luận văn kinh tế luật phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý của công ty LUẬT TNHH IMC - Pdf 59

TÓM LƯỢC
Hội nhập kinh tế quốc tế đã, đang và sẽ ngày càng trở nên một yêu cầu tất
yếu, cấp bách đối với Việt nam. Trong bối cảnh đó, các tổ chức và cá nhân cần có sự
trợ giúp pháp lý một cách thường xuyên nhằm đảm bảo sự an toàn về mặt pháp lý cho
các giao dịch của mình. Quá trình toàn cầu hóa kinh tế đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát
triển của dịch vụ pháp lý cho các tổ chức và cá nhân ở tầm quốc tế. Dịch vụ pháp lý đã
trở thành hàng hóa và việc trao đổi, mua bán dịch vụ pháp lý ngày càng trở nên sôi
động, phổ biến khi thị trường dịch vụ được mở cửa, tạo sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa
các doanh nghiệp Việt nam với nhau cũng như giữa các doanh nghiệp cung cấp dịch
vụ pháp lý Việt Nam với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ pháp lý nước ngoài. Với
thực trạng của nền kinh tế nói chung và tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty
nói riêng thì công tác nghiên cứu phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý của Công ty
đóng vai trò vô cùng quan trọng để Công ty có thể đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy
hoạt động cung ứng dịch vụ pháp lý. Căn cứ vào tính cấp thiết đó, tôi quyết định chọn
đề tài:“Phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý của Công ty LUẬT TNHH IMC” làm
khóa luận tốt nghiệp.
Với khóa luận này, tôi nghiên cứu những vấn đề bao gồm hệ thống hóa những lý
luận về phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý; phân tích, đánh giá thực trạng phát triển
cung ứng dịch vụ pháp lý của Công ty LUẬT TNHH IMC trên thị trường giai đoạn
2013-2017 để thấy được những thành công và hạn chế trong phát triển cung ứng dịch
vụ pháp lý của Công ty. Dựa vào cơ sở phân tích đó đề xuất một số giải pháp, kiến
nghị nhằm phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý của Công ty LUẬT TNHH IMC trên
thị trường trong thời gian tới.


MỤC LỤC
TÓM LƯỢC.................................................................................................................. i
DANH MỤC BẢNG...................................................................................................iv
PHẦN MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài............................................................................................1
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan.........................................................2


2.2.1 Thực trạng về uy tín, thương hiệu phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý..............26
2.2.2 Thực trạng về quy mô phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý................................27
2.2.3 Thực trạng phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý về chất lượng của Công ty LUẬT
TNHH IMC..................................................................................................................29
2.2.4 Hiệu quả phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý của Công ty LUẬT TNHH IMC. 30
2.3 Các chính sách mà công ty LUẬT TNHH IMC áp dụng để phát triển cung ứng
dịch vụ pháp lý............................................................................................................32
2.4 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu thực trạng phát triển cung ứng dịch vụ
pháp lý của Công ty LUẬT TNHH IMC.....................................................................34
2.4.1 Thành công.........................................................................................................34
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân.....................................................................................36
CHƯƠNG 3: CÁC ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ PHÁT TRIỂN
CUNG ỨNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ CỦA CÔNG TY LUẬT TNHH IMC..............38
3.1 Quan điểm, định hướng phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý của công ty LUẬT
TNHH IMC.................................................................................................................38
3.1.1 Quan điểm phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý của công ty LUẬT TNHH IMC 38
3.1.2 Định hướng phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý của công ty LUẬT TNHH IMC. .
............................................................................................................................ 40
3.2 Các đề xuất giải pháp phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý....................................41
3.2.1 Nâng cao chất lượng các nguồn lực của Công ty................................................41
3.2.2 Tăng cường điều tra, nghiên cứu nhu cầu thị trường..........................................42
3.2.3 Tăng cường hoạt động quảng bá dịch vụ, xây dựng thương hiệu.......................42
3.2.4 Sử dụng chính sách giá cả phù hợp....................................................................43
3.3 Một số kiến nghị phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý của công ty LUẬT TNHH
IMC ............................................................................................................................ 43
3.4 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu......................................................46
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................48



