luận văn kinh tế luật pháp luật điều chỉnh về cơ cấu tổ chức, quản lý công ty cổ phần – thực tiễn thực hiện tại công ty cổ phần tư vấn quản lý dự án VPM hà nội - Pdf 59

TÓM LƯỢC
Chương 1 khóa luận nghiên cứu một cách chi tiết về khái niêm, đặc điểm của
Công ty cổ phần cũng như quản lý Công ty cổ phần. Bên cạnh đó, khóa luận cũng chỉ
ra cơ sở quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật, đồng thời phân tích và
làm rõ được mối quan hệ giữa Điều lệ công ty và pháp luật trong điều chỉnh quản lý
Công ty cổ phần. Trong phạm vi chương 1 cũng đã nghiên cứu sơ lược nội dung pháp
luật về quản lý Công ty cổ phần.
Đối với chương 2, khóa luận tập trung vào đánh giá thực trạng pháp luật điều
chỉnh về cơ cấu tổ chức, quản lý công ty cổ phần và thực trạng thực hiện pháp luật về
cơ cấu tổ chức, quản lý công ty cổ phần ở các doanh nghiệp. Đồng thời, trong chương
2 cũng đã có liên hệ thực trạng thực hiện pháp luật về cơ cấu tổ chức, quản lý Công ty
cổ phần ở Công ty cổ phần tư vấn quản lý dự án VPM Hà Nội. Qua việc đánh giá về
thực trạng thực hiện pháp luật về cơ cấu tổ chức, quản lý Công ty cổ phần, khóa luận
đã rút ra bất cập của hệ thống pháp luật hiện tại và khó khăn trong việc áp dụng, thi
hành các quy định về cơ cấu tổ chức, quản lý nội bộ trong Công ty cổ phần ở các
doanh nghiệp hiện nay.
Sau khi phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật về cơ cấu tổ chức quản lý
Công ty cổ phần, trong chương 3, khóa luận đã đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật
về cơ cấu tổ chức, quản lý Công ty cổ phần ở Việt Nam.

1


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và tạo điều kiện từ
phía Ban lãnh đạo và các anh chị em trong Công ty cổ phần tư vấn quản lý dự án VPM
Hà Nội. Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Quý công ty vì những giúp đỡ đó.
Trong quá trình hoàn thành bài khóa luận này, tôi có sử dụng rất nhiều kiến thức
đã được học trong suốt bốn năm vừa qua. Tôi xin kính gửi lời cảm ơn đến Quý Thầy,
Cô giáo đã dạy và truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức bổ ích trong suốt bốn năm tôi
theo học tại trường Đại học Thương mại.

GCNĐKKD
GĐ/TGĐ
HĐQT
QPPL

Ý nghĩa của từ viết tắt
Ban kiểm soát
Công ty cổ phần
Công ty trách nhiệm hữu hạn
Doanh nghiệp tư nhân
Đại hội đồng cổ đông
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Giám đốc/Tổng giám đốc
Hội đồng quản trị
Quy phạm pháp luật

4


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận.
Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang là xu
thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại. Để phù hợp với xu thế đó, từ năm 1986 đến
nay, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế
với phương châm “đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại. Việc gia nhập WTO
là một trong những nỗ lực nhằm tiếp cận thị trường thương mại toàn cầu, nâng cao vị
thế của Việt Nam trên thị trường thương mại quốc tế, tạo tiền đề cho hội nhập và phát
triển nền kinh tế. Cũng giống như nhiều quốc gia khác, khi tham gia WTO, Việt Nam
cũng phải tiến hành hoàn thiện hóa một số văn bản pháp luật như: Bộ luật Dân sự,
Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh… nhằm tạo ra

