện các chính sách sản phẩm của mình hiệu quả.
- Yếu tố văn hóa: mỗi vùng miền, quê hương đều có những bản sắc văn hóa
riêng. Vì vậy, khi xây dựng một chiến lược kinh doanh để marketing một sản phẩm
mới thì mỗi khách sạn đều phải quan tâm đến yếu tố văn hóa để có các sản phẩm phù
hợp văn hóa địa phương nhưng vẫn thỏa mãn được nhu cầu khách hàng.
- Yếu tố khoa học, kỹ thuật: Ngày nay khoa học công nghệ ngày càng phát triển
góp phần rất lớn vào việc phát triển kinh tế, xã hội, giúp nâng cao năng suất lao động,
chất lượng sản phẩm. Vì vậy, việc áp dụng yếu tố này vào quá trình phát triển của
doanh nghiệp sẽ mang lại những hiệu quả rất lớn. Đồng thời, khoa học kỹ thuật được
đưa vào ngành dịch vụ trong khách sạn lại mang đến những kết quả rất tốt, thể hiện
sự hiện đại, chuyên nghiệp và tạo được lòng tin với khách hàng.
1.3.2. Môi trường vi mô
- Nguồn lực tại các khách sạn sẽ là yếu tố quan trọng quyết định
khả năng kinh doanh thành công hay thất bại của khách sạn. Do đặc thù công việc nên
các khách sạn luôn cần lực lượng lao động dồi dào để phục vụ cho quá trình sản xuất
kinh doanh của mình.
- Đối thủ cạnh tranh: Đây là nhân tố có sức ảnh hưởng rất lớn đến chính sách
sản phẩm của các khách sạn. Chính sách sản phẩm sẽ là yếu tố tạo ra sự
khác biệt hóa để thu hút khách hàng. Vì vậy, các nhà quản trị phải luôn tìm hiểu,
nghiên cứu kỹ các đối thủ của mình để có sự thay đổi phù hợp trong chiến lược kinh
doanh của mình.
17
- Khách hàng: Trong kinh doanh dịch vụ, yếu tố được đề cao nhất đó là khách
hàng, khách hàng có ảnh hưởng rất lớn đến việc kinh doanh, quyết định các yếu tố
đầu ra của mỗi khách sạn. Vì thế, khách hàng là yếu tố ảnh hưởng rất lớn
Số phòng: 149
Khách sạn Mường Thanh Xa La được thành lập vào tháng 10/2010.
Khách Sạn Mường Thanh Xa La có vị trí thuận lợi ngay tại trung tâm thành phố
Hà Đông, từ khách sạn Mường Thanh Xa La đến sân bay mất khoảng 40 phút đi ô tô
và mất khoảng 20 phút để đến trung tâm thủ đô Hà Nội.
Khách Sạn Mường Thanh Xa La là khách sạn đạt tiêu chuẩn 4 sao quốc tế với
tầm nhìn ra khu đô thị mới hiện đại Xa La và trung tâm quận Hà Đông từ trên cao.
Với khuôn viên hơn 1000 mét vuông, bể bơi khách sạn Mường Thanh Xa La đã
vinh dự đạt kỷ lục “Khách sạn có bể bơi lớn nhất” của tập đoàn khách sạn Mường
Thanh năm 2013.
Khách sạn bao gồm 149 phòng nghỉ hiện đại với 20 phòng Club Suite, 110 phòng
Deluxe Twin, 10 phòng Deluxe Double và 9 phòng Superior. Nhà hàng sức chứa hơn
800 thực khách là nơi lý tưởng để tổ chức tiệc cưới, hội nghị, hội thảo chuyên nghiệp.
Ngoài ra, khách sạn còn có các dịch vụ cao cấp như: Phòng karaoke gia đình, 17
phòng massage hiện đại, bể bơi ngoài trời với diện tích lòng bể 400m2, tầng hầm và
bãi đỗ xe ngoài trời đáp ứng khoảng trên 100 xe các loại, bar café trang nhã lịch sự
cùng với các dịch vụ bổ sung đầy đủ kèm theo.
19
-
-
Khách sạn được thành lập với nhiệm vụ:
Nghiên cứu thị trường khách du lịch, tuyên truyền quảng cáo thu hút khách du lịch,
trực tiếp giao dịch và ký kết hợp đồng với các tổ chức, các hãng du lịch trong và ngoài
nước.