luật sư trong những công việc mang tính thủ tục hành chính hoặc khi có những tranh
chấp phải giải quyết ở trọng tài, tòa án hoặc cơ quan khác. Doanh nghiệp Việt Nam
chưa có thói quen tuân thủ pháp luật. Thực tiễn thời gian qua cho thấy nhiều chủ
doanh nghiệp rơi vào vòng lao lý, khiến cho các doanh nghiệp đối tác hoặc nhà đầu tư
khác bị phá sản, người lao động mất việc làm…Khi xảy ra tranh chấp, doanh nghiệp
Việt Nam thường không muốn gặp nhau đối thoại, thương lượng mà thường sử dụng
‘quan hệ xã hội’ để giải quyết bằng những thủ đoạn trái pháp luật. Thay vì sử dụng
dịch vụ luật sư thì họ lại dùng các ‘mối quan hệ cá nhân’ với cán bộ cơ quan có thẩm
quyền. Không phủ nhận cách giải quyết này có thể tạm thời giúp doanh nghiệp tránh
rắc rối, nhưng dễ tạo thói quen không tuân thủ pháp luật, cho đến khi những hành vi
trái pháp luật của họ bị phát hiện thì đã muộn.
Công ty Luật TNHH IMC là một công ty chuyên cung ứng dich vụ pháp lý, trong
quá trình hoạt động công ty không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ tư vấn, đạt chỉ
tiêu kinh tế đặt ra hằng năm. Tuy nhiên công ty vẫn còn một số tồn tại về điều kiện vật
chất, lực lượng cán bộ tư vấn giỏi có trình độ còn hạn chế, hoạt động nghiên cứu thị
trường, tiếp thị của công ty chưa được mở rộng...Do đó, nhận thức được tầm quan
trọng của phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý đối với doanh nghiệp và việc nghiên
cứu về phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý sẽ có thể đưa ra, đề xuất một số giải pháp
1


giúp Công ty LUẬT TNHH IMC thực hiện hoạt động cung ứng dịch vụ pháp lý hiệu
quả hơn.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
[1]. Nguyễn Thị Chiều (2011), “ Báo cáo tổng hợp về tình hình phát triển của
công ty LUẬT TNHH SMIC trên thị trường Hà Nội”, khóa luận tốt nghiệp, Khoa Luật
Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân. Khóa luận có kết cấu nội dung gồm ba
chương bao gồm giới thiệu cơ sở lý luận cơ bản về phát triển cung ứng dịch vụ pháp
lý, thực trạng phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý của công ty LUẬT TNHH SMIC
trên thị trường Hà Nội, và đề xuất một số giải pháp giúp hoàn thiện công tác phát triển

pháp lý trên thị trường ngày nay.
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Xuất phát từ tính cấp thiết về lý luận cũng như thực tiễn, cùng với sự hiểu biết
của mình sau một thời gian thực tập tại Công ty LUẬT TNHH IMC, em quyết định
chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp “Phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý của Công ty
LUẬT TNHH IMC”.
Đề tài khóa luận nhằm mục đích trả lời các vấn đề sau:
- Phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý là gì?
- Phân tích thực trạng và những tồn tại trong phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý
của công ty LUẬT TNHH IMC. Từ đó đánh giá những thành công, hạn chế của công
ty trong việc phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý.
- Cần có giải pháp nào để tăng cường hiệu quả phát triển cung ứng dịch vụ pháp
lý tại Công ty LUẬT TNHH IMC.
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
a, Đối tượng nghiên cứu
Dịch vụ pháp lý và chính sách phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý của công ty
LUẬT TNHH IMC.
b, Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung
Đề xuất giải pháp phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý của công ty LUẬT TNHH
IMC
- Mục tiêu cụ thể
Về lý thuyết: Làm rõ một số khái niệm về dịch vụ, dịch vụ pháp lý, cung ứng
dịch vụ pháp lý và phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý.
Về thực trạng: Nghiên cứu thực trạng cung ứng dịch vụ pháp lý của công ty và
các chính sách công ty LUẬT TNHH IMC đã áp dụng.
Về giải pháp: Tìm ra những vấn đề còn tồn tại để từ đó đưa ra các kiến nghị, đề xuất
giải pháp để giúp Công ty LUẬT TNHH IMC phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý tốt hơn.
c. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung

Người nghiên cứu có thể thu thập các tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp. Có nhiều
phương pháp thu thập dữ liệu, khi tiến hành thu thập dữ liệu thường phải sử dụng phối
hợp nhiều phương pháp với nhau để đạt mong muốn.
Thu thập dữ liệu sơ cấp: Quá trình tìm hiểu và nghiên cứu hoạt động cung ứng
dịch vụ cũng như việc nắm bắt thực trạng áp dụng tại Công ty Luật TNHH IMC, đã
thu thập các dữ liệu sơ cấp từ việc đọc các văn bản quy phạm pháp luật, các tài liệu
của công ty, các báo cáo hàng năm…để lấy cơ sở dữ liệu hoàn thành đề tài khóa luận.
Thu thập dữ liệu thứ cấp: Việc nghiên cứu thông thường bắt đầu từ việc thu thập
thông tin thứ cấp. Nguồn tài liệu này bao gồm: nguồn tài liệu bên trong của Công ty
(Báo cáo về tình hình hoạt động, thực hiện cung ứng các dịch vụ tư vấn pháp lý cho
các khách hàng của công ty) và nguồn tài liệu bên ngoài của công ty (các văn bản quy
phạm pháp luật của nhà nước, sách báo thường kỳ, sách chuyên ngành, thông in thống
kê, báo cáo khoa học,…). Trong bài khóa luận em đã sử dụng phương pháp này trong
phần phân tích thực trạng áp dụng tại Công ty Luật TNHH IMC.
b, Phương pháp xử lý dữ liệu
Phương pháp này là việc phân chia cái toàn thể của đối tượng nghiên cứu thành
4


những bộ phận, những mặt, những yếu tố cấu thành đơn giản hơn để nghiên cứu, phát
hiện ra từng thuộc tính, bản chất của từng yếu tố đó. Từ đấy, chúng ta hiểu được đối
tượng nghiên cứu một cách rõ ràng, mạch lạc hơn, hiểu được cái chung phức tạp từ
những bộ phận ấy.
Trong khóa luận, phương pháp này được sử dụng nhằm phân tích so sánh, đối
chiếu để cân nhắc các yếu tố giúp thúc đẩy phát triển thương mại và những yếu tố làm
kìm hãm thương mại, cũng như đưa ra các giải pháp hợp lý. Cụ thể là phần phân tích
thực trạng cung ứng dịch vụ pháp lý của Công ty LUẬT TNHH IMC ở chương 2 và
các kiến nghị, giải pháp ở chương 3.
6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần tóm lược, lời mở đầu, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ,

1.1.2. Khái niệm dịch vụ pháp lý
Dịch vụ là thuật ngữ xuất hiện ở các nước từ lâu nhưng được sử dụng ngày càng
phổ biến ở Việt Nam từ những năm 80 trở lại đây. Tuy vậy, cách hiểu về thuật ngữ này
và nội hàm của nó ở các nước không giống nhau. Để có cách hiểu thống nhất về dịch
vụ trong quan hệ quốc tế và phục vụ công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế, năm 1991
Liên Hợp Quốc đã công bố Bảng phân loại tạm thời các dịch vụ chủ yếu (PCPC) và
đến năm 1997 thì có Bảng phân loại dịch vụ chủ yếu (CPC) của Liên Hợp Quốc.
PCPC và CPC không đưa ra định nghĩa về dịch vụ, nhưng các hành vi được liệt kê
trong các bảng đó được gọi là dịch vụ. Theo nghĩa rộng của thuật ngữ này, dịch vụ
pháp lý có thể định nghĩa là tổng thể các dịch vụ tư vấn pháp luật, dịch vụ đại diện
pháp lý và mọi hoạt động liên quan đến hành chính tư pháp (thẩm phán, thư ký phiên
toà, công tố...). Trong thực tiễn nhiều nước các hoạt động liên quan đến hành chính tư
pháp bị loại ra khỏi phạm vi của khái niệm dịch vụ pháp lý trong thương mại quốc tế
vì người ta coi các hoạt động đó là "các dịch vụ được cung cấp khi thi hành thẩm
quyền của Chính phủ".