trình nghiên cứu còn ít, chủ yếu là các công trình nghiên cứu đối với luật Doanh
nghiệp 2005. Qua đây ta cũng thấy được những bất cập mà luật cũ còn vướng phải và
được điều chỉnh, bổ sung ở luật mới.
Trong đó có một số công trình nghiên cứu như:
Về Luận án, Luận văn: Luận án “Pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong
Công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay” của Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Hương,
Học viện Khoa học xã hội. Luận án đã nghiên cứu một cách có hệ thống quan niệm và
nhu cầu bảo vệ cổ đông thiểu số, góp phần làm rõ nhận thức về bảo vệ cổ đông thiểu
số trong CTCP ở Việt Nam hiện nay.
Luận văn “Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản trị Công ty cổ phần” của tác
giả Hoàng Thị Mai, khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong Luận văn, tác giả đã
nghiên cứu làm rõ một số vấn đề chung về quản trị CTCP, cơ sở lý luận và thực tiễn
hoàn thiện về vấn đề cơ cấu tổ chức, quản lý CTCP ở Việt Nam; phân tích, đánh giá
quy định pháp luật về quản trị CTCP ở Việt Nam và thực tiễn thi hành các quy định
này trên thực tế.
Về các đề tài nghiên cứu khoa học, có thể kể đến một số đề tài như: “giải pháp
nâng cao năng lực giám sát hoạt động tài chính của doanh nghiệp nhà nước sau cổ
phần hóa” của TS. Nguyễn Tuấn Phương thực hiện từ 2010 – 2012. Công trình nghiên
cứu đã phân tích về tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần
hóa. Đồng thời, cũng đánh giá năng lực giám sát hoạt động tài chính của các doanh
nghiệp đó. Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng, tác giả cũng đã đề xuất giải
pháp để giải quyết thực trạng đó.
Về bài đăng trên tạp chí:Nguyễn Thị Lan Hương (2009), Một số so sánh về công
ty cổ phần theo Luật công ty Nhật Bản và Luật Doanh nghiệp Việt Nam , Tạp chí khoa
học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học 25(2009), tr. 87-93. Bài báo đã tập trung làm
rõ một số vấn đề về quyền của cổ đông và tổ chức nội bộ CTCP từ góc độ so sánh, đối
chiếu Luật công ty Nhật Bản và Luật Doanh nghiệp Việt Nam; từ đó tìm ra sự tương

6


Thứ nhất, nghiên cứu và hệ thống cơ sở lý luận điều chỉnh về CTCP, cơ cấu tổ
chức, quản lý CTCP

7


Thứ hai, chỉ ra thực trạng pháp luật về cơ cấu tổ chức, quản lý CTCP tại Việt
Nam, nghiên cứu điển hình ở CTCP tư vấn quản lý dự án VPM Hà Nội. Phân tích các
quy định của pháp luật về vấn đề cơ cấu tổ chức, quản lý CTCP và đánh giá tác động
của chúng trong thực tiễn.
Thứ ba, trên cơ sở phân tích thực trạng, đề xuất một số giải pháp nhẳm hoàn
thiện các quy định của pháp luật về cơ cấu tổ chức, quản lý CTCP.
Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Về thời gian: khóa luận sẽ nghiên cứu sơ qua về cơ cấu tổ chức, quản lý CTCP
khi thực thi luật Doanh nghiệp 2005, sau đó sẽ phân tích rõ hơn khi luật Doanh nghiệp
2014 được ban hành và các văn bản hướng dẫn khác. Đồng thời có sự so sánh giữa luật
Doanh nghiệp 2005 với luật Doanh nghiệp 2014
Về không gian: khóa luận tập trung làm rõ các quy định của pháp luật về quản trị
CTCP ở Việt Nam, nghiên cứu điển hình tại Công ty cổ phần VPM Hà Nội
Về nguồn tư liệu: luật Doanh nghiệp 2005, luật Doanh nghiệp 2014, nghị định
96/2015/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của luật Doanh nghiệp 2014,
… và một số luật khác có liên quan
Có rất nhiều khái niệm cũng như cách tiếp cận về cơ cấu tổ chức, quản lý CTCP.
Tuy nhiên, trong phạm vi bài khóa luận sẽ chỉ tìm hiểu về cơ cấu tổ chức, quản lý
CTCP theo quy định của pháp luật dưới góc độ là quản lý nội bộ của CTCP tức là cách
thức tổ chức các cơ quan quyền lực trong công ty và mối quan hệ giữa các cơ quan đó.
5. Phương pháp nghiên cứu
Bài khóa luận sử dụng cả dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp. Dữ liệu sơ cấp được
thu thập từ các quy định trong các văn bản Luật và văn bản dưới Luật, được trích từ
trang web chính thức của Chính phủ và các sách Luật đã được xuất bản. Ngoài ra, các

lý công ty cổ phần.