Tuân thủ luật pháp Việt Nam và các quyết định cơ quan cấp trên, chịu sự quản lí vĩ mô
Giám đốc tài chính, kế toán
Giám đốc bộ phận khác
Giám đốc nhà hàng
Tổng bếp trưởng
Chức năng các bộ phận:
Tổng giám đốc: Người chịu trách nhiệm cao nhất trong điều hành khách sạn, đảm
bảo cung cấp dịch vụ tốt nhất, nhân viên các bộ phận hiệu quả, tối đá hóa doanh thu và
lợi nhuận, hoàn thành mục tiêu với ban quản trị tập đoàn.
Phó tổng giám đốc: Người trực tiếp hỗ trợ Tổng giám đốc quản lý, điều hành mọi
hoạt động của khách sạn, làm việc trực tiếp với các trưởng bộ phận nhằm tối ưu năng
suất lao động, nâng cao chất lượng dịch vụ.
20
Ban thư ký: Tiếp nhận, hỗ trợ Tổng giám đốc các tài liệu, hồ sơ từ các phòng ban,
sắp xếp lịch làm việc cuẩ Tổng giám đốc, ghi chép các biên bản làm việc, cuộc họp và
các vấn đề liên quan đến chức vụ.
Giám đốc nhân sự: Là người trực tiếp tham mưu cho Ban Giám đốc chính sách,
nguồn nhân lực đảm bảo chiến lược phát triển nguồn lực của khách sạn. Thực hiện các
chính sách nhân sự, xây dựng chương trình đào tạo, quản lý, kiểm tra và cải tiến chất
lượng dịch vụ.
Giám đốc kinh doanh tiếp thi: Lập kế hoạch và triển khai các kế hoạch kinh
doanh. Nghiên cứu thị trường, nghiên cứu xu hướng khách hàng, xu hướng tiêu dùng
du lịch từ đó xây dựng chiến lược kinh doanh thích hợp cho từng thời kỳ, từng giai
Tổng số nhân viên
Đại học
Trình độ
Tỉ lệ
nhân
Cao đẳng
viên
Tỉ lệ
Toeic >
650
Tỉ lê
Toeic
Trình độ
450-650
ngoại
ngữ
Tỉ lệ
Toeic
9,18
-
Người
48
53
5
10,41
%
47,05
48,18
1,13
-
Người
17
7
16,67
6,36
-10,31
32
32
0
0
31,37
29,09
-2,28
70
78
8
11,43
68,63
70,91
2,28
( Nguồn khách sạn Mường Thanh Xa La )
Chúng ta nhận thấy đội ngũ nhân viên của khách sạn đều có trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, trình độ Toeic từ 450 trở lên, cho thấy tiền năng tiếp cận du khách nước
ngoài vô cùng lớn. Đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm, năng động, ngày càng được
đào tạo, trau dồi kiến thức.
2.1.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của khách sạn Mường Thanh Xa La
Dưới đây là bảng kết quả hoạt động kinh doanh của khách sạn Mường Thanh Xa
La năm 2017-2018
22
2
3
II
1
2
3
III
IV
V
So sánh năm
2018/2017
ĐVT Năm 2017 Năm 2018
+/%
Trđ
40602
52581
11979
29,5
Trđ
18505
23687
5182
28
%
45,58
45,04
-0,54
Trđ
16607
%
55,53
57,06
1,53
Trđ
6530
6880
350
5,36
%
36,72
35,37
-1,35
Trđ
1375
1471
96
6,98
%
7,73
7,56
-0,17
Trđ
22822
33131
10309
45,17
%
56,2
63
-
Từ những số liệu cụ thể trên, ta có thể thấy được tình hình kinh doanh của khách
sạn Mường Thanh Xa La đang có hiệu quả và phát triển, mang lại lợi nhuận đáng kể
cho doanh nghiệp. Trong đó khách sạn tập trung vào mảng kinh doanh lưu trú và dịch
vụ ăn uống, đó cũng là hai nguồn doanh thu chính cho khách sạn. Ngoài ra khách sạn
còn tăng tỉ trong các dịch vụ khác, tối thiểu hóa một số chi phí nên chi phí tuy cao
nhưng doanh thu vẫn tăng nhanh hơn,từ đó đem lợi nhuận cho doanh nghiệp. Để đạt
cao trong hiệu quả kinh doanh, khách sạn cần tối thiểu hóa hơn chi phí, phát triển sản
phẩm trọng điểm, cải thiện cơ sở vật chất và mở rộng thị trường.