6


Như vậy, theo nghĩa bình thường của thuật ngữ này thì dịch vụ pháp lý có thể
được định nghĩa là tổng thể các dịch vụ tư vấn pháp luật và dịch vụ đại diện pháp lý
được định lập và thực hiện theo quy định pháp luật của nước nơi các dịch vụ đó được
định lập và có thể được thực hiện trong các lĩnh vực pháp luật nội dung và thủ tục tố
tụng khác nhau của hệ thống pháp luật quốc gia.
1.1.2.1. Dịch vụ pháp lý theo pháp luật Việt Nam
Dịch vụ pháp lý ở Việt Nam được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác
nhau, chưa có sự thống nhất về quan niệm, cũng như bản chất của dịch vụ pháp lý.
Luật Doanh nghiệp năm 1999 và Nghị định số 03/2000/NĐ-CP hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Doanh nghiệp, có hướng dẫn khoản 4 Điều 6 của Luật
Doanh nghiệp về chứng chỉ hành nghề đã quy định: Chứng chỉ hành nghề được cấp

1.1.2.2. Dịch vụ pháp lý theo quy định của GATS/WTO, BTA và một số nước trên
thế giới
Theo WTO, dịch vụ bao gồm 12 nhóm chính , trong đó có nhóm “dịch vụ thương
mại” bao gồm “dịch vụ nghề nghiệp”, và “dịch vụ pháp lý” là một loại dịch vụ thuộc
nhóm này. Theo GATS, dịch vụ pháp lý bao gồm “các dịch vụ về tư vấn và đại diện
cũng như tất cả các hoạt động khác liên quan tới tố tụng” (như hoạt động của thẩm
phán, thư ký tòa án, công tố...). Tuy nhiên, khía cạnh thứ hai (hoạt động liên quan tới
tố tụng) đã bị loại ra khỏi phạm vi của GATS bởi tại hầu hết các quốc gia, đây được
coi là “loại hình dịch vụ do chính phủ thực hiện”. Do vậy, GATS chỉ quy định về các
dịch vụ đại diện và tư vấn trong một số ngành luật và các thủ tục pháp lý. Theo Danh
mục phân loại các lĩnh vực dịch vụ (Danh mục CPC), dịch vụ pháp lý là loại hình dịch
vụ kinh doanh hay dịch vụ nghề nghiệp (CPC 861) và được phân loại như sau: - Dịch
vụ tư vấn và đại diện liên quan tới luật hình sự (86111); - Dịch vụ tư vấn pháp luật và
đại diện trong các thủ tục tư pháp liên quan tới các lĩnh vực pháp luật khác (86119); Dịch vụ tư vấn pháp luật và đại diện trong các thủ tục pháp lý trước các hội đồng tư
pháp (có thẩm quyền như Tòa án) (86120); - Dịch vụ về văn bản pháp luật và xác
nhận (86130); và Các thông tin tư vấn pháp lý khác (86190).
Dịch vụ tư vấn pháp luật, theo cách hiểu chung nhất, là hoạt động của những
người có kiến thức về mặt pháp lý được pháp luật cho phép cung cấp các ý kiến pháp
lý nói chung cho các cá nhân, tổ chức có yêu cầu (sau đây gọi chung là khách hàng) và
khách hàng sẽ phải trả một khoản phí tương ứng. Tư vấn pháp luật có thể là việc giải
đáp pháp luật, hướng dẫn thực hiện pháp luật, sau đó có thể tự mình thực hiện các
công việc pháp lý giúp khách hàng, chẳng hạn như soạn thảo hợp đồng mà khách hàng
là một bên trong hợp đồng.
Dịch vụ đại diện pháp luật được hiểu là người đại diện thay mặt khách hàng
trước cơ quan có thẩm quyền, trước bạn hàng của khách hàng để thực hiện các công
việc đúng pháp luật, theo sự uỷ quyền của khách hàng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của khách hàng và có thu phí. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể là cơ
quan tư pháp, cơ quan hành chính, hoặc tổ chức có quyền tư pháp. Người đại diện trực
tiếp thực hiện các công việc trước các cơ quan, tổ chức này thay mặt khách hàng và
không nằm ngoài phạm vi đã được thoả thuận trước với khách hàng.