9


CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CÔNG TY
CỔ PHẦN VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC, QUẢN LÝ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN

1.1. Khái quát chung về công ty cổ phần và cơ cấu tổ chức, quản lý trong công ty
cổ phần
1.1.1. Công ty cổ phần
1.1.1.1. Khái niệm công ty cổ phần
Vào đầu thế kỷ XVII và đến nửa sau thế kỷ XIX, nhiều phát minh mới xuất hiện
đã giúp các nước phương Tây chuyển từ công nghiệp nhẹ sang công nghiệp nặng.
Thêm vào đó là sự phát triển của quan hệ tín dụng. Kết quả là sự ra đời của một hình
thức kinh tế mới, đó là công ty cổ phần. Công ty cổ phần là một xí nghiệp mà vốn của
nó do nhiều người tham gia góp dưới hình thức mua cổ phiếu. Công ty cổ phần là sản
phẩm tất yếu của quá trình xã hội hoá về kinh tế xã hội và cũng là sản phẩm tất yếu
của quá trình tích tụ và tập trung hoá sản xuất.
Cổ phiếu của công ty cổ phần là một loại chứng khoán có giá, bảo đảm cho cổ
đông được quyền lĩnh một phần thu nhập từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty thông qua lợi tức cổ phiếu (thu nhập từ cổ phiếu). Người chủ sở hữu cổ phiếu
là cổ đông, các cổ đông là chủ của công ty và họ có quyền tham dự các đại hội cổ
đông, hưởng lợi tức cổ phiếu, chuyển nhượng cổ phần, đầu phiếu.
Như vậy, công ty cổ phần đã thực hiện được việc tách quan hệ sở hữu khỏi quá
trình kinh doanh, tách quyền sở hữu với quyền quản lý và sử dụng. từ đó, nó tạo nên
một hình thái xã hội hoá sở hữu giữa một bên là đông đảo quần chúng với một bên là
tầng lớp các nhà quản trị kinh doanh chuyên nghiệp sử dụng tư bản xã hội cho các kế
hoạch kinh doanh quy mô lớn. Những người đóng vai trò sở hữu trong công ty cổ phần
không trực tiếp đứng ra kinh doanh mà uỷ thác cho bộ máy quản lý của công ty. Trong

cũng quy định các cá nhân, tổ chức không được tham gia vào công ty cổ phần tại
khoản 2, khoản 3 Điều 18:
2. Tổ chức, cá nhân sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp
tại Việt Nam:…
3. Tổ chức, cá nhân có quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào công
ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này, trừ
trường hợp sau đây:…
Quyền sở hữu cổ phần là căn cứ xác lập tư cách cổ đông của các thành viên. Cổ đông
của công ty cổ phần thường rất lớn về số lượng và không quen biết nhau. Là loại hình đặc
trưng cho công ty đối vốn nên công ty cổ phần có sự liên kết của nhiều thành viên.

11


b. Về vốn
Theo Luật Doanh nghiệp 2014 tại điều 111 khoản 1 đưa ra khái niệm về vốn của
công ty cổ phần: “Vốn điều lệ công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán
các loại. Vốn điều lệ của công ty cổ phần tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp
là tổng giá trị mệnh giá cổ phần các loại đã được đăng ký mua và được ghi trong Điều
lệ công ty.”
Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổ phiếu. Một cổ
phiếu có thể phản ánh mệnh giá của một hoặc nhiều cổ phần. Việc góp vốn vào công ty
được thực hiện bằng cách mua cổ phần, mỗi cổ đông có thể mua nhiều cổ phần. Các cổ
đông của công ty có thể là các cá nhân hoặc các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội có tư
cách pháp nhân. Nhưng điều quan trọng là các cá nhân hay các tổ chức tham gia góp
vốn phải độc lập về vốn, nghĩa là họ phải có quyền tự quyết định đối với phần vốn của
mình, họ phải là người chủ sở hữu phần vốn đó. Nói cách khác họ phải là những người
sở hữu vốn độc lập.
Ngoài ra ở công ty cổ phần, các cổ đông được quyền tự do chuyển nhượng cổ

chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban
kiểm soát;
b) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.
Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc
lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị. Các thành viên độc lập
thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều
hành công ty.
2. Trường hợp chỉ có một người đại diện theo pháp luật, thì Chủ tịch Hội đồng
quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của
công ty; trường hợp Điều lệ không có quy định khác thì Chủ tịch Hội đồng quản trị là
người đại diện theo pháp luật của công ty. Trường hợp có hơn một người đại diện theo
pháp luật, thì Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đương
nhiên là người đại diện theo pháp luật của công ty.
1.1.2. Cơ cấu tổ chức, quản lý trong công ty cổ phần
1.1.2.1. Khái niệm cơ cấu tổ chức, quản lý trong công ty cổ phần
Dưới góc độ luật học, có thể đưa ra khái niệm: “Tổ chức và quản lý công ty là hệ
thống các thiết chế, theo đó việc tổ chức quản lý công ty được thực hiện trên cơ sở
phân định rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của các chủ sở hữu, người quản lý, những người
có lợi ích liên quan, và các phương pháp áp dụng theo một trình tự thủ tục nhằm đảm
bảo tổ chức và hoạt động công ty một cách hiệu quả nhất”. Tổ chức, quản lý trong

13


công ty cổ phần là một bộ phận của quản lý tổ chức của công ty. Từ đó, ta có thể đưa
ra định nghĩa: “Quản lý và tổ chức công ty cổ phần là một hệ thống các cơ chế mà các
chủ sở hữu đặt ra trên cơ sở các quy định vè chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng
bộ phận trong bộ máy quản lý, nguyên tắc hoạt động và thủ tục thông qua các quyết
định”. Trong đó bao gồm hai công việc là quản lý công ty cổ phần và tổ chức công ty
cổ phần. Việc quản lý và tổ chức công ty cổ phần bao gồm rất nhiều nội dung, trong đó

lý của công ty cổ phần.
1.2. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh về cơ cấu tổ chức, quản lý
14


công ty cổ phần
1.2.1. Cơ sở ban hành pháp luật về điều chỉnh về cơ cấu tổ chức, quản lý trong
công ty cổ phần
Bối cảnh kinh tế - xã hội: Việt Nam bắt đầu thực hiện đổi mới từ nửa cuối thập
niên 1980, với mong muốn xóa bỏ dần cơ cấu bao cấp, quan liêu của nền kinh tế kế
hoạch hóa, phát triển nền kinh tế năng động và hiện đại hơn. Một chủ trương lớn của
Chính phủ Việt Nam là hướng đến tự do hóa thương mại và thúc đẩy kinh tế tư nhân.
Đặc biệt là vào thời điểm Việt Nam đang tích cực đàm phán để gia nhập tổ chức
thương mại thế giới WTO thì một trong những yêu cầu được đặt ra là phải tạo ra môi
trường pháp lý lành mạnh, đảm bảo cho các chủ thể được tự do kinh doanh. Trước yêu
cầu đó, Luật Doanh nghiệp 2005 ra đời và hiện nay là Luật Doanh nghiệp 2014 đã tạo
ra một “sân chơi” bình đẳng cho các doanh nghiệp.
Trong quá trình hoạt động, công ty không chỉ chịu sự điều chỉnh của văn bản
pháp luật có liên quan mà còn chịu sự điều chỉnh của Điều lệ công ty. Đối với việc tổ
chức, quản lý công ty cổ phần cũng vậy. Văn bản quy phạm pháp luật đưa ra các quy
định chung nhất về tổ chức, quản lý CTCP, còn Điều lệ công ty được coi là sự cụ thể
hóa quy định của Luật vào trong điều kiện thực tế của công ty, do người sáng lập công
ty và các cổ đông thống nhất soạn thảo, nội dung trong Điều lệ công ty không được
trái với quy định của Luật.
Các văn bản Luật và dưới Luật do Nhà nước CHXHCN Việt Nam ban hành:
Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2014: là nguồn luật chủ yếu điều chỉnh việc thành
lập, tổ chức, quản lý và hoạt động của CTCP. Luật Doanh nghiệp 2014 có 213 điều
khoản, trong đó có 61 điều khoản quy định riêng về CTCP, giúp cho CTCP có định
hướng chính xác trong quá trình hoạt động
Các văn bản Luật chuyên ngành: Luật Các tổ chức tín dụng 2010, Luật Chứng


Quyết định tài chính của công ty: quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng
loại được quyền chào bán, quyết định mức cổ tức hằng năm của từng loại cổ phần, trừ
trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác; quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có
giá trị bằng hoặc lớn hơn 35%…; quyết định mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã bán
của mỗi loại.