2.1.2. Ảnh hưởng của các nhân tố môi trường đến chính sách sản phẩm của khách
sạn
2.1.2.1. Nhân tố vĩ mô
Yếu tố tự nhiên: Khách sạn Mường Thanh Xa La nằm vị trí trung tâm khu đô thị Xa
La, nhờ đó việc đưa các sản phẩm của mình đến tay người tiêu dùng dễ dàng hơn. Tọa
lạc tại vị trí thuận lợi, không gian thoáng đãng, khách sạn đã xây dựng hệ thống bể bơi
lớn nhất trong hệ thống tập đoàn khách sạn Mường Thanh, thu hút hơn nhiều khách
hàng đến trải nghiệm dịch vụ của khách sạn.
Yếu tố kinh tế: Khách sạn luôn chú trọng tới các chỉ số kinh tế trong thị trường kinh
doanh của mình. Trong những năm gần đây khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng không ít
đến tình hình hoạt động của khách sạn. Tỉ lệ tăng trưởng của nền kinh tế, lãi suất, tỉ giá
hối đoái ảnh hưởng phần nào tới khách du lịch và chi tiêu của họ trong chuyến đi du
lịch của mình, ảnh hưởng không nhỏ tới sức mua của người tiêu dùng.
Yếu tố chính trị: Diễn biến của môi trường chính trị tác động tới hoạt động kinh doanh
của khách sạn trong môi trường đó. Hệ thống pháp luât của Việt Nam ngày càng được
ổn định, đất nước ít xảy ra các cuộc bạo động cũng giúp khách sạn thu hút nguồn
khách nước ngoài, tạo niềm tin và sự an tâm cho du khách. Các quy đinh về khách du
lịch cũng được lới lỏng, nhà nước tạo mọi điều kiện để khách sạn phát triển sản phẩm
của mình.
vậy phải có những chính sách phù hợp để giữ vững vị thế của mình trên thị trường.
Khách hàng: Mỗi sản phẩm của khách sạn đều hướng đến đối tượng khách hàng cụ
thể, đặc biệt là khách Trung quốc là khách hàng tiền năng của khách sạn. Ngoài việc
tập trung đến khách hàng tiềm năng thì khách sạn cũng không ngừng mở rộng thị
trường để tiếp đón các khách du lịch nước khác muốn thăm quan và tìm hiểu phong
tục tập quán của Việt Nam.
Nhà cung cấp: Ngày nay khi vấn đề thực phẩm trở thành mối lo ngại của khách hàng
khi sử dụng sản phẩm, việc lựa chọn nhà cung cấp đảm bảo uy tín, có vị thế trên thị
trường cũng giúp khách sạn nâng tầm của mình trên thị trường, tạo được lòng tin đối
với khách hàng.
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách sản phẩm của khách sạn Mường Thanh Xa
La
2.2.1. Đánh giá tập hợp sản phẩm của khách sạn
Ngày nay, khi tình trạng cạnh tranh ngày càng trở nên quyết liệt, chi phí sản xuất
cao, nhu cầu khách hàng ngày càng đa dạng, thị trường ngày càng có nhiều đối tượng
tham gia, càng nhiều nhà lãnh đạo quan tâm đến phát triển chính sách sản phẩm. Việc
đưa một sản phẩm ra thị trường có được thị trường chấp nhận, đáp ứng được nhu cầu
của khách hay không là vấn đề đặt ra cho các nhà lãnh đạo cấp cao. Do đó, nhiều
khách sạn đã nhận định được vai trò của sản phẩm trong chiến lược kinh doanh. Một
sản phẩm đúng, phù hợp với thị trường, thậm chí đi trước đối thủ cạnh tranh sẽ đem lại
rất nhiều lợi ích cho khách sạn. Vừa vạch ra được phương hướng sản phẩm trong
tương lai, vừa cho biết vị trí của sản phẩm hiện tại của mình tác động đến thị trường ở
cấp độ nào, nhờ đó giúp khách sạn mở rộng được thị trường của mình.
25
-
-
gia khác nhau để có cách phục vụ tốt nhất.
+ Sản phẩm tại khách sạn bao gồm thực đơn với hàng chục món ăn khách nhau,
đa dạng được lựa chọn từ nhiều vùng văn hóa ẩm thực khác nhau.
+ Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, khách sạn Mường Thanh
Xa La thường xuyên chú ý đến cải tạo phòng ăn, thay đổi thực đơn, bổ sung thêm các
món ăn. Khách sạn còn nâng cấp và cải tạo khu nhà bếp và khu chế biến, trang bị thêm
các dụng cụ, trang thiết bị để đảm bảo an toàn vệ sinh món ăn cũng như an toàn trong
lao động của nhân viên.
Sản phẩm bổ sung: Không những đem lại hàng năm cho khách sạn một khoản lợi
nhuận mà trong kinh doanh khách sạn dịch vụ bổ sung còn có vai trò quan trọng như