khác không phải là Toà án) như nghiên cứu văn bản pháp luật, gặp gỡ khách hàng,
xem xét báo cáo), và thực hiện các công việc có liên quan đến đơn từ tố tụng.
Dịch vụ lập và xác nhận các giấy tờ pháp lý bao gồm hoạt động chuẩn bị, phác
thảo, hoàn thiện, chứng nhận giấy tờ pháp lý và các công việc cần thiết khác liên quan
đến việc soạn thảo hay chứng nhận giấy tờ pháp lý. Các loại giấy tờ có tính chất pháp
lý thường được yêu cầu thực hiện là bản di chúc, giấy đăng ký kết hôn, hợp đồng
thương mại, điều lệ công ty…
Dịch vụ tư vấn và cung cấp thông tin pháp lý khác là việc đưa ra những lời tư
vấn cho khách hàng liên quan đến quyền và nghĩa vụ pháp lý của công dân của họ;
cung cấp các thông tin pháp luật nằm ngoài các hoạt động được kể trên. Dịch vụ này
cũng bao gồm cả việc đứng ra bảo lãnh cho khách hàng và dịch vụ thanh toán tài sản.

9


Dịch vụ công chứng là dịch vụ chứng nhận một hợp đồng hoặc một giao dịch được
thể hiện trên văn bản, chẳng hạn như chuyển quyền sở hữu; thừa kế tài sản; biên bản lời
khai khi ly hôn; công nhận sự liên kết và lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh theo
pháp luật công ty. Dịch vụ công chứng thường do các luật sư tư vấn thực hiện hoặc cũng
có thể do các công chức thực hiện, tùy theo quy định của từng quốc gia. Một số quốc gia
coi dịch vụ công chứng là “dịch vụ được cung cấp để thực thi quyền lực của Chính phủ”.
Tuy nhiên, dịch vụ công chứng không giống như các hoạt động của thẩm phán, công tố
viên. Công chứng viên cung cấp dịch vụ “trên cơ sở thương mại” và vì vậy, hoạt động
công chứng vẫn phải tuân thủ các quy định của GATS.
Nói một cách khái quát, dịch vụ pháp lý (theo nghĩa rộng) bao gồm toàn bộ dịch
vụ tư vấn và dịch vụ đại diện được phân tích ở trên cũng như tất cả các hoạt động liên
quan đến việc thi hành công lý (thẩm phán, công tố viên…). Tuy nhiên, dịch vụ đại
diện liên quan đến việc thi hành công lý trên thực tế nằm ngoài phạm vi của GATS,
bởi hầu hết các quốc gia đều coi dịch vụ đại diện này là “dịch vụ được cung cấp để thi
hành thẩm quyền của Chính phủ” (dịch vụ được cung cấp không trên cơ sở thương

mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến
thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác“ . Hoạt động thương mại
được định nghĩa theo Luật thương mại chỉ tập trung vào các hoạt động kinh doanh
trong 2 khâu lưu thông và dịch vụ, không bao hàm khâu đầu tư cho sản xuất. Hai lĩnh
vực chủ yếu của hoạt động thương mại là thương mại hàng hóa và thương mại dịch
vụ. Thương mại dịch vụ là một loại sản phẩm vô hình, không thể sở hữu cũng như
chuyển quyền sở hữu. Thương mại dịch vụ có tính quá trình, không tiêu chuẩn hóa
được và không đồng nhất; nó còn mang tính liên hoàn, cung cấp và sử dụng dịch vụ;
không cần nắm được, không lưu kho, lưu bãi được. Theo khoản 9 Điều 3 Luật Thương
Mại: “Cung ứng dịch vụ ( thương mại dịch vụ) là hoạt động, theo đó một bên (sau đây
gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận
thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán
cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận”. Theo đó, cung ứng
dịch vụ bao gồm 2 bên chủ thể, mỗi bên có thể có sự tham gia của 1 hay nhiều thương
nhân với nhiều loại hợp đồng khác nhau. Đối tượng của hợp đồng cung ứng dịch vụ là
dịch vụ, hình thức có thể bằng văn bản, lời nói, hành vi. Như vậy, xét về bản chất của
giao dịch, cung ứng dịch vụ cũng có tính chất của giao dịch mua bán (mua bán dịch
vụ) hay cung ứng dịch vụ là một loại hoạt động thương mại.
Phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý là hoạt động có tăng trưởng hay sự gia tăng,
ổn định, dài hạn về quy mô, tốc độ của các hoạt động thương mại hàng hóa, dịch vụ.
Kết quả của tăng trưởng cung ứng dịch vụ pháp lý có đóng góp tích cực vào phát triển
bền vững về kinh tế, có tác động đến chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế theo hướng
tích cực, hiện đại, tiên tiến - phát triển các ngành, lĩnh vực có giá trị gia tăng cao, sử
dụng lao động chất lượng cao, tạo ra giá trị gia tăng cao. Phát triển cung ứng dịch vụ
pháp lý sử dụng các nguồn lực vật chất (vốn, lao động, khoa học - công nghệ) và
nguồn lực phi vật chất (truyền thống, lịch sử, văn hóa,…) đảm bảo việc sử dụng nguồn
lực cho phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý hiện tại. Phát triển cung ứng dịch vụ pháp
lý là sự tăng tiến về mọi mặt của hoạt động thương mại, thể hiện ở sự gia tăng về số
lượng - quy mô, tốc độ; sự dịch chuyển về cơ cấu thương mại hàng hóa, dịch vụ và
nâng cao về chất lượng của thương mại trong quá trình cung ứng dịch vụ pháp lý. Mục