Quyết định lãnh đạo công ty: bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT, thành
viên BKS; xem xét và xử lý các vi phạm của HĐQT, BKS gây thiệt hại cho công ty và
cổ đông công ty.
Về tiêu chuẩn và số lượng thành viên của HĐQT được quy định tại Điều 151
Luật Doanh nghiệp 2014
1.2.2.3. Quy định pháp luật về Giám đốc hoặc Tổng giám đốc
Điều 157 Luật Doanh nghiệp 2014 đã có quy định cụ thể về GĐ/TGĐ. Theo đó,
GĐ/TGĐ được HĐQT bổ nhiệm, bãi nhiệm hoặc cách chức, họ có thể là thành viên
của HĐQT hoặc là người khác do HĐQT thuê. GĐ/TGĐ là người điều hành công việc
kinh doanh hằng ngày của công ty; chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị và chịu

16


trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và
nhiệm vụ được giao.Nhiệm kỳ của GĐ/TGĐ không quá năm năm và có thể được bổ
nhiệm lại với số nhiệm kỳ không hạn chế, GĐ/TGĐ không được đồng thời là
GĐ/TGĐ của doanh nghiệp khác.
Quyền và nhiệm vụ của GĐ/TGĐ: GĐ/TGĐ có hai nhóm quyền chủ yếu là
quyền kiến nghị lên HĐQT và quyền quyết định các vấn đề liên quan đến công việc
kinh doanh hàng ngày của công ty mà không cần quyết định của HĐQT.

bản QPPL còn phải đảm bảo hài hòa lợi ích của toàn xã hội. Chính sự phù hợp của văn
bản QPPL với các yếu tố nói trên là điều kiện quan trọng để đảm bảo văn bản được
chấp nhậ trong thực tiễn. Một trong những yêu cầu quan trọng nhất của các văn bản
QPPL chính là tính khả thi.
Tính khả thi của các văn bản QPPL thể hiện ở việc Luật phải có khả năng thực
hiện được trong điều kiện kinh tế, xã hội hiện tại, có khả năng đi vào cuộc sống. Để
đảm bảo được yêu cầu đó đòi hỏi các văn bản QPPL không chỉ điều chỉnh vấn đề hiện
tại mà còn phải đáp ứng được tính dự báo cho tương lai và đảm bảo tính ổn định. Do
vậy, làm thế nào để ban hành văn bản QPPL có tính khả thi là vấn đề đặt ra với các cơ
quan chức năng.
Tính minh bạch trước hết là nhằm bảo đảm bản chất dân chủ của xã hội, thể hiện
quyền của cổ đông trong việc tham gia quản lý công ty. Minh bạch cũng là một giải
pháp rất quan trọng để khắc phục tệ quan liêu tham nhũng, làm trong sạch bộ máy
quản lý. Minh bạch trong quản lý cũng là điều kiện không thể thiếu để bộ máy công ty
tiếp thu trí tuệ của cổ đông đóng góp cho các hoạt động quản lý. Minh bạch cũng là
một yêu cầu cần thiết để thành công trong hội nhập quốc tế

18


CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ
QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN – THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN TƯ VẤN QUẢN LÝ DỰ ÁN VPM – HÀ NỘI
2.1. Tổng quan về công ty cổ phần tư vấn quản lý dự án VPM Hà Nội và các nhân
tố ảnh hưởng đến pháp luật về quản lý tại công tycổ phần tư vấn quản lý dự án
VPM Hà Nội
2.1.1. Tổng quan về công ty cổ phần tư vấn quản lý dự án VPM Hà Nội
Công ty cổ phần tư vấn quản lý dự án VPM Hà Nội (VPM)Tiền thân là “ Trung
tâm tư vấn Quản lý chất lượng xây dựng” trực thuộc Công ty cổ phần Tư vấn thiết kế
Vinaconex Xuân Mai. Sau một thời gian xây dựng và phát triển, để phù hợp với tình