+ Nhân tố kinh tế : Có thể tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc xâm nhập mở rộng
thị trường, nghành hàng này nhưng lại hạn chế sự phát triển cuả nghành hàng khác.
Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng hay xu hướng phát
triển của các ngành hàng , các yếu tố kinh tế bao gồm : Hoạt động ngoại thương : Xu
hướng đóng mở của nền kinh tế có ảnh hưởng các cơ hội phát triển của doanh
nghiệp ,các điều kiện canh tranh ,khả năng sử dụng ưu thê quốc gia về công nghệ,
nguồn vốn; Lạm phát và khả năng điều khiển lạm phát ảnh hưởng đến thu nhập, tích
luỹ , tiêu dùng, kích thích hoặc kìm hãm đầu tư ...; Sự thay đổi về cơ cấu kinh tế ảnh
hưởng dến vị trí vai trò và xu hướng phát triển của các ngành kinh tế kéo theo sự thay

12


đổi chiều hướng phát triển của doanh nghiệp; Tôc độ tăng trưởng kinh tế: Thể hiện xu
hướng phát triển chung của nền kinh tế liên quan đến khả năng mở rộng hay thu hẹp
quy mô kinh doanh của mỗi doanh nghiệp .
+ Các nhân tố văn hoá xã hội : Có ảnh hưởng lớn tới khách hàng cũng như hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp ,là yếu tố hình thành tâm lí, thị hiếu của người tiêu
dùng . Thông qua yếu tố này cho phép các doanh nghiệp hiểu biết ở mức độ khác nhau
về đối tượng phục vụ qua đó lưạ chọn các phương thức kinh doanh cho phù hợp .
+ Nhân tố khách hàng : Khách hàng là những người có nhu cầu và khả năng
thanh toán về hàng hoá và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh . Khách hàng là nhân
tố quan trọng quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Khách hàng có nhu cầu rất phong phú và khác nhau …Mỗi nhóm khách hàng có một
đặc trưng riêng phản ánh quá trình sử dụng dịch vụ khác nhaum. Do đó doanh nghiệp
phải có chính sách đáp ứng nhu cầu từng nhóm cho phù hợp.
+ Đối thủ canh tranh : Bao gồm các nhà kinh doanh cùng dịch vụ của doanh
nghiệp hoặc kinh doanh dịch vụ có khả năng thay thế. Đối thủ canh tranh có ảnh
hưởng lớn đến doanh nghiệp, doanh nghiệp có cạnh tranh được thì mới vó khả năng
tồn tại ngược lại sẽ bị đẩy lùi ra khỏi thị trường , Cạnh tranh giúp doanh nghiệp có thể

mối quan hệ xã hội …
1.3. Nội dung và nguyên lý phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý
1.3.1 Đặc điểm cung ứng dịch vụ pháp lý
a, Dịch vụ pháp lý có tính gắn liền với pháp luật
Khác với nội dung của các dịch vụ thương mại khác là việc tiến hành các công
việc thông thường cho khách hàng. Công việc phải thực hiện của dịch vụ pháp lý luôn
gắn liền với pháp luật , bao gồm: Trang bị cho khách hàng kiến thức, hiểu biết về một
lĩnh vực pháp luật nhất định (tư vấn pháp luật) ; Bào chữa và/hoặc bảo vệ quyền và lợi
ích cho khách hàng (dịch vụ tranh tụng) ; đại diện (trong hoặc/và ngoài tố tụng) cho
khác hàng để thực hiện quyền và nghĩa vụ, nhân danh và vì lợi ích của khác hàng,
mang lại quyền và nghĩa vụ cho khách hàng; chứng nhận tính hợp pháp của các hợp
đồng và giao dịch bằng văn bản cho khách hàng : lập vi bằng ghi lại các sự kiện pháp
lý làm căn cứ bảo vệ quyền lợi hoặc khởi kiện, xác minh điều kiện thi hành án, thi
hành án cho khách hàng,…
Tính gắn liền với pháp luật của dịch vụ pháp lý còn được thể hiện bởi mục đích
của bên sử dụng dịch vụ pháp lý là nhằm thỏa mãn nhu cầu về mặt pháp lý của mình
hoặc cho người mà mình chỉ định. Dịch vụ pháp lý đảm bảo an toàn cho bên tổ chức,
cá nhân trong giao dịch hằng ngày .
Bên cạnh đó quá trình cung ứng và sử dụng dịch vụ pháp lý luôn gắn với quá
trình thực thi pháp luật của hệ thống cơ quan hành pháp và tư pháp và là loại hoạt
động bổ trợ đặc biệt quan trọng cho các hoạt động đó. Dịch vụ pháp lý góp phần vào
việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nha nước trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh
vực tư pháp. Dịch vụ pháp lý góp phần tìm ra sự thật khách quan, bảo vệ công lý, đảm
bảo cho hoạt động của cơ quan này tiến hành thận trọng và trong một số trường hợp
hoạt động dịch vụ pháp lý không thể thiếu được.
b, Người thực hiện dịch vụ pháp lý phải có chuyên môn và kỹ năng hành nghề
luật.
Tính gắn liền với pháp luật của dịch vụ pháp lý quyết định yếu tố người thực
hiện dịch vụ pháp lý. Dịch vụ pháp lý được thực hiện bằng lao động trí tuệ của người
14

nước thừa nhận có giá trị pháp lý là ngang nhau.
1.3.2 Nguyên tắc phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý
a. Tôn trọng và chấp hành nghiêm túc pháp luật
Đây là nguyên tắc bắt buộc đối với mỗi công dân và đặc biệt là những người làm
dịch vụ pháp lý (luật sự). Luật sư là một trong những nghề rất cao quý bởi vì hoạt
động của luật sư là vì mục đích bảo về công lý, bảo vệ độc lập, góp phần xây dựng xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tôn trọng và chấp hành nghiêm túc phap luật là
nguyên tắc đạo đức, nền tảng cơ bản với pháp luật. Đặc biệt, luật sư không được để
tiền bạc hoặc vật chất khác chi phối đạo đức và ứng xử nghề nghiệp làm sai lệch mục
15


đich hành nghề luật sư. Khi hành nghề, đối diện với rất nhiều cám dỗ, luật sưu cần
tuân theo nguyên tắc này để giữ uy tín nghề nghiệp, thanh danh luật sư và xứng đáng
với sự tôn trọng của xã hội.
b. Đảm bảo bí mật nội dung tư vấn cho khách hàng
Luật sư có nghĩa vụ phải giữ bí mất của khách hàng khi thực hiện dịch vụ pháp lý
và cả khi kết thúc dịch vụ đó, trừ trường hợp khách hàng đồng ý hoặc theo quy định
của pháp luật, luật sư có trách nhiệm yêu cầu các đồng nghiệp có liên quan của mình
và nhân viên của mình cam kết không tiết lộ những bí mật thông tin mà họ biết được
và giải thích rõ nếu tiết lộ thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Giữ bí mật cho khách hàng là nguyên tắc cơ bản hàng đầu. Thực hiện tốt nguyên
tắc này thì khách hàng mới có niềm tin vào luật sư, mới cung cấp đầy đủ thông tin liên
quan đến sự việc, kể cả những vấn đề tế nhị. Vì vậy, luật sư không được tiết lộ bất cứ
thông tin gì về thân chủ mà mình biết được. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là giữ bí mật đến
đâu và nếu luật sư chọn giải pháp im lặng để bảo vệ thân chủ thì họ có thể phạm các
tội như không tố giác tội phạm, che giấu tội phạm và bị xử lý hình sự hay không vẫn
đang gặp rất nhiều bàn cãi.
c. Tôn trọng khách hàng và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho khách
hàng ở mức độ cao nhất.