19


VPM có tổ chức bộ máy gọn nhẹ, hiệu quả, đội ngũ cán bộ năng động, nhiệt huyết, có
trình độ chuyên môn trong lĩnh vực hoạt động. Dù là một công ty chưa thực sự lớn,
quá trình hoạt động chưa lâu nhưng thông qua các dự án công ty đã và đang triển khai
thì công ty đều được khách hàng đánh giá cao, tin tưởng và tiếp tục giao thực hiện các
công tác tư vấn quản lý dự án, tư vấn giám sát và thi công xây dựng
2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức, quản lý tại công ty cổ phần tư
vấn quản lý dự án VPM Hà Nội
- Chính trị, pháp luật: các yếu tố thuộc môi trường chính trị và luật pháp tác động
mạnh mẽ đến việc hình thành và khai thác cơ hội kinh doanh và thực hiện mục tiêu
của doanh nghiệp, ổn định chính trị là tiền đề quan trọng, cho hoạt động kinh doanh,
thay đổi về chính trị có thể gây ảnh hưởng có lợi cho nhóm doanh nghiệp này hoặc
kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp, tránh tình trạng gian lận, buôn lậu… Mức độ
ổn định về chính trị và luật pháp của một quốc gia cho phép doanh nghiệp có thể đánh
giá được mức độ rủi ro và ảnh hưởng của nó đến doanh nghiệp như thế nào, doanh
nghiệp theo đó có thể điều chỉnh lại cơ cấu tổ chức, quản lý của công ty cho phù hợp
với điều kiện chính trị, pháp luật.
- Điều lệ công ty: Trong quá trình hoạt động, công ty không chỉ chịu sự điều
chỉnh của văn bản pháp luật có liên quan mà còn chịu sự điều chỉnh của Điều lệ công
ty. Đối với việc quản trị công ty cổ phần cũng vậy. Văn bản quy phạm pháp luật đưa ra
các quy định chung nhất về quản trị CTCP, còn Điều lệ công ty được coi là sự cụ thể
hóa quy định của Luật vào trong điều kiện thực tế của công ty, do người sáng lập công
ty và các cổ đông thống nhất soạn thảo, nội dung trong Điều lệ công ty không được
trái với quy định của Luật.
Điều lệ có thể hiểu là bản thỏa thuận giữa những người sáng lập công ty với các
cổ đông và giữa các cổ đông với nhau cùng được soạn căn cứ trên những khuôn mẫu
chung của luật pháp để ấn định cách tạo lập, hoạt động và giải thể của doanh nghiệp.
Theo Điều 25 Luật doanh nghiệp 2014 quy định về nội dung Điều lệ công ty gồm:

ty không quy định một tỷ lệ hoặc một giá trị khác;
đ) Quyết định sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;
e) Thông qua báo cáo tài chính hằng năm;
g) Quyết định mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã bán của mỗi loại;
h) Xem xét và xử lý các vi phạm của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát gây thiệt
hại cho công ty và cổ đông công ty;
i) Quyết định tổ chức lại, giải thể công ty;
k) Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.

21


Theo điều này, Luật Doanh nghiệp 2014 đã khẳng định rõ được quyền của Đại
hội đồng cổ đông bao gồm quyền biểu quyết, là nơi đưa ra quyết định cao nhất, thông
qua các định hướng phát triển công ty, bầu và miễn nhiệm các thành viên trong Hội
đồng quản trị cũng như kiểm soát viên, ra các quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có
giá trị lớn hơn hoặc bằng 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính,
quyết định và bổ sung các điều lệ trong công ty, thông qua các báo cáo… đi kèm với
quyền cũng là nghĩa vụ đối với các Đại hội đồng cổ đông. Đại hội đồng cổ đông cần
đưa ra những quyết định sáng suốt cũng như tuân thủ đúng pháp luật đã đề ra.
2.1.1.1 Chuẩn bị và thẩm quyền triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông:
Bởi vì đại hội đồng cổ đông là nơi đưa ra những quyết định quan trọng nhất của
công ty nên Đại hội đồng cổ đông ngoài những cuộc họp thường niên diễn ra một năm
một lần thì còn có những cuộc họp bất thường. điều này được quy định cụ thể tại
Khoản 1 Điều 136 của Luật Doanh nghiệp 2014: “Đại hội đồng cổ đông họp thường
niên mỗi năm một lần. Ngoài cuộc họp thường niên, Đại hội đồng cổ đông có thể họp
bất thường. Địa điểm họp Đại hội đồng cổ đông phải ở trên lãnh thổ Việt Nam.
Trường hợp cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tổ chức đồng thời ở nhiều địa điểm
khác nhau thì địa điểm họp Đại hội đồng cổ đông được xác định là nơi chủ tọa tham
dự họp.”