khác, thương hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp.
Xây dựng thương hiệu là vấn đề đòi hỏi thời gian, khả năng tài chính và ý chí
không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Một doanh nghiệp có năng lực
cạnh tranh cao cũng có nghĩa là họ đã xây dựng được thương hiệu mạnh, thương hiệu
đó luôn được khách hàng nhớ và nhận biết rõ ràng. Nếu khách hàng đã tin tưởng thì họ
sẽ trung thành với thương hiệu đó. Thương hiệu tốt giúp tạo dựng hình ảnh công ty tốt
và nhanh chóng thu hút được những khách hàng mới, vốn đầu tư và thu hút nhân tài.
Uy tín cao của thương hiệu tạo lòng trung thành của khách hàng đối với dịch vụ được
cung ứng, đem lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, giảm chi phí tiếp thị, giúp
doanh nghiệp có điều kiện phòng thủ, chống lại sự cạnh tranh quyết liệt trên thị
trường.
b, Phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý về quy mô
Doanh thu: là thu nhập mà doanh nghiệp nhận được từ việc bán hàng hóa và dịch
vụ được tính bằng giá của thị trường (P) của hàng hóa nhân với lượng hàng hóa bán ra
(Q)
Tổng doanh thu là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp nhận được khi bán một lượng
sản phẩm( dịch vụ) nhất định.
Công thức: TR = P*Q
Trong đó: TR: Tổng doanh thu
P: Giá bán một đơn vị sản phẩm
Q: Số lượng sản phẩm bán ra
Lợi nhuận: là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả của mọi hoạt động kinh doanh
trong một thời kỳ nhất định, nó là chỉ tiêu cơ bản nhất để phân tích hiệu quả hoạt động

17


kinh doanh. Lợi nhuận của hoạt động kinh doanh chính là phần chênh lệch giữa tổng
doanh thu và tổng chi phí của hoạt động kinh doanh trong kỳ.
Công thức tính của nó như sau:

nhuận.

18


Hoặc Tỷ suất lợi nhuận =
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng chi phí bỏ ra có thể mang lại bao nhiêu đồng
lợi nhuận.

19


Tỷ suất lợi nhuận càng cao thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cành tốt.
Chỉ tiêu này có ý nghĩa khuyến khích các doanh nghiệp tăng doanh thu, giảm chi phí
nhưng điều kiện để có hiệu quả là tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng
doanh thu và tốc độ tăng chi phí.
Hoặc là: Tỷ suất lợi nhuận =
Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Chỉ tiêu sẽ cho biết cứ một đồng vốn của doanh nghiệp sẽ cho bao
nhiêu đồng lợi nhuận
1.3.4. Chính sách phát triển cung ứng dịch vụ pháp lý.
a, Chính sách phát triển nguồn lực doanh nghiệp
- Chính sách phát triển nguồn nhân lực
Doanh nghiệp cần lập kế hoạch dài hạn về nhân lực để có chính sách phù hợp;
chú trọng đến công tác tuyển dụng và bố trí nhân sự hợp lý; có kế hoạch đào tạo nhân
lực hằng năm và tạo động lực cho nhân viên thông qua việc trả lương, thưởng xứng
đáng trong quá trình làm việc. Trong quá trình làm việc, doanh nghiệp cũng cần xây
dựng môi trường làm việc thân thiện, tích cực; xây dựng tốt mối quan hệ giữa lãnh đạo
và nhân viên.
- Chính sách nâng cao năng lực tài chính

của doanh nghiệp tăng sự đoàn kết giữa các thành viên.

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status