trường hợp doanh nghiệp có trang thông tin điện tử thì việc gửi tài liệu họp theo thông
báo mời họp có thể thay thế bằng việc đăng tải lên trang thông tin điện tử của công ty.
Về quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông, Luật Doanh nghiệp 2014 đã thêm một số hình
thức khác được coi là tham dự và biểu quyết tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông như bỏ
phiếu điện tử, thông qua thư fax thay vì phải uỷ quyền cho người đại diện tham dự họp
Đại hội đồng cổ đông như Luật Doanh nghiệp 2005.
2.1.1.2 Tiến hành cuộc họp Đại hội đồng cổ đông:
Về điều kiện tiến hành cuộc họp, Luật Doanh Nghiệp 2014 quy định tại Điều 141
như sau:
Điều 141. Điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông
1. Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại
diện ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định.
2. Trường hợp cuộc họp lần thứ nhất không đủ điều kiện tiến hành theo quy định
tại khoản 1 Điều này thì được triệu tập họp lần thứ hai trong thời hạn 30 ngày, kể từ
ngày dự định họp lần thứ nhất, nếu Điều lệ công ty không quy định khác. Cuộc họp
của Đại hội đồng cổ đông triệu tập lần thứ hai được tiến hành khi có số cổ đông dự
họp đại diện ít nhất 33% tổng số phiếu biểu quyết; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy
định.

23


3. Trường hợp cuộc họp triệu tập lần thứ hai không đủ điều kiện tiến hành theo
quy định tại khoản 2 Điều này thì được triệu tập họp lần thứ ba trong thời hạn 20
ngày, kể từ ngày dự định họp lần thứ hai, nếu Điều lệ công ty không quy định
khác. Trường hợp này, cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông được tiến hành không phụ
thuộc vào tổng số phiếu biểu quyết của các cổ đông dự họp.
4. Chỉ có Đại hội đồng cổ đông mới có quyền quyết định thay đổi chương trình
họp đã được gửi kèm theo thông báo mời họp theo quy định tại Điều 139 của Luật
này.

quyết được áp dụng khi quyết định đầu tư, tài sản bị bán có giá trị lớn hơn hoặc bằng
50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, hoặc
một tỷ lệ, giá trị khác do Điều lệ công ty quy định đối với các quyết định đầu tư hoặc
bán tài sản này.
Điều kiện để nghị quyết được thông qua được tách hẳn ra làm Điều 144 của Luật
Doanh nghiệp 2014 thay vì gộp hình thức với điều kiện của Điều 104 Luật Doanh
nghiệp 2005 nghị quyết ở một số nội dung cụ thể tại Khoản 1 Điều 144 Luật Doanh
nghiệp 2014 cần 65% số phiếu tán thành (thay vì 75% theo Luật Doanh nghiệp 2005)
còn các nghị quyết còn lại chỉ cần 51% để được thông qua số phiếu tán thành (thay vì
65%). Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp 2014 còn bổ sung quy định về cách thức xác định
người trúng cử thành viên Hội đồng quản trị hoặc Kiểm soát viên sau khi có kết quả
theo phương thức bầu dồn phiếu. Thời hạn lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản, Hội đồng
quản trị gửi đến tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết phiếu lấy ý kiến, dự thảo nghị
quyết và các tài liệu giải trình chậm nhất 10 ngày trước thời hạn phải gửi lại phiếu lấy
ý kiến. Luật Doanh nghiệp 2014 bổ sung thêm hình thức gửi fax hoặc thư điện tử để cổ
đông gửi phiếu lấy ý kiến đã trả lời đến công ty. Biên bản kiểm phiếu, nội dung biên
bản theo quy định mới của Luật Doanh nghiệp 2014 phải bao gồm thêm phương thức
gửi biểu quyết. Đồng thời, người kiểm phiếu cùng các thành viên Hội đồng quản trị và
người giám sát kiểm phiếu sẽ phải liên đới chịu trách nhiệm về tính trung thực và
chính xác của biên bản kiểm phiếu. Luật Doanh nghiệp 2014 cho phép đăng tải biên
bản kiểm phiếu lên trang thông tin điện tử của công ty thay cho việc gửi đến các cổ
đông. Biên bản kiểm phiếu có thể lập bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài đều có hiệu
lực pháp lý như nhau. Nếu có sự khác nhau về nội dung thì bản tiếng Việt có hiệu lực
áp dụng.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status